Hôm nay,  

Hộp mắm kho

17/08/201915:35:00(Xem: 4916)

Hồ Thanh Nhã

 

                                  Hộp mắm kho

  

Nè cháu! Đừng hâm!

Con bé Loan le lưỡi mĩm cười

Rút vội hộp mắm kho

Khỏi Microwave bốc khói

Mùi mắm thơm lừng

Làm  tôi thấy đói

Con bé du học sinh vừa mới ra trường

Nhớ quê hương

Không tiền về nước

Đem mắm kho ăn lén

Trong giờ lunch

Cho đỡ nhớ giòng Ba lai nước đục

Nhớ mẹ nhớ em từ cuối chân trời

Hai chú cháu

Nhìn nhau thông cảm mĩm cười

Ăn xong tôi mỡ cửa bước ra ngoài

Bà Mỹ già xếp hàng chờ tới lượt

Đưa mắt hỏi tôi

Hình như có mùi gì khủng khiếp ?

Tôi mắc cở trả lời

Chắc mùi ống cống cạnh nhà bank

Rồi đi luôn không dám nói thêm gì

Vài phút sau

Cũng chẳng còn ai nhắc chi

Đến mùi mắm kho trong nhà bank nước Mỹ

Nhưng tôi nhớ hoài

Có lẽ đến nhiều năm

Mấy bữa sau

Phòng lunch cũng chỉ có hai người

Con bé lại mang vào

Hộp cá kèo kho tộ với rau răm

Lần nầy không dám hâm

Nhìn con bé ăn ngon lành

Với hộp cơm gạo nàng Hương bốc khói

Tôi nuốt nước miếng thèm thuồng

Thấy nó ăn hình như mình cũng đói

Ôi! Cái con bé nầy ăn chi mà cắt cớ

Toàn những món tầm thường

Hằng bữa quê hương

Tôi nhìn bữa lunch con bé

Cười mĩm hỏi đùa

Cháu có người yêu chưa ?

Con bé hai mươi ngước mắt ngây thơ

Chi vậy chú ?

Đi với người yêu mà ăn uống thế nầy

Lúc âu yếm làm sao hôn được ?

Con bé thẹn thùng

Nhìn sang hướng khác

Tôi chợt thấy một trời bát ngát quê hương

Mùa mưa Bến Tre

Nước ngập sau vườn

Con nước rông đợt Rằm

Tràn bờ đục nước phù sa rạch nhỏ

Mẹ nấu cơm chiều

Con hơ tay sưởi ấm

Bữa cơm chiều ôi sao mà ảm đạm

Chỉ có tô canh nghèo tép vụn nấu mồng tơi

Cũng có khi

Rau tập tàng mấy thứ

Hái vườn sau mà sao quá là ngon

Hơn hai mươi năm viễn xứ dép giày mòn

Nếm đủ món Tây-Tàu-Mễ-Thái

Cho đến bây giờ tôi mới thấy

Không đâu bằng

Cơm gạo mới thơm lừng

Ăn với tô nước mắm kho khô quẹt

Những chiều mưa gió

Chắc còn hơn mỹ vị nhà vua

Hai tiếng quê hương như điệu hò nức nở

Ngàn năm sau chưa chắc có người quên

  

                                 Hồ Thanh Nhã

  

            Mắm thái Châu Đốc
 

Nếu có dịp về Châu Đốc thăm thắng cảnh Núi Sam, chắc ai cũng nghe nhắc đến  món đặc sản của vùng sông nước Nam bộ : đó là món mắm thái Châu Đốc.Du khách khó lòng mà quên được món ăn nầy nếu được một lần nếm món mắm thái cùng thịt ba chỉ   luộc với bún tươi, rau thơm. Vị thơm của mắm cá lóc thái mỏng, vị béo của thịt ba chỉ, hương thơm của rau và vị nồng của gừng xắc nhuyển sẽ làm du khách nhớ hoài đến miền đất nầy.

