Hôm nay,  

Buông Ở Chỗ Này

17/09/201900:00:00(Xem: 3994)

Yên Tử vào xuân, cánh hoa đào bay phới phới giữa ngàn xanh, cánh rụng trên thảm cỏ, cánh vướng cành thông… Không gian như mới mở ra một cảnh sắc tươi thắm lạ lùng, dầu rằng không biết mấy ngàn xuân qua vẫn thế! Dưới chân núi từng nhóm má hồng cùng bọn lục lang trẩy hội, chúng trêu đùa gọi nhau í ới vang động một góc núi rừng. Dọc hai bên đường những quán xá mọc lên đón khách, thịt thú rừng treo lủng lẳng trông thật phản cảm ở một nơi mệnh danh đất thiêng. Trong quán đầy thực khách, những kẻ phàm ăn tục uống. chúng nhồm nhoàm rượu thịt, tiếng cụng ly, chạm bát nghe chát chúa; tiếng nhừa nhựa của đàn ông, tiếng the thé của đàn bà…Chúng muốn phô phang cho cả thế giới biết chúng là ai vậy!thật vô ích vì ai nhìn vào cũng thừa biết cơ mà! Cuối góc quán có một gã trai trẻ ngồi một mình với bầu rượu và dĩa mì xào. Gã trầm ngâm mơ màng như thể xung quanh không có ai vậy, giữa bao huyên náo mà gã như chẳng nghe gì.Thỉnh thoảng gã tợp một tí rượu từ cái nậm rượu của mình. Nhiều kẻ liếc xéo gã rồi buông lời:

“Chắc thất tình?”

“Đồ gàn dở ấy mà!” kẻ khác laị dè biểu

Nói rồi cười hô hố và tiếp tục nâng bát xì xụp húp.

Chừng như nậm rượu cạn, gã tính tiền rồi ra đi, hoà vào dòng người leo núi. Một đám con gái xuân thì trêu gã:

“Du xuân mà sao chàng buồn thế?”

 “Ta có buồn gì đâu?” gã trả lời

 “Thế sao đi một mình? Hãy nhập bọn với chúng em!” bọn con gái vẫn trêu

Gã bảo:

“Đa tạ tấm lòng chiếu cố của các cô, nhưng tôi thích đi một mình hơn!”

Bọn con gái ra điều tiếc rẽ, chúng kéo đi mà còn oang oang như thể nhắn nhe với gã

“Người đâu đẹp trai thanh tú, thế mà laị…”

Chúng bỏ dở câu nói nhưng gã hiểu ý họ muốn nói gì, nghe thì nghe nhưng như gió thoảng qua tai. Gã chẳng bận tâm, trong lòng gã còn có mối quan tâm khác lớn hơn, cũng vì vậy mà gã quyết định leo Yên Tử một mình. Càng lên cao bước chân càng nặng hơn, hơi thở gấp gáp hơn. Khí trời mùa xuân còn lạnh thế mà lưng áo đã chừng như thấm mồ hôi. Rễ tùng bách bò ngoằn nghèo chằng chịt như những con rắn khổng lồ. Gã leo núi chẳng phải trẩy hội xuân mà là để tìm lão sư, người mà năm xưa trong một lần tình cờ diện kiến ở ngôi chùa quê.

Năm ấy cũng vào xuân, gã lên chùa lễ. Gặp lão sư, gã bái kiến và định tham vấn những thắc mắc thì lão sư chận laị ngay:

“Ngươi lên chùa cầu gì?”

“Thưa lão sư, con chẳng cầu gì.” Gã trả lời

“Vậy ngươi lên đây làm gì?” Lão sư hỏi

“Thưa, con lên đây học Phật Pháp.” Gã đáp

“Học làm người chưa mà muốn học Phật? lão sư vấn

“Thưa lão sư, dẫu chưa tốt nhưng cũng trọn phận người.” gã nói

“Học Phật, thế ngươi muốn học gì?”

