Hôm nay,  

Cây cầu anh Tèo

24/08/201907:01:00(Xem: 13360)

Hồ Thanh Nhã

 

                                     Cây cầu anh Tèo

  

Ai đã có lần đi qua chiếc cầu treo

Cuối bản Cu Pua vùng cao Quãng Trị

Mới thấy thót tim

Mỗi lần qua suối

Hai sợi giây cáp đong đưa

Trời mưa gió núi

Nước nguồn tuôn lởm chởm đá tai mèo

Bản nhỏ dân tộc Vân kiều

Sườn núi cheo leo

Trẻ nhỏ đến trường

Người lớn lên nương

Mỗi ngày hai lượt đi về

Đã hai chục năm vượt qua đoạn đường khổ ải

Niềm mơ ước đơn sơ

Cây cầu xi măng qua suối

Khó trăm bề lớp lớp rào ngăn

Đơn gởi nhiều nơi

Cấp trên chẳng chút đoái hoài

Coi như chuyện nhỏ thường ngày dưới huyện

Một buổi sớm mai

Có người đàn ông tóc pha màu muối

Nói giọng Sài Gòn

Tìm đến nhà trưỡng bản

Họ dắt nhau ra bờ suối

Chỉ chiếc cầu giây cáp cheo leo

Tiền tôi không có bao nhiêu

Chỉ được ba mươi triệu đồng

Nếu dân bản đồng ý góp công

Thì tôi sẽ mua xi măng thép cát

Chúng ta cùng hợp tác

Chiếc cầu bê tông chắc chắn sẽ hoàn thành

Đem lại sự an toàn

Cho hai mươi sáu hộ dân trong bản

Trưỡng bản chi xiết vui mừng

Dắt  người đàn ông Sài Gòn lên xã

Và sau là phòng kinh tế huyện hạ tầng

Các nơi đều bằng lòng

Người đàn ông trở lại Sài Gòn

Trưỡng bản họp dân lập đội thi công

Đúng hẹn một tuần sau

Người đàn ông trở lại cùng hai người bạn kỹ sư

Kể cả hai xe chở đầy vật liệu

Họ bắt đầu đắp móng xây cầu ngay chiều hôm đó

Ba người cùng trộn hồ

Khiêng sắt xi măng

Phụ cùng dân bản

Mồ hôi chảy cơn gió Lào nóng bỏng

Họ vẫn tươi cười

Cả tuần lễ thi công

Trưỡng bản nhiều lần hỏi tên

Người đàn ông mĩm cười khiêm tốn

Cứ gọi tên tôi là Tèo

Không mỹ miều thêm bớt

Rồi chẳng nói gì thêm

Một cái tên như không như thật

Trong hàng triệu người dân Sài Gòn có tánh có danh

Một tuần sau cây cầu hoàn thành

Họ uống với dân bản vài ly rượu

Rồi từ giã ra về

Từ đấy chưa lần nào trở lại

Giúp một lần

Lợi ích đến trăm năm

Người bản Vân Kiều nhớ mãi

Đặt tên cây cầu giây cáp trước đây

Là cây cầu anh Tèo bê tông cốt sắt

Một cái tên vô danh mà có thật.

        Hồ Thanh Nhã

  

 Sắc tộc người  Bru – Vân Kiều ở vùng cao Quảng Trị.

 
Người Bru – Vân Kiều sống ở dọc theo dãy Trường Sơn, phía Tây các tỉnh Quảng Trị, Quảng Bình, Thừa Thiên, Huế. Mỗi làng hay bản là một điểm cư trú quần tụ. Mỗi gia đình có nhà riêng thường là nhà sàn. Người lớn nhất trong làng gọi là “ Già làng “ hay Trưỡng bản có vai trò quan trọng, điều hành các công việc hành chánh trong làng. Sự giàu nghèo của mỗi hộ dân được xác định bằng chiêng, cồng, ché, nồi đồng và trâu.

Dân số sắc tộc Bru – Vân Kiều là 74,506 người, theo số liệu tổng điều tra dân số năm 2009. Đây là sắc tộc  có nguồn gốc lâu đời nhất ở vùng Trường Sơn. Hoạt động sản xuất của sắc dân nầy là nghề nông, canh tác rẩy, trồng lúa rẩy là chính. Nông cụ đơn giản là rìu, dao quắm. cái nạo cỏ có lưởi cong. Họ phát rừng, đốt rồi chọc lổ gieo hạt giống, làm cỏ, tuốt lúa bằng tay. Họ xen canh trên từng đám rẫy kéo dài hàng năm từ tháng 3 đến tháng 10. Ngoài ra họ còn trồng thêm hoa màu phụ như bầu, cà, chuối, khoai, mía. .Rừng và sông suối cung cấp nhiều thức ăn và nhiều nguồn lợi khác. Họ cũng chăn nuôi trâu bò, lợn, gà …                   

Ngoài ra nhiều hộ cũng làm thêm các nghề thủ công như đan lát, tre, mây . khi rổi rảnh, ngoài thời vụ. 

