Hôm nay,  

Ngã ba Dầu Giây

21/09/201908:54:00(Xem: 7894)

 

Hồ Thanh Nhã
 

         Ngã ba Dầu Giây

 

Trở về thăm Dầu Giây

Một phần đời bỏ lại

Người xưa đâu chẳng thấy

Mịt mù như bóng mây

 

Mười lăm năm đi qua

Anh về như khách lạ

Ngỡ ngàng quanh phố xá

Hiu hắt làn gió xa

 

Đâu ai chờ anh về

Mười lăm năm vẫn thế

Ngôi giáo đường lặng lẽ

Hồi chuông dài lê thê

 

Dầu Giây đầu mùa mưa

Dấu giày vương đất đỏ

Ngọn thác gầm núi Nứa

Bông tre già lưa thưa

 

Ngã ba nầy mùa khô

Rừng cao su lá úa

Vườn chôm chôm chin rộ

Mái lá buồn xác xơ

 

Người đi người lại đi

Hai ngã đường thiên lý

Mới xa rời phố thị

Đã ngậm ngùi phân ly

 

Anh về đường Hai Mươi

Chắc còn ai đứng đợi ?

Con dốc dài ven suối

Đỉnh đèo Man-Đa-Gui

 

Em đi về hướng biển

Đường số Một trăng buông

Thuyền ra khơi khẳm chuyến

Gió mát bờ đại dương

 

Ta chia tay từ đây

Mũi  tàu xưa còn đấy

Đã mấy mùa cây trái

Nhớ quá ngã ba nầy !

 

Nghĩa địa buồn thê lương

Bao nhiêu người nằm xuống

Anh về cho dẫu muộn

Như lá rụng bên đường

 

Người nằm đây bao lâu

Lối xưa giờ mất dấu

Rêu xanh rờn bia mộ

Khói trầm bay đâu đâu…

 

       Hồ Thanh Nhã

                   

Quốc lộ 20 – hành lang của Tử thần

   
Trích : Bút ký chiến trường của
Kỵ Binh Vũ Đình Lưu – Thiết Đoàn 5 Kỵ Binh –Long Khánh.

  

…Đêm đó 13 tháng 4 năm 1975, ngã Ba Dầu Giây được phòng thủ bởi Tiểu đoàn 1/52 ( - ) bị Sư đoàn 6 Cộng sản Bắc Việt tràn ngập. Mất ngả Ba Dầu Giây, toàn bộ lực lượng Đặc nhiệm 52 còn lại như cá nằm trên thớt, tứ bề thọ địch. Trên Quốc lộ 20, địch đã tiếp cận đơn vị chúng tôi. Phía Nam, trên Quốc lộ 1 địch đã chiếm ấp Trần Hưng Đạo và giao tranh với chúng tôi trọn ngày hôm qua. Đêm nay lại mất Dầu Giây nữa ! Tình hình mặt trận chắc còn tệ hơn lực lượng Pháp đóng ở Điện Biên Phủ năm 1954.