“Thưa lão sư, người có gì thì dạy con thứ ấy.”

“Ta có cả nhưng ngươi kham nổi không?”

“Thưa lão sư, không nổi cũng ráng kham”

“Thế thì không được! ở đây không có chỗ miễn cưỡng.”

“Thưa lão sư, không miễn cưỡng mà là tinh tấn.”

“Sắc tức thị không, vậy ngươi lấy gì để học?”

“Không tức thị sắc, lấy tâm mà học.”

“Thế tâm ngươi đâu?”

“Thưa lão sư, sắc tức thị không.”

“Thế Tôn bốn mươi chín năm nói pháp, cuối cùng tuyên bố ta có nói gì đâu! Vậy lấy gì dạy ngươi?”

“Thưa lão sư, học cái muôn loài vốn biết mà mê.”

Lão sư đứng dậy nhìn thẳng mắt gã, vỗ vai:

“Thằng oắt con, mồm mép biến báo nhưng khả dĩ học đạo được. Ngươi có chỗ để thọ và có cái cần buông, ngặt một nỗi nặng nghiệp trăng hoa... tiếc lắm thay!”

Gã sụp lạy xin bái lão sư làm sư phụ. Lão sư gật đầu hứa khả nhưng bảo:

“Mùa xuân Nhâm Tý lên Yên Tử gặp ta.”

“Thưa sư phụ, con còn chưa biết pháp danh của sư phụ vả laị Yên Tử mênh mông con biết tìm đâu? Gã thắc mắc

“Ngươi không phải bận tâm việc đó, cứ lên Yên Tử, đến am Vân Mộng hỏi Thanh Nguyệt du tăng thì ắt gặp. Ta với ngươi có duyên đạo với nhau, hôm nay chưa thể nói hết những gì cần nói!” Lão sư bảo

Gã trở về, ngày tháng qua mau như nước chảy hoa rơi; việc mưu sinh làm gã quên bẵng chuyện ở chùa hôm ấy. Khi tết cận kề thì gã laị nhớ lời lão sư. Gã quyết định nghỉ việc và sửa soạn hành trang ra giêng sẽ lên Yên Tử

Dòng người trẩy hội xuân đông quá, nam thanh nữ tú, cụ ông cụ bà, nhiều vị khoác aó tăng sĩ hoà lẫn vào trong ấy.Quá ngọ thì gã tới đỉnh, người lăng xăng ngắm nghía, chụp hình và trầm trồ:

 “Đẹp quá, như bồng lai tiên cảnh.”

Kẻ khác thì bảo:

“Đất Phật có khác!”

Tìm vào Vân Mộng am, còn đang ngẩn ngơ thì một tăng nhân ra chào và hỏi:

“Xin hỏi thí chủ có phải Thanh Vân du sĩ?”

Gã thưa phải tức thì vị tăng ấy đưa gã đi ngay, qua khỏi am một quãng đường là tới vườn thông xanh biếc. Giữa vườn có nhiều ngôi tháp rêu phong hiện rõ hình hài tháng năm, đặc biệt có một ngôi tháp có vẻ còn mới nhưng rêu cũng kịp xanh xanh trên mái. Tăng nhân chỉ vào ngôi thấp ấy, nhìn thấy toàn chữ Nho. Gã lõm bõm đọc được hàng chữ to ở chính giữa:

“Thanh Nguyệt du tăng chi mộ.”

Gã sụp xuống qùy lạy, mắt ngấn lệ, miệng chỉ thốt lên được hai tiếng:

“Sư phụ!”

Chiều về am, vị tăng nhân trao cho gã một cái tráp và bảo:

“Đây là di cảo của lão tăng, người căn dặn trao cho thí chủ khi nào thí chủ đến đây! Tôi đã chờ ba năm ở đây, hôm nay xin trao laị.”

