Hôm nay,  

Đôi mắt người xưa

06/07/201918:02:00(Xem: 5694)

Hồ Thanh Nhã

 

 

                Đôi mắt người xưa

 

Đôi mắt nầy từng gặp đâu đây?

Bàn kia..ai lén ngó bên nầy

Đồng hương sum hợp mừng Xuân mới

Đất khách còn vui một bữa nầy

 

Em có phải là em năm xưa?

Nắng vui màu áo lụa sang mùa

Là em…mau quá đôi hàng lệ

Dưới mái trường xưa lúc cợt đùa

 

Em có phải người xưa Bến Tre?

Trong xanh màu mắt dáng Thu về

Đùa chi cơn gió vô duyên quá

Để tóc vương đầy mấy lá me

 

Mới quen anh cũng tập làm thơ

Ôm hết trăng sao dệt mộng hờ

Thì ra anh đã hư từ nhỏ

Cho đến ngàn sau vẫn dại khờ

 

Mùa Xuân về trên sông Hàm Luông

Nắng không đủ sáng cả khu vườn

Long lanh đôi mắt nhìn trong tối

Chỉ rõ lòng anh một nẻo đường

 

Mùa Hạ về sương đọng lá sen

Là em son phấn đủ làm duyên

Là em trinh bạch từ đôi guốc

Lòng ấm qua từng đợt gió lên

 

Mùa Thu về trên hàng me xanh

Thương em áo lụa màu thiên thanh

Điểm trăm cánh nhỏ hoa hàm tiếu

Khéo một đường may sợi chỉ mành

 

Mùa Đông về trên cành sê ri

Đỏ tươi chùm trái…ước mơ gì?

Cánh thư thay một lời tâm sự

Lặng lẽ bên đời nỗi biệt ly

 

Ba mươi năm mỏi cánh làm chim

Vẫn như ngày ấy vẫn đi tìm

Tóc xanh một thuở bồng trong gió

Nay muối trên đầu…điểm điểm thêm

 

Tìm đâu ra đôi mắt người xưa?

Lắm khi chợt nhớ lúc giao mùa

Nửa đêm thức giấc làm tan mộng

Thì cứ coi là gió thoảng đưa

 

Có phải là em buổi gặp nầy?

Chân trời xa một cánh chim bay

Trông quen mà tưởng chừng xa lạ

Cách biệt nhau bằng…một với tay

 

                 Hồ Thanh Nhã

 

 

 

Sông Hàm Luông và Tỉnh Bến Tre.

 

Hàm Luông là con sông lớn chảy trọn vẹn trên đất Bến Tre, là ranh giới tự nhiên giữa 2 cù lao Bảo và cù lao Minh, sông dài 70 km. Lòng sông sâu từ 12 đến 15 mét, rộng trung bình từ 1,200 đến 1,500 mét, riêng đoạn gần cửa biển rộng đến hơn 3,000 mét.Chính vì thế sông Hàm Luông có lưu lượng nước dồi dào nhất so với các sông khác của tỉnh Bến Tre. Nó góp phần tạo nên sự trù phú của các huyện Chợ Lách, Châu Thành, Mõ Cày, Giồng Trôm, Ba Tri và Thị xã Bến Tre, nay là thành phố Bến Tre. Trên sông có những cù lao hoặc cồn đất nổi tiếng như cù lao Tiên Long, cù lao Thanh Tân, cù lao Lăng, cù lao Ốc, cù lao Đất, cồn Hố, cồn Lợi …

                        

Địa hình tỉnh Bến tre :

Bến Tre là 1 trong 13 tỉnh đồng bằng sông Cửu  Long có diện tích tự nhiên là 2,360 km vuông. Được hình thành bởi 3 cù lao : An Hóa, cù lao Bảo và cù lao Minh và do phù sa 4 nhánh sông Cửu Long bồi đắp mà thành. Gồm có các sông Tiền dài 83 km, sông Ba Lai dài 59 km, sông Hàm Luông dài 71 km và sông Cổ Chiên dài 82 km.

Địa hình tỉnh Bến Tre bằng phẳng, rải rác những giồng cát xen với ruông vườn, không có rừng cây lớn. Chỉ có một số rừng chồi và những dãy rừng ngập măn ở ven biển.

