Hôm nay,  

Buông Ở Chỗ Này

17/09/201900:00:00(Xem: 3941)

Yên Tử vào xuân, cánh hoa đào bay phới phới giữa ngàn xanh, cánh rụng trên thảm cỏ, cánh vướng cành thông… Không gian như mới mở ra một cảnh sắc tươi thắm lạ lùng, dầu rằng không biết mấy ngàn xuân qua vẫn thế! Dưới chân núi từng nhóm má hồng cùng bọn lục lang trẩy hội, chúng trêu đùa gọi nhau í ới vang động một góc núi rừng. Dọc hai bên đường những quán xá mọc lên đón khách, thịt thú rừng treo lủng lẳng trông thật phản cảm ở một nơi mệnh danh đất thiêng. Trong quán đầy thực khách, những kẻ phàm ăn tục uống. chúng nhồm nhoàm rượu thịt, tiếng cụng ly, chạm bát nghe chát chúa; tiếng nhừa nhựa của đàn ông, tiếng the thé của đàn bà…Chúng muốn phô phang cho cả thế giới biết chúng là ai vậy!thật vô ích vì ai nhìn vào cũng thừa biết cơ mà! Cuối góc quán có một gã trai trẻ ngồi một mình với bầu rượu và dĩa mì xào. Gã trầm ngâm mơ màng như thể xung quanh không có ai vậy, giữa bao huyên náo mà gã như chẳng nghe gì.Thỉnh thoảng gã tợp một tí rượu từ cái nậm rượu của mình. Nhiều kẻ liếc xéo gã rồi buông lời:

“Chắc thất tình?”

“Đồ gàn dở ấy mà!” kẻ khác laị dè biểu

Nói rồi cười hô hố và tiếp tục nâng bát xì xụp húp.

Chừng như nậm rượu cạn, gã tính tiền rồi ra đi, hoà vào dòng người leo núi. Một đám con gái xuân thì trêu gã:

“Du xuân mà sao chàng buồn thế?”

 “Ta có buồn gì đâu?” gã trả lời

 “Thế sao đi một mình? Hãy nhập bọn với chúng em!” bọn con gái vẫn trêu

Gã bảo:

“Đa tạ tấm lòng chiếu cố của các cô, nhưng tôi thích đi một mình hơn!”

Bọn con gái ra điều tiếc rẽ, chúng kéo đi mà còn oang oang như thể nhắn nhe với gã

“Người đâu đẹp trai thanh tú, thế mà laị…”

Chúng bỏ dở câu nói nhưng gã hiểu ý họ muốn nói gì, nghe thì nghe nhưng như gió thoảng qua tai. Gã chẳng bận tâm, trong lòng gã còn có mối quan tâm khác lớn hơn, cũng vì vậy mà gã quyết định leo Yên Tử một mình. Càng lên cao bước chân càng nặng hơn, hơi thở gấp gáp hơn. Khí trời mùa xuân còn lạnh thế mà lưng áo đã chừng như thấm mồ hôi. Rễ tùng bách bò ngoằn nghèo chằng chịt như những con rắn khổng lồ. Gã leo núi chẳng phải trẩy hội xuân mà là để tìm lão sư, người mà năm xưa trong một lần tình cờ diện kiến ở ngôi chùa quê.

Năm ấy cũng vào xuân, gã lên chùa lễ. Gặp lão sư, gã bái kiến và định tham vấn những thắc mắc thì lão sư chận laị ngay:

“Ngươi lên chùa cầu gì?”

“Thưa lão sư, con chẳng cầu gì.” Gã trả lời

“Vậy ngươi lên đây làm gì?” Lão sư hỏi

“Thưa, con lên đây học Phật Pháp.” Gã đáp

“Học làm người chưa mà muốn học Phật? lão sư vấn

“Thưa lão sư, dẫu chưa tốt nhưng cũng trọn phận người.” gã nói

“Học Phật, thế ngươi muốn học gì?”

“Thưa lão sư, người có gì thì dạy con thứ ấy.”