Ngày 14 tháng 4  năm 1975, một ngày yên bình hiếm hoi. Sáng thức dậy tôi mới biết là mình còn sống. Tôi xin trực thăng tản thương. tiếp tế  xăng dầu, đạn dược, lương khô. Phát hết cho các chi đội, số còn dư chất hết trên xe M548 ( một loại xe tải chạy bằng xích ) và xe GMC. Tôi cho anh em binh sĩ kiểm tra, bảo trì xe sau 2 ngày vừa qua liên tục quần thảo với địch, sẳn sàng cho cuộc giao tranh mới. Buổi trưa tôi cùng các đơn vị trực thuộc có cuộc họp tại trung tâm  hành quân của lực lượng Đặc nhiệm 52 đóng tại sân banh ấp Nguyễn Thái Học –xã Dầu Giây –tỉnh Long Khánh, nằm cạnh Quốc lộ 20. Sau cuộc họp, tôi được biết tình hình vô cùng nguy ngập. Trên tấm bản đồ hành quân, nhiều ký hiệu màu đỏ chỉ lực lượng Cộng sản Bắc Việt đang bao vây chúng tôi gồm có : Sư đoàn 341, Sư đoàn 6, Trung đoàn 95 thuộc Sư đoàn 325 và 2 Trung đoàn địa phương 33 và 274. Trong khi đó thì lực lượng Đặc nhiệm 52 chỉ có Tiểu đoàn 1/52 kiệt sức vì thiệt hại nặng ( hơn 200 chết và bị thương ), Tiểu đoàn 3/52 trấn giữ đồi Móng Ngựa ( Tây Bắc ấp Nguyễn Thái Học ), 1 Trung đội Hỏa tiển Tow, Chi đoàn 2/5 Thiết kỵ, Đại đội 52 Trinh sát, Pháo binh, Công binh. So sánh tương quan lực lương thì phía Cộng sản Bắc Việt là 20, còn lực lượng ta chỉ có 1. Địch dùng lực lượng áp đảo nầy để xóa sổ lực lượng chúng tôi hầu mỡ đường cho đại binh chúng tiến đánh Sài Gòn. Trong những ngày kịch chiến vừa qua Pháo binh chỉ yểm trợ cầm chừng . Vì mặt trận ở Thị xã Xuân Lộc đang hồi quyết liệt nên các phi tuần oanh tạc đều tập trung vào đó. Đơn vị tiếp ứng là Lử Đoàn 3 Kỵ binh thì bị chận đứng ở ấp Hưng Nghĩa  2 ngày không tiến lên hướng Dầu Giây nổi. Trên Quốc lô 1, địch bao vây thị xã Xuân Lộc và khống chế một đoạn đường dài 20 km từ ngả ba Cua Heo ven  thị xã Xuân Lộc đến ấp Hưng Nghĩa thuộc xã Hưng Lộc. Còn phía Quốc lộ 20 thì địch quân đã chiếm toàn bộ tỉnh Lâm Đồng, chi khu Định Quán, Túc Trưng, Gia Kiệm. Lực lượng ta như một ốc đảo trong sa mạc, tứ bề thọ địch.

Ra khỏi phòng họp, tôi ngồi bệt trên một thân cây cao su ngả, lấy thuốc ra hút. Miệng cay xè, râu ria tua tủa, mắt đỏ ngầu vì mấy đêm không ngủ. Nhìn về phía chi đoàn, các binh sĩ tất bật lau chùi vũ khí, chuẩn bị cho trận kịch chiến sắp tới, biết chắc sẽ  xảy ra bất cứ lúc nào, đêm nay, ngày mai ? Cường độ trận đánh chắc sẽ vô cùng khốc liệt, ai còn, ai mất ? Đem thân làm lính kỵ binh thì ngày xưa lấy da ngựa bọc thây, còn ngày nay nguyện chết trong lòng  xe bọc thép. Bất giác tôi nhớ đến 4 câu thơ cổ của Vương Hàn trong bài Lương Châu Từ :

                  Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi

                  Dục ẩm tì bà mã thượng thôi

                  Túy ngọa sa trường quân mặc tiếu

                  Cổ lai chinh chiến kỹ nhân hồi ?

(Bồ đào chén ngọc khuyên mời

Tiếng tì trên ngựa dục người ra đi

Sa trường nghiêng ngã cười chi  

Xưa nay chinh chiến mấy khi trở về ?)

Về lại xe, tôi họp các sĩ quan chi đội trưỡng phổ biến tình hình. Gương mặt mọi người nặng chĩu  nhưng không ai lộ vẻ hốt hoảng hoang mang. Phải chấp nhận đối mặt với mọi tình huống xấu nhất. Đêm đó toàn thể quân nhân từ kỵ binh, đến bộ binh, pháo binh. .từ cấp chỉ huy cao nhất đến anh tân binh vừa bổ sung tuần qua đều không ai ngủ được, căng mắt nhìn bóng đêm. Bóng dáng tử thần lảng vảng mọi nơi, từ trên không trung, từ hàng trăm thân cây cao su già mập mờ trong màn sương, từ những hàng cây rậm rạp ven suối Gia Nhan... Nhưng thật bất ngờ. .là đêm đó địch không tấn công.