Người Vân Kiều thích ăn các món nướng. canh thì thường nấu lẫn rau rừng với gạo, cá hoặc ếch nhái. .Họ ăn cơm tẻ hàng ngày. khi có lễ hội thì ăn cơm lam ( nếp nướng trong ống tre tươi ). Họ có thói quen ăn bốc, ít khi dùng đủa, uống nước lả, rượu cần. Nam nữ đều hút thuốc lá, tẩu bằng đất nung hoặc bằng cây le. Về trang phục thì nam đóng khố, nữ mặc váy. Còn áo thì không có tay, mặc chui đầu. Phụ nữ thường đeo các đồ trang sức như vòng ở cổ tay, khuyên tai.

Người Bru – Vân Kiều có nhiều lễ cúng khác nhau trong quá trình canh tác. Đặc biệt lễ cúng trước dịp tỉa lúa trên rẫy diễn ra như một ngày hội của dân trong bản. Lễ cúng có đâm trâu thường có trong dịp nầy. Họ ở nhà sàn phù hợp với gia đình thường gồm cha mẹ và các con chưa lập gia đình, Nhà của họ là nhà sàn có 2 mái thường lợp bằng lá mây hoặc lá cọ. /.

 



Giữa mùa đại dịch COVID-19, tại những buổi tường trình mỗi ngày, Tổng thống Mỹ Donald Trump và Phó Tổng thống Mike Pence không ngớt tiên đoán sự lớn mạnh vượt bực của kinh tế quốc gia Hoa Kỳ sau khi tình hình dịch tễ lắng đọng. Hai ông nhấn mạnh rằng kinh tế Mỹ hậu-COVID-19 sẽ tìm lại thế quân bằng sau những chao đảo khiếp hãi khiến cả 40 triệu nhân công thất nghiệp trong vòng vỏn vẹn ba tháng trời. Đầu tháng Sáu, hy vọng bắt đầu le lói khi guồng máy kinh tế rục rịch mở cửa lại, ai nấy trông đợi ánh sáng tỏa lớn cuối đường hầm.Tuy nhiên, mặc dù người ta có quyền hy vọng vào sự thịnh vượng chung, nhưng sự thật là đối với các thành phần ít may mắn hơn trong xã hội (vâng, phần đông trong đó là những sắc dân da màu thiểu số), khó khăn kinh tế gần như là một điều chắc chắn. Ai cũng tưởng sau khi COVID-19 giáng một đòn chí tử lên kinh tế Hoa Kỳ, thì khoảng cách chênh lệch giữa hai thành phần giàu-nghèo sẽ phần nào thu hẹp, nhưng oái oăm thay, mọi bằng chứng cho thấy sự khác biệt ấy
Do đó, chỉ khi nào người dân được quyền trực tiếp chọn Lãnh đạo qua bầu cử tự do, công bằng và dân chủ thì khi ấy những kẻ bất tài, có thành tích xấu, hay chỉ biết thu vét cho đầy túi tham, lợi ích nhóm hay làm tay sai cho Ngoại bang mới bị loại khỏi đội ngũ cầm quyền. Ngược lại, nếu vẫn tiếp tục chọn người theo thông lệ “đảng cử dân bầu” hay “đảng chọn, cán bộ bỏ phiếu” thì có trăm năm, nhân dân Việt Nam vẫn chưa tìm thấy ánh sáng ở cuối đường hầm.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất tự do.
Thây xác trưng ra đó / Còn chưa đủ thối inh? / Mua chi thêm bầy ngựa / Cứt vung cả Ba Đình! - Trần Bang
Tôi sinh ra trong một cái xóm rất nghèo, và (tất nhiên) rất đông trẻ nhỏ. Cùng lứa với tôi, có cả tá nhi đồng mà tên gọi đều bắt đầu bằng chữ út: Út lé, Út lác, Út lồi, Út lùn, Út hô, Út còi, Út ghẻ, Út mập, Út sún, Út sứt, Út méo, Út hô, Út đen, Út ruồi, Út xẹo, Út trọc … Cứ theo cách thấy mặt đặt tên như vậy, người ta có thể nhận dạng và biết được thứ tự của đứa bé trong gia đình mà khỏi phải giới thiệu (lôi thôi) kiểu cách, theo kiểu Âu Tây: – Còn đây là thằng út, nó tên là Út rỗ. Vùa lọt lòng thì cháu rơi ngay vào một cái … thùng đinh! Riêng trường hợp của tôi thì hơi (bị) khác. Tôi tên Út khùng. Lý do: khi mới chập chững biết đi, tôi té giếng. Khi tìm ra con, nắm tóc kéo lên, thấy thằng nhỏ mặt mày tím ngắt, chân tay xụi lơ, bụng chương xình, má tôi chỉ kêu lên được một tiếng “rồi” và lăn ra bất tỉnh.
