Hôm nay,  

Cây cầu anh Tèo

24/08/201907:01:00(Xem: 13309)

Hồ Thanh Nhã

 

                                     Cây cầu anh Tèo

  

Ai đã có lần đi qua chiếc cầu treo

Cuối bản Cu Pua vùng cao Quãng Trị

Mới thấy thót tim

Mỗi lần qua suối

Hai sợi giây cáp đong đưa

Trời mưa gió núi

Nước nguồn tuôn lởm chởm đá tai mèo

Bản nhỏ dân tộc Vân kiều

Sườn núi cheo leo

Trẻ nhỏ đến trường

Người lớn lên nương

Mỗi ngày hai lượt đi về

Đã hai chục năm vượt qua đoạn đường khổ ải

Niềm mơ ước đơn sơ

Cây cầu xi măng qua suối

Khó trăm bề lớp lớp rào ngăn

Đơn gởi nhiều nơi

Cấp trên chẳng chút đoái hoài

Coi như chuyện nhỏ thường ngày dưới huyện

Một buổi sớm mai

Có người đàn ông tóc pha màu muối

Nói giọng Sài Gòn

Tìm đến nhà trưỡng bản

Họ dắt nhau ra bờ suối

Chỉ chiếc cầu giây cáp cheo leo

Tiền tôi không có bao nhiêu

Chỉ được ba mươi triệu đồng

Nếu dân bản đồng ý góp công

Thì tôi sẽ mua xi măng thép cát

Chúng ta cùng hợp tác

Chiếc cầu bê tông chắc chắn sẽ hoàn thành

Đem lại sự an toàn

Cho hai mươi sáu hộ dân trong bản

Trưỡng bản chi xiết vui mừng

Dắt  người đàn ông Sài Gòn lên xã

Và sau là phòng kinh tế huyện hạ tầng

Các nơi đều bằng lòng

Người đàn ông trở lại Sài Gòn

Trưỡng bản họp dân lập đội thi công

Đúng hẹn một tuần sau

Người đàn ông trở lại cùng hai người bạn kỹ sư

Kể cả hai xe chở đầy vật liệu

Họ bắt đầu đắp móng xây cầu ngay chiều hôm đó

Ba người cùng trộn hồ

Khiêng sắt xi măng

Phụ cùng dân bản

Mồ hôi chảy cơn gió Lào nóng bỏng

Họ vẫn tươi cười

Cả tuần lễ thi công

Trưỡng bản nhiều lần hỏi tên

Người đàn ông mĩm cười khiêm tốn

Cứ gọi tên tôi là Tèo

Không mỹ miều thêm bớt

Rồi chẳng nói gì thêm

Một cái tên như không như thật

Trong hàng triệu người dân Sài Gòn có tánh có danh

Một tuần sau cây cầu hoàn thành

Họ uống với dân bản vài ly rượu

Rồi từ giã ra về

Từ đấy chưa lần nào trở lại

Giúp một lần

Lợi ích đến trăm năm

Người bản Vân Kiều nhớ mãi

Đặt tên cây cầu giây cáp trước đây

Là cây cầu anh Tèo bê tông cốt sắt

Một cái tên vô danh mà có thật.

        Hồ Thanh Nhã

  

 Sắc tộc người  Bru – Vân Kiều ở vùng cao Quảng Trị.

 
Người Bru – Vân Kiều sống ở dọc theo dãy Trường Sơn, phía Tây các tỉnh Quảng Trị, Quảng Bình, Thừa Thiên, Huế. Mỗi làng hay bản là một điểm cư trú quần tụ. Mỗi gia đình có nhà riêng thường là nhà sàn. Người lớn nhất trong làng gọi là “ Già làng “ hay Trưỡng bản có vai trò quan trọng, điều hành các công việc hành chánh trong làng. Sự giàu nghèo của mỗi hộ dân được xác định bằng chiêng, cồng, ché, nồi đồng và trâu.

Dân số sắc tộc Bru – Vân Kiều là 74,506 người, theo số liệu tổng điều tra dân số năm 2009. Đây là sắc tộc  có nguồn gốc lâu đời nhất ở vùng Trường Sơn. Hoạt động sản xuất của sắc dân nầy là nghề nông, canh tác rẩy, trồng lúa rẩy là chính. Nông cụ đơn giản là rìu, dao quắm. cái nạo cỏ có lưởi cong. Họ phát rừng, đốt rồi chọc lổ gieo hạt giống, làm cỏ, tuốt lúa bằng tay. Họ xen canh trên từng đám rẫy kéo dài hàng năm từ tháng 3 đến tháng 10. Ngoài ra họ còn trồng thêm hoa màu phụ như bầu, cà, chuối, khoai, mía. .Rừng và sông suối cung cấp nhiều thức ăn và nhiều nguồn lợi khác. Họ cũng chăn nuôi trâu bò, lợn, gà …                   

Ngoài ra nhiều hộ cũng làm thêm các nghề thủ công như đan lát, tre, mây . khi rổi rảnh, ngoài thời vụ. 

Người Vân Kiều thích ăn các món nướng. canh thì thường nấu lẫn rau rừng với gạo, cá hoặc ếch nhái. .Họ ăn cơm tẻ hàng ngày. khi có lễ hội thì ăn cơm lam ( nếp nướng trong ống tre tươi ). Họ có thói quen ăn bốc, ít khi dùng đủa, uống nước lả, rượu cần. Nam nữ đều hút thuốc lá, tẩu bằng đất nung hoặc bằng cây le. Về trang phục thì nam đóng khố, nữ mặc váy. Còn áo thì không có tay, mặc chui đầu. Phụ nữ thường đeo các đồ trang sức như vòng ở cổ tay, khuyên tai.