Bến Tre có một hệ thống kinh rạch chằng chịt khoảng 6,000 km, đan vào nhau chở nặng phù sa chảy khắp 3 dãy cù lao, tạo thành một lợi thế phát triễn giao thông đường thủy, phát triển kinh tế biển, kinh tế vườn và trao đổi hàng hóa với thành phố Sài Gòn và các tỉnh lân cận

                           Còn đâu thấp thoáng buồm no gió

                           Xuôi ngược trường giang những mảnh đời.

Song song với hệ thống đường thủy, thì hệ thống giao thông đường bộ cũng có một vị trí rất đặc biệt Bây giờ tỉnh Bến Tre đã được nối liền thông suốt với thành phố Sài Gòn và các tỉnh lân cận miền Tây bởi các cây cầu bắc ngang qua các sông lớn. Đó là cây cầu Rạch Miễu, một công trình thế kỷ, là niềm mơ ước của nhiều thế hệ từ xưa đến nay, nối liền 2 bờ sông Tiền từ Mỹ Tho sang Bến Tre.Đó cũng là cầu Hàm Luông nối liền cù lao Bảo và cù lao Minh..Hệ thống đường bộ thông suốt nầy là những điều kiện giúp cho những tiềm năng kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Bến Tre được khơi dậy và phát triễn càng ngày càng mạnh mẻ hơn và cũng giúp cho đời sống người dân Bến Tre phong phú hơn. Sau đây mời độc giả thưởng thức tiếp một bài thơ khác của tác giả :

 

                Hải âu

 

Cuối cùng rồi cũng chia tay

Cà phê giọt ngắn giọt dài nhớ thương

Anh về trong cõi mù sương

Đèn đêm xa lộ chập chờn bóng em

Hải âu mỏi cánh đi tìm

Mùa tôm chưa tới im lìm biển xanh

Giòng xe về Bắc quanh quanh

Đằng sau bỏ lại cuộc tình dở dang

Gặp nhau giờ quá muộn màng

Chào em…chim biển từng đàn ăn đêm

Chào em áo mỏng môi mềm

Vòng tay lái cũng còn thèm thịt da

Anh về Santa Ana

Sau lưng còn vẳng lời ca giã từ

Anh về trong lớp sương mù

Giòng xe chạy ngược đêm chừ mỏi mê

Chào em hai lối đi về

Đời hai lối rẽ đam mê hết rồi

Có ngôi sao tắt lưng trời

Anh như chim biển trọn đời lẻ loi …

 

                   Hồ Thanh Nhã

 

 

 