Nhưng lại đánh vào sáng sớm ngày hôm sau, lúc 6 giờ sáng  ngày 15 tháng 4 năm 1975. Ngày  dài nhất đã đến. Mới rạng sáng đồi Móng Ngựa – vị trí đóng quân dã chiến của Tiểu đoàn 3/52 hứng pháo, càng lúc càng dồn dập. Pháo 130 ly, hỏa tiển 122 ly, súng cối 82 ly từ nhiều hướng, nổ chụp trên đồi Móng Ngựa. Cả ngàn trái pháo trên vị trí chưa đầy 5 km vuông. Sau chừng 1 giờ mưa pháo, Trung đoàn 95 của Sư Đoàn 325 tấn công biển người vào vị trí phòng thủ của Tiểu đoàn 3/52 từ ven suối Gia Nhan. Các pháo đội của Tiểu đoàn 182 Pháo binh bắn tối đa từ căn cứ ấp Nguyễn Thái Học. Nhưng không bao lâu chính vị trí pháo binh nầy cũng bị đè bẹp bởi mưa pháo 130 ly và hỏa tiển 122 ly, hết phương yểm trợ cho Tiểu đoàn 3/52 nữa. Tới trưa sau hơn 4 giờ dằng co từng mét đất, đồi Móng Ngựa bị tràn ngập. Những lời yêu cầu tuyệt vọng của 2 Đại đội trưỡng của Tiểu đoàn 3/52 là Trung úy Nguyễn Thanh Trừng và Trung úy Mai Mạnh Liêu mà tôi nghe được qua hệ thống truyền tin của lực lượng Đặc Nhiệm 52, xin pháo binh dập nát đồi Móng Ngựa, cứ bắn trên đầu họ vì họ đã bị tràn ngập. Lời yêu cầu đó lập đi lập lại vài lần rồi tắt hẳn. Tôi ứa nước mắt khi nghe những lời yêu cầu nầy. Thật là bi hùng, mã thượng như một bản anh hùng ca ! Các cao điểm bảo vệ Bộ chỉ huy Chiến đoàn 52 đã hoàn toàn bị địch khống chế. Tới 4 giờ chiều ban chỉ huy Tiểu đoàn 3/52 len lỏi địa thế rậm rạp, rút được về bố trí tại phía Tây  quốc lộ 20, gần ấp Nguyễn Thái Học.