“Ta có cả nhưng ngươi kham nổi không?”

“Thưa lão sư, không nổi cũng ráng kham”

“Thế thì không được! ở đây không có chỗ miễn cưỡng.”

“Thưa lão sư, không miễn cưỡng mà là tinh tấn.”

“Sắc tức thị không, vậy ngươi lấy gì để học?”

“Không tức thị sắc, lấy tâm mà học.”

“Thế tâm ngươi đâu?”

“Thưa lão sư, sắc tức thị không.”

“Thế Tôn bốn mươi chín năm nói pháp, cuối cùng tuyên bố ta có nói gì đâu! Vậy lấy gì dạy ngươi?”

“Thưa lão sư, học cái muôn loài vốn biết mà mê.”

Lão sư đứng dậy nhìn thẳng mắt gã, vỗ vai:

“Thằng oắt con, mồm mép biến báo nhưng khả dĩ học đạo được. Ngươi có chỗ để thọ và có cái cần buông, ngặt một nỗi nặng nghiệp trăng hoa... tiếc lắm thay!”

Gã sụp lạy xin bái lão sư làm sư phụ. Lão sư gật đầu hứa khả nhưng bảo:

“Mùa xuân Nhâm Tý lên Yên Tử gặp ta.”

“Thưa sư phụ, con còn chưa biết pháp danh của sư phụ vả laị Yên Tử mênh mông con biết tìm đâu? Gã thắc mắc

“Ngươi không phải bận tâm việc đó, cứ lên Yên Tử, đến am Vân Mộng hỏi Thanh Nguyệt du tăng thì ắt gặp. Ta với ngươi có duyên đạo với nhau, hôm nay chưa thể nói hết những gì cần nói!” Lão sư bảo

Gã trở về, ngày tháng qua mau như nước chảy hoa rơi; việc mưu sinh làm gã quên bẵng chuyện ở chùa hôm ấy. Khi tết cận kề thì gã laị nhớ lời lão sư. Gã quyết định nghỉ việc và sửa soạn hành trang ra giêng sẽ lên Yên Tử

Dòng người trẩy hội xuân đông quá, nam thanh nữ tú, cụ ông cụ bà, nhiều vị khoác aó tăng sĩ hoà lẫn vào trong ấy.Quá ngọ thì gã tới đỉnh, người lăng xăng ngắm nghía, chụp hình và trầm trồ:

 “Đẹp quá, như bồng lai tiên cảnh.”

Kẻ khác thì bảo:

“Đất Phật có khác!”

Tìm vào Vân Mộng am, còn đang ngẩn ngơ thì một tăng nhân ra chào và hỏi:

“Xin hỏi thí chủ có phải Thanh Vân du sĩ?”

Gã thưa phải tức thì vị tăng ấy đưa gã đi ngay, qua khỏi am một quãng đường là tới vườn thông xanh biếc. Giữa vườn có nhiều ngôi tháp rêu phong hiện rõ hình hài tháng năm, đặc biệt có một ngôi tháp có vẻ còn mới nhưng rêu cũng kịp xanh xanh trên mái. Tăng nhân chỉ vào ngôi thấp ấy, nhìn thấy toàn chữ Nho. Gã lõm bõm đọc được hàng chữ to ở chính giữa:

“Thanh Nguyệt du tăng chi mộ.”

Gã sụp xuống qùy lạy, mắt ngấn lệ, miệng chỉ thốt lên được hai tiếng:

“Sư phụ!”

Chiều về am, vị tăng nhân trao cho gã một cái tráp và bảo:

“Đây là di cảo của lão tăng, người căn dặn trao cho thí chủ khi nào thí chủ đến đây! Tôi đã chờ ba năm ở đây, hôm nay xin trao laị.”

Gã đón nhận và cảm ơn vị tăng, mở tráp ra thì có mươi cuốn tập viết tay, một chiếc áo cà sa và một phong thư. Gã cầm lấy phong thư đọc:

“Thanh Vân du sĩ con!