Toàn là thần chú và phép lạ cả. Điều mầu nhiệm là tuy chỉ được ăn bánh vẽ nhưng cả nước vẫn không ai kêu đói, và có người còn tấm tắc khen ngon. Mầu nhiệm hơn nữa là một dân tộc dễ chịu (và dễ dậy) tới cỡ đó mà vẫn sống sót được mãi cho đến đầu thế kỷ này.
Năm 2013, khi Tập Cận Bình nắm giữ hai chức vụ cao nhất trong đảng và chính quyền, với tham vọng lớn lao khi vạch ra cái bẫy “Nhất Đới Nhất Lộ”, nhằm thôn tính, quy về một mối từ kinh tế lẫn chính trị. Trung Quốc bỏ ra hàng nghìn tỷ Mỹ kim để ve vản, hối lộ quan chức thẩm quyền của các nước đồng lõa ký kết những dự án xây dựng. Bị sa vào bẫy nợ bao nhiêu, bị lệ thuộc vào Trung Cộng bấy nhiêu, từ thuê mướn trở thành đặc khu (lãnh địa của Trung Quốc) với 99 năm.
Vấn đề kỳ thị chủng tộc là chuyện rất bình thường ở đâu cũng có hết. Là người Việt sống tại hải ngoại chúng ta cũng không thể thoát ra khỏi vấn đề nầy. Tuy nhiên sự kỳ thị có ảnh hưởng nhiều hay ít đến nạn nhân hay không cũng còn tùy thuộc một phần lớn vào thái độ và cách suy nghĩ của mỗi người.
Vài năm vừa qua, giới quan sát quốc tế và quốc nội Hoa Kỳ đều nhận ra một điều là chính sách của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc ngày nay có xu hướng thiên về mặt cứng rắn hơn. Hầu hết các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ đều có một ý nghĩ chung là phải áp dụng một chính sách mới hầu giảm thiểu hoặc chí ít hạn chế tính cách hung hăng càng ngày càng trở nên rõ rệt của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) dưới quyền lãnh đạo của lãnh tụ tối cao, Chủ tịch nhà nước kiêm Tổng Bí thư Tập Cận Bình. Tình trạng căng thẳng giữa hai siêu cường, cộng thêm áp lực do trận đại dịch Covid-19 và kinh tế suy thoái, rất có thể sẽ khiến cái bề mặt tưởng chắc chắn như tường đồng vách sắt của Tập và Bắc Kinh có cơ rạn nứt.
Nhân dịp kỷ niệm 45 năm ngày 30 tháng 4 năm 1975, kết thúc chiến tranh Việt Nam và bắt đầu cuộc di cư tị nạn Việt Nam, tôi muốn chia sẻ một vài lời về sự kiên cường của chúng ta là người Mỹ gốc Việt, là người tị nạn và con cháu của người tị nạn. Cảm giác thế nào khi nền tảng của thế giới chúng ta đang sống bị rung chuyển đến mức chúng ta không còn biết mình đang đứng ở đâu hay làm thế nào để tiến về phía trước? Trước năm 2020, trước đại dịch COVID-19, chỉ những người đã chịu những bi kịch lớn mới có thể trả lời câu hỏi này. Bây giờ tất cả chúng ta đang sống với nó.
Nhưng vấn đề không đơn giản như họ nghĩ để buộc người miền Nam phải làm theo vì không còn lựa chọn nào khác. Trong 45 năm qua, ai cũng biết nhà nước CSVN đã đối xử kỳ thị và bất xứng với nhân dân miền Nam trên nhiều lĩnh vực. Từ công ăn việc làm đến bảo vệ sức khỏe, di trú và giáo dục, lý lịch cá nhân của người miền Nam đã bị “phanh thây xẻ thịt” đến 3 đời (Ông bà, cha mẹ, anh em) để moi xét, hạch hỏi và làm tiền.
Trong thực tế, một người tận mắt chứng kiến cảnh chiến xa CS chạy vào dinh Độc Lập ngày 30-4-1975, kể lại đầu đuôi câu chuyện cho người viết bài nầy rất rõ ràng và hoàn toàn khác với sách vở CS đã viết. Đó là giáo sư tiến sĩ Đỗ Văn Thành, hiện nay đang giảng dạy tại đại học Oslo, Na Uy (Norway).
Đến nay, đối với đồng bào ở trong nước và cộng đồng người Việt ở hải ngoại kể từ 30-4-1975, sau 45 năm, những ngày ấy, những năm tháng ấy, không bom đạn trên đầu, nhưng sao trong lòng của mỗi chúng ta cứ lo âu, xao xuyến, sục sôi những chuyển đổi. Không sục sôi chuyển đổi sao được, những tiến bộ Khoa học Công nghệ 4.0, nhất là sự tiến bộ của điện toán, của hệ thống truyền thông, thông tin vượt tất cả mọi kiểm soát, vượt mọi tường lửa, thế giới phô bày trước mắt loài người, trước mặt 90 triệu đồng bào Việt Nam, những cái hay cũng như những cái dỡ của nó một cách phũ phàng.
“Bà X khoảng bốn mươi tuổi, hiện đang sống với chồng và con gái trong một căn nhà do chính họ làm chủ, ở California. Bà nói thông thạo hai thứ tiếng: Anh và Việt. Phục sức giản dị, trông buồn bã và lo lắng, bà X tuy dè dặt nhưng hoàn toàn thành thật khi trả lời mọi câu hỏi được đặt ra. “Bà rời khỏi Việt Nam vào năm 1980, khi còn là một cô bé, cùng với chị và anh rể. Ghe bị cướp ba lần, trong khi lênh đênh trong vịnh Thái Lan. Chị bà X bị hãm hiếp ngay lần thứ nhất. Khi người anh của bà X xông vào cứu vợ, ông bị đập búa vào đầu và xô xuống biển. Lần thứ hai, mọi chuyện diễn tiến cũng gần như lần đầu. Riêng lần cuối, khi bỏ đi, đám hải tặc còn bắt theo theo mấy thiếu nữ trẻ nhất trên thuyền. Chị bà X là một trong những người này.
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.