 

Mắm thái là món ăn lâu đời và nó cũng là đặc sản của vùng Châu Đốc – An Giang.Tại đây mắm thái thương hiệu Bà giáo Khỏe là một thương hiệu đặc trưng và rất nhiều người chọn mua để thưởng thức hoặc làm quà tặng cho người thân. Những cọng đu đủ giòn giòn, thịt cá lóc tan trong miêng, ăn thêm vài cọng rau sống,cắn một miếng ớt nữa thì mới thấy nó ngon làm sao ?

Thành phần chính của mắm thái là thịt cá lóc thái mỏng, đu đủ vàng ươm và gia vị cần thiết như thính gạo rang. Đại loại như thế, nhưng không phải ai cũng làm nên một mẻ mắm ngon được. Phải có bí quyết và kinh nghiệm gia truyền.Mắm thái thường dùng chung với thịt ba chỉ, bánh tráng, bún tươi, rau sống, khế xắc lát mỏng, chuối chát và chấm với nước chấm mà bạn thích, thường là mắm nêm. Văn hóa ẩm thực của người Việt nhất là ở Nam Bộ thật là đa dạng mà người nước ngoài khó lòng bắt chước được.

Hương vị mắm thái Châu Đốc lan tỏa đến cả Âu Mỹ và cả Châu Úc nữa. Điều đó mang lại niềm tự hào cho người Châu Đốc . Trong ký ức của đồng bào hải ngoại thì hình ảnh làng mắm quê hương còn lưu lại nhiều chục năm sau trong lòng người xa xứ.Bài thơ” Hộp mắm kho” bên trên là một thí dụ.Một cô bé Teller làm trong nhà Bank of America của Mỹ nhớ mùi vị quê nhà dám đem mắm kho ăn lén trong giờ lunch. Thật là hết biết! Ở quê hương, món mắm Nam Bộ đã đi vào truyền khẩu dân gian như :

                               Liệu cơm gắp mắm.

Mục đích để nhắc nhở con cháu hãy liệu sức mình, đừng quá ôm đồm, tham lam quá mà thất vọng vì việc làm quá sức mình.Hoặc mô tả cảnh đôi vợ chồng già nhà quê, sau bao năm tháng thiếu thời vất vả, cơ cực, tối đến ngồi bên ánh đèn dầu leo lét, thì thầm tâm sự về kiếp nhân sinh :

                              Con cá làm nên con mắm

                             Vợ chồng già thương lắm mình ơi!

Ý tưởng mộc mạc trên, nghĩ  mà thâm thúy,cảm động làm sao ?

 

 

 

 



 

“Bà X khoảng bốn mươi tuổi, hiện đang sống với chồng và con gái trong một căn nhà do chính họ làm chủ, ở California. Bà nói thông thạo hai thứ tiếng: Anh và Việt. Phục sức giản dị, trông buồn bã và lo lắng, bà X tuy dè dặt nhưng hoàn toàn thành thật khi trả lời mọi câu hỏi được đặt ra. “Bà rời khỏi Việt Nam vào năm 1980, khi còn là một cô bé, cùng với chị và anh rể. Ghe bị cướp ba lần, trong khi lênh đênh trong vịnh Thái Lan. Chị bà X bị hãm hiếp ngay lần thứ nhất. Khi người anh của bà X xông vào cứu vợ, ông bị đập búa vào đầu và xô xuống biển. Lần thứ hai, mọi chuyện diễn tiến cũng gần như lần đầu. Riêng lần cuối, khi bỏ đi, đám hải tặc còn bắt theo theo mấy thiếu nữ trẻ nhất trên thuyền. Chị bà X là một trong những người này.
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
Đúng vậy, sau gần nửa thế kỷ năm nhìn lại vẫn thấy biến cố 30.04.1975 xảy ra quá bất ngờ đối với toàn thể dân VN chúng ta. Bằng chứng hiển nhiên là rất nhiều cấp lãnh đạo VNCH trong chánh quyền và trong quân đội không ngờ được nên đành phải bị bắt đi tù cải tạo cả hàng chục năm để rồi chết dần mòn trong rừng thiêng nước độc. Nói chi đến người dân bình thường thiếu thông tin của cả 2 miền Nam Bắc tất cả không ai cảm thấy hoặc đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Sự thực này chúng ta có thể đọc thấy rõ trên các tài liệu của 2 miền.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.