Mất đồi Móng Ngựa, căn cứ Chiến đoàn bị pháo liên tục. Mặt khác Sư đoàn 6 Bắc Việt bắt đầu tấn công Chiến đoàn từ hướng Nam và từ đồi Móng Ngựa mà họ vừa chiếm được. Bắt đầu 1 giờ chiều, căn cứ nằm trong biển lửa, hàng ngàn loạt pháo đủ loại dội lên đầu chúng tôi. Khoảng 2 giờ chiều thì hầm của Bộ chỉ huy chiến đoàn hứng hàng chục quả đạn pháo 130 ly chính  xác nên sụp đổ. Như một trận đại hồng thủy đổ ập xuống Bộ chỉ huy căn cứ. Tôi đứng trong xe thấy toàn bộ nhân viên của Bộ chỉ huy chạy  băng qua bên kia Quốc lộ 20 vào vườn cao su. Và tiếp theo, địch bắt đầu tấn công chúng tôi dưới ánh nắng gay gắt. Địch bò sau hàng trăm gốc cao su già, len lỏi từ bờ suối chạy lên. Sau hàng chục quả mìn Claymore được kích hỏa nổ vang trời, và tiếp theo là tiếng nổ của 4 khẩu đại bác của chi đội chiến xa M41, 20 khẩu đại liên 50, 40 khẩu đại liên 30, 3 khẩu súng cối 81 ly, 3 khẩu đại bác 106 ly không giật và hàng trăm vũ khí cá nhân M79, M16 của bộ binh đồng loạt khai hỏa vang cả góc trời chiến địa. Phía bên kia, từng lớp, từng lớp người như những con thiêu thân lao lên và ngã gục. Cơn cuồng phong dử dội không quật nổi tinh thần quyết chiến của con cháu thánh Gióng. Giữa cơn hổn độn âm thanh súng đạn của ta và địch, tôi nhận được báo cáo là 1 chiến xa M41, 1 xe M113 bị bắn cháy và 1 xe M113 bị đứt xích vì đạn B40. Tuyến 1 của Đại đội trinh sát 52 bị cày nát. Phía sau xe chỉ huy của tôi, chiếc M548 và chiếc xe tải GMC chở đạn bị pháo trúng bốc cháy. Rất may là chiều hôm trước các xe nầy đã tiếp tế nhiên liệu và đạn dược cho tất cả các xe trong chi đoàn. Nếu không thì với 5 ngàn lít xăng và cả tấn đạn dược nổ sẽ hỏa thiêu xe M113 của tôi và các xe kế cận. Trong lúc vạn tử nhất sanh đó, thiếu tá Trước, tiểu đoàn 182 pháo binh, mặt mày đen sạm vì khói súng, đã cố gắng kéo 2 khẩu đại bác 105 ly còn lại ra sát phòng tuyến, trực xạ vào địch quân.

Tình thế cực kỳ hiểm nghèo, tôi buộc lòng phải liên lạc với Đại tá Ngô Kỳ Dũng , chiến đoàn trưỡng để xin lịnh rút lui. Nguy ngập quá ! Trước sau gì cũng bể tuyến vì lực lượng địch quá đông và hung hản. Lúc đó đại úy Mừng – đại đội trưỡng 52 trinh sát leo lên xe tôi và bảo : “ Lưu ơi ! rút lui mầy ơi ! “. Tôi vói tay bịt miệng anh ta và nói : “ Tao đang liên lạc với 18 đây, im chút coi ! “. Tôi bảo đại úy Mừng cho anh em lên xe gấp, kể cả các anh bị thương và tử thương đều được đưa lên xe càng nhanh càng tốt. . Rồi cho lịnh rút lui qua bên kia Quốc lộ 20 , vào sâu trong vườn cao su. Đoạn hậu là 3 chiến xa 41 và 2 chi đội thiết kỵ và phá hủy 2 xe M113 bất khiển dụng.

May mắn làm sao, chi đoàn và đại đội trinh sát  rút lui an toàn. Vừa vào sâu được trong vườn cao su phía Tây bên kia Quốc lộ 20, bố trí xong tôi liên lạc với đại tá Dũng. Ông đến và lên xe tôi. Nếu không nhờ cặp lon đại tá trên bâu áo, tôi đã không nhận ra ông. Ngay trước mắt tôi, cả thân thể, quần áo ông nhuộm đỏ màu đất và đen màu thuốc súng, chỉ có đôi mắt là sáng quắt, đầy nghị lực. Ngay lập tức tôi cũng nhận ra quần áo, hình dáng mình cũng không khác ông và đại úy Mừng. Chúng tôi trao đổi nhau chừng 10 phút thì ngoài đường dầu, dân chạy loạn, báo là có 1 đoàn chiến xa địch đang chạy xuống từ Gia Kiệm. Tiếp liền theo đó là 1 M113  bị đại bác 75 ly không giật bắn trúng. Đến nay tôi còn nhớ mãi hình ảnh anh lính tài xế tên Nghiêm đã khôn ngoan, dũng cảm đã lái chiếc xe đó ra khỏi đội hình, chạy lẹ ra Quốc lộ 20 một khoảng xa. Tới đó anh liền nhảy ra khỏi xe, thoát thân bằng cửa tài xế. Vừa chạy ra khỏi xe chừng 1 trăm mét thì chiếc M113 bật cháy ngùn ngụt.