Gã đón nhận và cảm ơn vị tăng, mở tráp ra thì có mươi cuốn tập viết tay, một chiếc áo cà sa và một phong thư. Gã cầm lấy phong thư đọc:

“Thanh Vân du sĩ con!

…

Ta biết con sẽ đến nhưng ta phải đi rồi! Chúng ta có duyên nhưng không nhất định phải gặp nhau. Ta biết con không thể xuất gia được, ít ra là ở kiếp này! nhưng con có thể học đạo được! năm xưa Thế Tôn dạy: “Thắp đuốc lên mà đi, lấy giáo giới làm thầy!..” Ta có một chút ưu tư: Liệu con có buông được hay không? Tâm con nặng sắc dục, tơ tưởng trăng hoa, mấu chốt là ở chỗ này! học đạo được hay không cũng từ đây, Buông cũng ở điểm này! Ta vẫn hy vọng ở con, học đạo quan trọng ở thực hành, áp dụngnhững lời dạy vào thực tế chứ không phải để nói suông, khoe chữ! Thời gian của ta đã hết nên không thể chờ đợi gặp con được. Ta đi rôì, nếu con cứ y giáo phụng hành thì cũng như có ta bên cạnh vậy! Học đạo dù là xuất gia hay tại gia cũng đều là đi ngược dòng. Mình phải buông bỏ những cái mà người đời ôm vào. Mình phải giữ vững thanh quy, những thứ mà người đời buông bỏ. Đời hôm nay, đạo pháp suy vi, giới luật tuỳ tiện phá bỏ và nguỵ biện bằng chữ “phương tiện”. Trang thư naỳ không thể nói hết ý, con về đọc những gì ta trao cho con thì sẽ hiểu thêm và cứ thế mà học theo. Chiếc áo Cà sa như một tín vật, mỗi khi lòng lung lay thì nhìn thấy để mà tự sách tấn bản thân!

Ta luôn hy vọng ở con

Thanh Nguyệt du tăng lão sư

Vân Mộng am”

Cầm tờ thư mà ngấn lệ long lanh, trong am đèn bạch lạp cháy lung linh soi bài vị lão sư. Gã lạy tạ trước linh vị lão sư xong bước ra ngoài, cánh hoa đào bay chấp chới, xa xa ngôi tháp thấp thoáng giữa màu xanh bất tận của vườn thông.

 