Người Bru – Vân Kiều có nhiều lễ cúng khác nhau trong quá trình canh tác. Đặc biệt lễ cúng trước dịp tỉa lúa trên rẫy diễn ra như một ngày hội của dân trong bản. Lễ cúng có đâm trâu thường có trong dịp nầy. Họ ở nhà sàn phù hợp với gia đình thường gồm cha mẹ và các con chưa lập gia đình, Nhà của họ là nhà sàn có 2 mái thường lợp bằng lá mây hoặc lá cọ. /.

 



Trung Quốc và Nam Hàn là hai quốc gia thành công với chính sách công nghiệp quốc gia (National Industrial Policy). Việt Nam thất bại khi những “quả đấm thép” chỉ mang đến thất thoát, nợ nầng và cơ hội tham nhũng. Hoa Kỳ dù không có chiến lược công nghệ do nhà nước đề ra nhưng vẫn dẫn đầu trong nhiều ngành kỷ thuật tiên tiến nhờ vào khu vực tư nhân đầy sáng tạo và năng động. Tuy nhiên ngày càng thêm nhiều lời kêu gọi chính quyền Mỹ nên khẩn cấp hổ trợ doanh nghiệp tư nhân trước đà cạnh tranh của đối thủ chiến lược là Trung Quốc.
Mồng 8 tháng 3 là ngày trọng đại của phụ nữ khắp năm châu. Ngày Quốc tế phụ nữ nói lên những nỗi bất công đối với phụ nữ. Tại Canada cũng như tại nhiều quốc gia khác đều có những buổi hội thảo, những cuộc đi bộ nhầm tranh đấu cho quyền bình đẳng giới tính.
Bắt đầu từ Tây Tạng nó chẩy qua Trung Hoa, Miến, Lào, Thái rồi khi vào đến Xứ Chùa Tháp thì “đụng” Tonlé Sap. Vào mùa nước lớn, áp lực của Mê Kông khiến cho con sông nhỏ bé hơn phải chẩy ngược dòng làm tăng thể tích lẫn diện tích Biển Hồ. Tonlé Sap Lake biến thành nơi sinh sống lý tưởng của rất nhiều loài cá nên “cứ vục tay xuống nước, túm lên ngay được một con, to tướng, béo ngậy” không phải là chuyện nói khi vui miệng. Cách đây cũng chưa lâu lắm, vào hôm 1 tháng 5 năm 2005, một ngư dân ở Bắc Thái còn bắt được một con catfish nặng tới 292 ký ở sông Mê Kông. Tuy thế, dường như, cũng chả mấy ai coi đây là chuyện lạ lùng hay đáng để ngạc nhiên. Có ngạc nhiên chăng là tất cả những điều vừa kể đều nay đã trở thành huyền thoại.
Ở Việt Nam Cộng sản, chiến dịch bảo vệ “tư tưởng đảng” được phát động chỉ để bảo vệ Chủ nghĩa Cộng sản Mác-Lênin bằng mọi giá và được Trung Cộng bảo hộ cai trị độc tài. Việc này ai cũng biết, nhưng những người thuộc đội ngũ tuyên truyền trong Hội đồng Lý luận Trung ương và Ban Tuyên giáo đã tô son vẽ phấn để biến “tư tưởng đảng” thành thứ đặc sản của riêng Việt Nam. Cũng như khi họ rêu rao qúa độ lên xã hội chủ nghĩa trong thời kỷ gọi là đổi mới “là một sự nghiệp đầy khó khăn chưa từng có tiền lệ trong lịch sử dân tộc.” (trích Văn kiện Đảng, 30-09-2015)
Dịch Covid-19 đang trở thành thời sự nóng bỏng của Âu châu. Không còn là chuyện của bên Tàu, của Vũ-Hán xa xôi. Hôm thứ năm 27/2, một hồ sơ đặc biệt để trên bàn làm việc của ông Tổng thống Macron, « Coronavirus: báo cáo của Sở Sưu tầm lên Macron».
Sách của nhà văn học Vương Trí Nhàn (Cánh Bướm Hoa Hướng Dương – Phác Thảo Chân Dung 39 Nhà Văn, NXB Phụ Nữ, Hà Nội: 2006) có ba bài viết Tú Xương nhưng không một chữ nào nhắc đến người bạn đời của ông!
Hôm nay Thứ Bảy, 29-2-2020. Một ngày đặc biệt. Bốn năm dương lịch mới có một lần nhuận. Với tôi, hôm nay, cũng là một ngày đặc biệt. Tôi được môt người bạn trẻ, đưa đến chùa Liên Hoa, Houston, dự lễ truy điệu hòa thượng Quảng Độ.
Sang tới nhiệm kỳ 2 của Thủ tướng Malcolm Fraser, chính sách về người tị nạn Đông Dương mới được mang ra Quốc Hội tranh luận và đến gần cuối năm 1978 mới được ban hành.
Tăng thống và là lãnh đạo tinh thần của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, viên tịch tối ngày 22/2/2020 tại chùa Từ Hiếu, Quận 8 Sài Gòn, hưởng thọ 93 tuổi.
Đa số mọi người đều đồng ý rằng nhà nước phải nắm các trọng trách thiết yếu trong nền kinh tế như giữ gìn an ninh trật tự; giám sát chất lượng hàng hóa; chống đầu cơ phá giá và độc quyền để tạo môi trường đầu tư, cạnh tranh và tiêu dùng lành mạnh; xử dụng ngân sách và thuế má chi tiêu vào những lợi ích công cộng như giáo dục, y tế và hạ tầng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.