Chưa bao giờ tôi có cảm giác vừa buồn vừa đau khổ như lúc nầy, miệng khô đắng, mắt cay xè. Chỉ trong 12 ngày, chi đoàn tôi đã mất 8 xe M113 và 1 xe M41, chỉ còn lại 15 xe. Địch quân nhất quyết xóa sổ chúng tôi. Hướng Đông nơi chúng tôi vừa lui quân, địch đã lố nhố xuất hiện. Hướng Tây vườn cao su, tức hướng ấp Bàu Hàm nhìn bằng mắt cũng thấy địch chạy lúp xúp. Hướng Bắc, tức hướng Gia Kiệm địch bắt đầu tấn công mạnh. Hướng Nam, tức hướng xã Dầu Giây súng nổ như bắp rang. Tứ bề thọ địch  ! Nếu còn chần chờ không quyết định nhanh, chúng tôi sẽ bị tiêu diệt hoàn toàn. Địch đã bịt kín mọi sinh lộ. Nhìn qua đại tá Dũng, tôi đọc được trong ánh mắt của ông. Chúng tôi gần như cùng nói một lúc : “ Mỡ đường máu ! “. Tôi vội vả ra lịnh cho bộ binh lên xe, ai gần xe nào lên xe đó. Chúng tôi quyết định mỡ đường máu về phía Tây vườn cao su hướng về ấp Bàu Hàm, một ấp nhỏ của người Nùng chuyên sống về nghề làm rẫy hoa màu, cách ngã ba Dầu Giây 7 km về hướng Tây Bắc . Dựa vào hỏa lực mạnh , di chuyển nhanh, chúng tôi xuyên phá vòng vây. Ba chiếc chiến xa M41 dẫn đầu, các xe M113 bố trí trái phải, rồi cùng tiến về phía trước với đội hình quả trám. Cũng may là vườn cao su còn non nên các chiến xa dễ dàng cán rạp, đè bẹp hầm hố địch. Tất cả các loại súng liên tiếp nhả đạn, đại bác 76 ly của chiến xa hạ thấp nòng, bắn trước đầu xe bằng đạn nổ, xới tung từng hầm hố. Hàng chục khẩu đại liên 50, đại liên 30, hàng trăm súng M16, M79 thi nhau bắn xối xả về phía trước, phía hông xe để địch không ngóc đầu lên bắn B40 và đại bác 75 ly được. Địch quân chống trả mãnh liệt nhưng thiết giáp càn qua đầu chúng mà tiến , khiến chúng bung ra khỏi chốt chạy tán loạn và bị bắn hạ. May mắn thay là chi đoàn tôi có 2 hạ sĩ quan trưỡng xa và 2 tài xế là người địa phương, trước làm rẫy ở ấp Bàu Hàm. Họ đóng góp quan trọng vào việc dẫn đoàn quân thoát nhanh và chính xác ra khỏi vòng vây của địch. Vừa di chuyển vừa bắn. Không biết bao nhiêu trở ngại gặp phải : suối sâu, đá to, gốc cao su lớn vừa cưa, chưa mụt lổm chổm, dễ dàng làm trật xích chiến xa. Mà bị trật xích trong tình huống hiểm nghèo nầy thì kể như chạm mặt với tử thần. Hỏa lực địch chống trả mạnh mẻ nhất là trong bề dày 500 mét đầu, tới gần bờ suối Bàu Hàm thì áp lực nhẹ dần.