Tiểu Lục Thần Phong

Ất Lăng thành, 2018

Nơi trạm xe buýt cuối ngày, chuyến xe cuối cùng chuẩn bị lăn bánh. Những người đến trễ và những người muốn ngủ lại nơi băng ghế chờ đợi, sẽ bị bỏ lại. Cơ hội tái diễn cho một chuyến xe khác, có thể là ngày hôm sau. Nhưng hôm sau, nào ai đoán được chuyện gì sẽ xảy ra. Người ta cần phải bước qua, bỏ lại lịch sử phía sau, bằng không sẽ bị bỏ lại bên lề lịch sử.
Cùng thời điểm, các nước trong vùng như Ấn độ, Mã lai, Phi luật tân,...bị Tây phương đô hộ, đều lần lược thu hồi độc lập, tổ chức đất nước theo thể chế tự do dân chủ và nhờ đó, đất nước phát triển mà không phải có hơn 10 triệu dân chết oan uổng như Việt nam. Chỉ vì họ không có hiện tượng Hồ Chí Minh!
NHững người trẻ sẽ không còn là “không chịu lớn.” Họ đã trưởng thành trong suy nghĩ của riêng họ. Và khi phải xuống đường bày tỏ những ước muốn của mình. Họ biết họ phải làm gì. Không thể nào ai đó bảo họ phải làm cái này hay phải làm cái kia. Họ không còn cần phải có lãnh tụ. Đất nước cần những con em như thế.
Hiệp Định Geneve, cũng như Hiệp Định Paris, đối với Bác và Đảng – rõ ràng – đều chỉ là một mớ giấy lộn. Tổng Tuyển Cử (1956) hay Đình Chiến (1973) cũng thế. Hoà bình là từ ngữ không hề có trong tự điển của những người cộng sản. Họ nhất định phải nhuộm đỏ hết cả nước VN (bằng mọi giá và mọi cách) thì mới thoả lòng.
Lần đầu tiên tôi đi thăm Huynh Trưởng Huy Phương đang bệnh già. Đây là chuyến "thoát ly" đặc biệt sau hơn một năm tự giam mình. Trong suốt thời gian Huynh Trưởng bị bệnh, nằm nhà thương dài dài trong bao nhiêu ngày có đại dịch, tuy không phải bị con virus mắc dịch hành hạ, nhưng là một bệnh ngặt nghèo phát sinh theo tuổi tác.
Mùa an cư năm nay không có Thông Điệp giáo giới của Tôn Sư Tòng lâm Tông tượng sách tấn bốn chúng như pháp như luật hành trì. Những tiếng kêu của lừa dê chồn cáo không thay thế được tiếng rống của sư tử chấn động ma quân. Vậy, không gì hơn chúng ta cùng đọc lại “Huấn thị an cư Phật lịch 2548” của Đức Đệ Tứ Tăng Thống Trưởng lão Hòa thượng Thích Huyền Quang. Huấn thị không nói gì nhiều hơn ngoài những kim ngôn Thánh giáo mà Đức Thích Tôn đã truyền dạy trên 25 thế kỷ. Tụng đọc và suy niệm kỹ.
Nhìn chung, vấn đề hoàn toàn bế tắc khi cả hai phe đều vi phạm pháp luật, tận dụng bạo lực để duy trì mọi yêu sách và không có thiện chí hiếu hoà để giải quyết tranh chấp. Các nỗ lực quốc tế, đặc biệt nhất là qua nhiểu tổng thống Mỹ, không mang lại kết quả. Các chương trình viện trợ tái thiết của các định chế quốc tế không tô điểm cho cuộc sống của dân chúng tốt đẹp hơn. Tình trạng thảm hại chung là thực tế đau thương.
Càng lớn tuổi, tôi càng tin vào thuyết Nhân Quả của nhà Phật, người nào làm việc xấu thì gặp việc xấu đến, người nào làm việc tốt thì mọi sự tốt lành sẽ đến. Sống làm sao được bình yên trong tâm hồn là đủ, giàu nghèo sang hèn đâu có gì quan trọng, sống mình biết đủ là đủ. Hãy nhìn tính tốt của người khác, người nào cũng có tính tốt, tại chúng ta không nhìn thấy mà thôi?
Những bộ óc siêu đẳng của con người tạo ra trí tuệ nhân tạo được thể hiện qua máy móc. Những ứng dụng của trí tuệ nhân tạo đã phục vụ đời sống con người ngày càng tốt đẹp hơn. Khoa học thần kỳ nầy đã được áp dụng trong mọi sinh hoạt của con người hầu hết trong mọi lãnh vực.
Trước sự kiện lịch sử sau hơn một ngàn năm Bắc thuộc mà Việt Nam, một nước nhỏ so với Trung Quốc hùng mạnh, rộng lớn với dân số đông gấp trăm lần đã không bị đồng hóa mà vẫn giữ được độc lập, nên một số sử gia Việt Nam và ngoại quốc đã rất ngạc nhiên. Theo họ, có lẽ nước ta đã nhờ nhiều lý do như ngôn ngữ, tôn giáo, địa thế và dân Việt có một truyền thống và nghị lực vững mạnh, v.v. Riêng G.S. Ngô Nhân Dụng, trong tác phẩm nghiên cứu lịch sử “Đứng Vững Ngàn Năm” đã cho rằng: “Sau ngàn năm Bắc thuộc mà dân tộc Việt Nam không bị đồng hóa, sau cùng lại dựng được một quốc gia độc lập; đó là một phép lạ lịch sử”.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.