Chúng ta thấy gì qua những cuộc biểu tình và bạo lực tiếp theo sau cái chết của người thanh niên da đen George Floyd bị người cảnh sát da trắng Derek Chavin dùng đầu gối đè cổ nghẹt thở chiều ngày 25-5-2020 tại thành phố Minneapolis, bang Minnesota? Hàng trăm cánh sát dã chiến với trang bị tác chiến và măt nạ chống khói độc đối đầu với hàng ngàn người biểu tình đòi công lý cho George Floyd và đòi được sống bình đẳng với người Mỹ da trắng. Đó là cuộc đấu tranh chính đáng chống lại áp bức, chống lại bất công của một xã hội đa chủng đa văn hóa như nước Mỹ.
Có vài kinh điển đã nói đến chiến tranh và dùng bạo lực để trừng phạt, nhưng tìm cách biến đổi quan điểm thông thường của thế gian là bạo lực cũng đôi khi cần thiết bằng cách là đối thoại với một lý tưởng không dùng bạo lực. Về điểm này, Phật có nói đến mình như một người xuất thân từ giai cấp lãnh chuá. Trong hai bài pháp ngắn, Phật có bình luận về hai cuộc chiến xảy ra khi ác vương A Xà Thế, Ajàtasattu, tấn công vào lãnh thỗ của chú mình là vua Ba Tư Nặc, Pasenadi, cũng là một tín đồ của Ngài, và được coi như là người luôn làm việc thiện. Trong cuộc chiến đấu tiên, vua Pasenadi bị đánh bại và rút lui. Đức Phật có suy nghĩ về sự bất hạnh này và ngài nói rằng: “Chiến thắng gieo thêm hận thù, người bại trận sống trong đau khổ. Hạnh phúc thay cho một đời sống an hoà, từ bỏ đưọc mọi chuyện thắng thua. Điều này cho thấy rõ rằng sự chinh phục đem lại bi đát cho người thua cuộc mà chỉ đưa tới thù hận và dường như chỉ muốn chinh phục lại kẻ chinh phục.”
Chiều ngày 29/5 sau phiên xử phúc thẩm, một người dân ở xã Bình Phước, ông Lương Hữu Phước, đã trở lại toà án và nhảy từ lầu hai của toà để tự sát. Hình ảnh ông nằm chết, co quắp ngay trước sân toà nói lên nỗi tuyệt vọng, sự cô đơn cùng cực của người dân VN trước các phán quyết của toà án. Tôi chạnh nhớ đến câu nói của thầy giáo Nguyễn Năng Tĩnh trong phiên phúc thẩm của anh: “một lũ bất nhân đã làm ra phiên toà bất công”.
Ôi, tưởng gì chớ tật xấu của đàn ông (nói chung) và đàn ông Việt Nam (nói riêng) thì e đám đàn bà phải càm ràm cho tới… chết – hay ngược lại. Không mắc mớ gì mà tôi lại xía vô mấy chuyện lằng nhằng (và bà rằn) cỡ đó. Nhưng riêng hai chữ “cái làn” trong câu nói (“Lắm đấng ông chồng vui vẻ xách làn đi chợ…”) của Phạm Thị Hoài thì khiến tôi bần thần, cả buổi! Năm 1954, cái làn (cùng nhiều cái khác: cái bàn là, cái bát, cái cốc, cái ô, cái môi, cái thìa…) đã theo chân mẹ tôi di cư từ Bắc vào Nam. Cuộc chung sống giữa cái bàn là với cái bàn ủi, cái bát với cái chén, cái cốc với cái ly, cái ô với cái dù, cái môi với cái vá, cái thìa với cái muỗm… tuy không toàn hảo nhưng (tương đối) thuận thảo và tốt đẹp.
Hoa phượng được Nhất Tuấn gọi là hoa học trò vì thuở đó hầu như ngôi trường nào cũng trồng cây phượng trong sân trường. Khi phượng đơm hoa báo hiệu cho mùa Hè cũng là thời điểm chia tay sau niên học. Để lưu niệm, nữ sinh đóng tập Lưu Bút giấy pelure xen kẽ các sắc màu, trông thật nhã, ghi cảm nghĩ cho nhau… Ở lớp Đệ Tứ, không còn học chung nhau vì lên lớp Đệ Tam theo ban A, B, C và lớp Đệ Nhất là thời điểm chia tay vĩnh viễn, tập Lưu Bút dày hơn, chia sẻ, tâm tình… của tuổi học trò. Hầu như nam sinh không có Lưu Bút, chỉ được xía phần, dù có tinh nghịch nhưng phải viết đứng đắn, lịch sự.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.