Sau hơn 1 giờ hành quân vượt thoát thì lực lượng chúng tôi bắt tay được với chi đoàn 1/18 thiết kỵ do đại úy Hồ Trọng Hiếu, bạn cùng khóa với tôi làm chi đoàn trưỡng, thuộc Lữ đoàn 3 kỵ binh. Đến gần ấp Bàu Hàm, chúng tôi bố trí phòng thủ trong một khu rừng chồi thưa thớt. Xa xa về hướng ấp Nguyễn Thái Học , lửa còn cháy đỏ cả vòm trời. Lúc đó là 8 giờ tối ngày 15 tháng 4 năm 1975, một ngày dài nhất trong cuộc đời binh nghiệp của tôi. Trên bầu trời hàng chục ánh hỏa châu treo lơ lửng cộng với khói và những áng mây trôi bàng bạc. Tất cả quyện vào nhau tạo thành một thứ ánh sáng vàng vọt, buồn phiền ….

        Kỵ binh Vũ Đình Lưu.

        Chi Đoàn trưỡng chi đoàn 2/5 thiết kỵ.

        Thiết Đoàn 5 Kỵ Binh –Long Khánh.

 



 

Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
Đúng vậy, sau gần nửa thế kỷ năm nhìn lại vẫn thấy biến cố 30.04.1975 xảy ra quá bất ngờ đối với toàn thể dân VN chúng ta. Bằng chứng hiển nhiên là rất nhiều cấp lãnh đạo VNCH trong chánh quyền và trong quân đội không ngờ được nên đành phải bị bắt đi tù cải tạo cả hàng chục năm để rồi chết dần mòn trong rừng thiêng nước độc. Nói chi đến người dân bình thường thiếu thông tin của cả 2 miền Nam Bắc tất cả không ai cảm thấy hoặc đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Sự thực này chúng ta có thể đọc thấy rõ trên các tài liệu của 2 miền.
Chúng ta chỉ cần vài thập niên để có thể tạo dựng lại một nền kinh tế lành mạnh và hiệu quả nhưng e sẽ mất đến đôi ba thế hệ mới loại bỏ dần được những thói hư (và tật xấu) vừa nêu. Vấn đề không chỉ đòi hỏi thời gian mà còn cần đến sự nhẫn nại, bao dung, thông cảm (lẫn thương cảm) nữa. Nếu không thì dân tộc này vẫn sẽ tiếp tục bước hết từ bi kịch sang bi kịch khác – cho dù chế độ toàn trị và nguy cơ bị trị không còn.
Ôn dịch Vũ Hán gây nên một cơn khủng hoảng chưa từng thấy trong khối các nước nghèo khó khiến 100 quốc gia trong số 189 thành viên IMF hiện đang cầu cứu cơ quan quốc tế này viện trợ khẩn cấp. Tưởng cần nên tìm hiểu bối cảnh của những quốc gia đang phát triển song song với các phân tích về tác động của khủng hoảng.
Đảng Cộng sản Việt Nam đã lộ rõ tâm địa chống dân chủ bằng mọi giá để kéo dài độc tài cai trị, làm giầu bất chính trên lưng người dân nhưng lại ngoan ngoãn cúi đầu trước hành động cướp đất, chiếm Biển Đông của Trung Cộng. Những việc này, tuy không mới, nhưng đã bung ra vào lúc đảng ra sức vận động cán bộ, đảng viên, kể cả cựu lãnh đạo và cựu chiến binh đóng góp ý kiến vào các Dự thảo văn kiện đảng XIII để khoe khoang.
Đại dịch Vũ Hán đang tàn phá Trung Hoa Lục Địa và toàn thể nhân loại. Tuy thế, tai họa này vẫn không giảm thiểu tham vọng bá quyền xâm lược của đảng CSTQ đối với Việt Nam qua các hoạt động tập trận, xâm phạm lãnh hải và vùng kinh tế cũng như hiếp đáp gây thiệt hại cho ngư dân Việt Nam.
Tôi (trộm) nghe nói rằng quân tử ba ngày mà không đọc sách thì diện mạo dơ dáng, và trò chuyện khó nghe. Tôi vốn bẩm sinh mặt mũi không mấy dễ coi, và chuyện trò vô cùng nhạt nhẽo nên (lắm khi) đến vài ba năm cũng chả nhìn đến một cuốn sách nào mà vẫn cứ sống phây phây – chả có (trăng) sao gì ráo trọi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.