…

Ta biết con sẽ đến nhưng ta phải đi rồi! Chúng ta có duyên nhưng không nhất định phải gặp nhau. Ta biết con không thể xuất gia được, ít ra là ở kiếp này! nhưng con có thể học đạo được! năm xưa Thế Tôn dạy: “Thắp đuốc lên mà đi, lấy giáo giới làm thầy!..” Ta có một chút ưu tư: Liệu con có buông được hay không? Tâm con nặng sắc dục, tơ tưởng trăng hoa, mấu chốt là ở chỗ này! học đạo được hay không cũng từ đây, Buông cũng ở điểm này! Ta vẫn hy vọng ở con, học đạo quan trọng ở thực hành, áp dụngnhững lời dạy vào thực tế chứ không phải để nói suông, khoe chữ! Thời gian của ta đã hết nên không thể chờ đợi gặp con được. Ta đi rôì, nếu con cứ y giáo phụng hành thì cũng như có ta bên cạnh vậy! Học đạo dù là xuất gia hay tại gia cũng đều là đi ngược dòng. Mình phải buông bỏ những cái mà người đời ôm vào. Mình phải giữ vững thanh quy, những thứ mà người đời buông bỏ. Đời hôm nay, đạo pháp suy vi, giới luật tuỳ tiện phá bỏ và nguỵ biện bằng chữ “phương tiện”. Trang thư naỳ không thể nói hết ý, con về đọc những gì ta trao cho con thì sẽ hiểu thêm và cứ thế mà học theo. Chiếc áo Cà sa như một tín vật, mỗi khi lòng lung lay thì nhìn thấy để mà tự sách tấn bản thân!

Ta luôn hy vọng ở con

Thanh Nguyệt du tăng lão sư

Vân Mộng am”

Cầm tờ thư mà ngấn lệ long lanh, trong am đèn bạch lạp cháy lung linh soi bài vị lão sư. Gã lạy tạ trước linh vị lão sư xong bước ra ngoài, cánh hoa đào bay chấp chới, xa xa ngôi tháp thấp thoáng giữa màu xanh bất tận của vườn thông.

 

Tiểu Lục Thần Phong

Ất Lăng thành, 2018

Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
Đúng vậy, sau gần nửa thế kỷ năm nhìn lại vẫn thấy biến cố 30.04.1975 xảy ra quá bất ngờ đối với toàn thể dân VN chúng ta. Bằng chứng hiển nhiên là rất nhiều cấp lãnh đạo VNCH trong chánh quyền và trong quân đội không ngờ được nên đành phải bị bắt đi tù cải tạo cả hàng chục năm để rồi chết dần mòn trong rừng thiêng nước độc. Nói chi đến người dân bình thường thiếu thông tin của cả 2 miền Nam Bắc tất cả không ai cảm thấy hoặc đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Sự thực này chúng ta có thể đọc thấy rõ trên các tài liệu của 2 miền.
Chúng ta chỉ cần vài thập niên để có thể tạo dựng lại một nền kinh tế lành mạnh và hiệu quả nhưng e sẽ mất đến đôi ba thế hệ mới loại bỏ dần được những thói hư (và tật xấu) vừa nêu. Vấn đề không chỉ đòi hỏi thời gian mà còn cần đến sự nhẫn nại, bao dung, thông cảm (lẫn thương cảm) nữa. Nếu không thì dân tộc này vẫn sẽ tiếp tục bước hết từ bi kịch sang bi kịch khác – cho dù chế độ toàn trị và nguy cơ bị trị không còn.
Ôn dịch Vũ Hán gây nên một cơn khủng hoảng chưa từng thấy trong khối các nước nghèo khó khiến 100 quốc gia trong số 189 thành viên IMF hiện đang cầu cứu cơ quan quốc tế này viện trợ khẩn cấp. Tưởng cần nên tìm hiểu bối cảnh của những quốc gia đang phát triển song song với các phân tích về tác động của khủng hoảng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.