Hôm nay,  

Bên Sông Thạch Hãn

23/09/201907:23:00(Xem: 6336)

Truyện ngắn

 

BÊN SÔNG THẠCH HÃN

Để biết ơn Thương-Binh V.N.C.H.

ĐIỆP MỸ LINH

 
…
Diễn giả vừa dứt câu, tràng pháo tay vang lên. Diễn giả ngưng nói, hơi mỉm cười, nhưng ánh mắt vẫn còn vương buồn, nhìn quanh hội trường, tiếp: “… Kể từ tháng Tư năm 1975 đến nay, ngoài những tai tiếng như băng đảng, gian lận bảo hiểm, khai man để hưởng trợ cấp xã hội, v. v… tập thể Việt-Nam tỵ nạn cũng đã tạo được nhiều thành quả lớn lao như nuôi dạy và tạo dựng không biết bao nhiêu nhân tài; như hỗ trợ chương trình cứu người vượt biển; như giúp đỡ vật chất và an ủi tinh thần những người tỵ nạn tại các đảo; như tiếp nhận và trợ giúp từng loạt H.O. và O.D.P., v.v…

 Trong tất cả mọi hoạt động nhân đạo để hàn gắn những đau thương của cuộc chiến, dường như tập thể Việt-Nam tỵ nạn chưa phát động được phương thức cứu trợ những người đã đích thực góp máu và một phần của cơ thể của họ để giữ vững miền Nam Việt-Nam trong hơn hai thập niên.

 Kính thưa quý vị, những người mà tôi đề cập chính là Thương-Binh V.N.C.H. Quý vị đã xúc động mãnh liệt khi thấy hình ảnh những đoàn cựu sĩ quan Q.L./V.N.C.H. bị Việt-Cộng bắt lao động khổ sai trong các trại cải tạo. Quý vị cũng đã phẫn nộ khi thấy những người tỵ nạn còn kẹt tại đảo bị bắt đưa lên máy bay để ép buộc trở về Việt-Nam. Vậy, quý vị nghĩ gì khi những người bị chiến tranh đoạt mất một phần cơ thể, nay đã trở thành những kẻ ăn xin ngay trên chính phần đất mà máu và một phần thịt xương của họ đã bồi đắp?

 Đến đây, tôi nghĩ, có vị sẽ nghĩ rằng chiến tranh đã chấm dứt từ lâu rồi, khơi dậy làm chi nửa! Tôi xin thưa, cứu đói Thương-Binh V.N.C.H. trong lúc này không phải là khơi dậy những đau thương của cuộc chiến mà chính là quý vị đang xoa dịu nỗi đau, đang hàn gắn phần nào những tan tác, đang chia xẻ phần nào những tệ hại còn sót lại sau cuộc chiến.

 Nếu mỗi lần, sau khi chào Quốc Kỳ, hát Quốc Ca, quý vị dành một phút mặc niệm để tưởng nhớ những người đã bỏ mình vì nước, đã liều chết tìm Tự Do, thì, mỗi bữa ăn, xin quý vị hãy nghĩ đến những người đã hy sinh một phần thân thể trong cuộc chiến để chúng ta được sống trọn tuổi thơ, được cắp sách đến trường, được sum vầy với Cha Mẹ và gia đình. Và ngày nay, với cơ thể lành lặn, chúng ta được sống đầy đủ dưới bầu trời Tự Do, còn những kẻ bất hạnh ấy đang khốn khổ và bị hất hủi bên quê nhà.

 Kính thưa quý vị, Việt-Nam là quê hương của chúng ta. Suốt hơn mấy thập niên qua, tập thể Việt-Nam tỵ nạn đã đóng góp vào đất nước ấy bao nhiêu tiền của rồi? Thế tại sao khi chúng ta về thăm quê hương, chúng ta phải hối lộ, phải đút lót cổng này năm mươi đô-la, cửa kia ba mươi đô-la, phòng nọ hai mươi đô-la, v.v…thì mọi việc mới êm xuôi để chúng ta rời phi trường? Trong khi đó, đối với những người đã hy sinh một phần cơ thể cho chúng ta được sống toàn vẹn, tại sao chúng ta nỡ để họ đói rách và tủi buồn bên cuối trời quên lãng?

 Ngày xưa, Pháp đô hộ Việt-Nam, nhưng hình ảnh anh Thương Binh lại nên thơ như trong bài Ngày Trở Về của Phạm-Duy: ‘Ngày trở về, anh bước lê trên quãng đường đê đến bên lũy tre. Nắng vàng hoe, vườn rau trước hè cười đón người về. Mẹ lần mò ra trước ao, nắm áo người xưa ngỡ trong giấc mơ, tiếc rằng ta đôi mắt đã lòa vì quá đợi chờ…Ngày trở về có anh thương binh chống nạn cày bừa, vì thương yêu anh nên ngày trở về có con trâu xanh hết lòng giúp đỡ…’ Bây giờ, anh Thương Binh V.N.C.H. không thể ‘bước lê trên quãng đường đê đến bên lũy tre’, vì anh Thương Binh đang lê lết tấm thân  tàn trên hè phố, trong nhà lồng chợ, trước các tiệm ăn hoặc bên những đống rác đầy ruồi bọ để kiếm ăn! Miếng cơm của anh Thương Binh bây giờ  không phải là ‘nắm cơm ngon’ mà là vũng cơm thừa! Anh Thương-Phế-Binh đã ăn cơm thừa, uống nước vũng thì làm thế nào Anh có được ‘con trâu xanh’ để nó ‘hết long giúp đỡ’? Người Mẹ của anh Thương Binh cũng không ‘lần mò ra trước ao nắm áo người xưa ngỡ trong giấc mơ, tiếc rằng ta đôi mắt đã lòa vì quá đợi chờ!’, vì người Mẹ của Anh đã chết tại một vùng kinh tế mới khô cằn nào đó!

 Kính thưa quý vị, nỗi đau của Thương-Binh V.N.C.H., tôi nghĩ, tôi chỉ có thể cảm nhận chứ tôi không đủ ngôn từ để diễn đạt. Nhưng tôi tin tưởng rằng, nếu ai đã từng chứng kiến thảm cảnh của Thương-Binh V.N.C.H. khi các Anh bị Cộng Sản Việt Nam – sau khi cưỡng chiếm miền Nam –  đuổi ra khỏi các quân y viện miền Nam, các Anh phải bò lê lết trên những con đường quanh bệnh viện; và sau đó những Thương-Binh này phải lây lất xin ăn hoặc moi rác để kiếm miếng ăn , thì không ai là người không hướng tâm về những nạn nhân trực tiếp của cuộc chiến tương tàn ấy cả!

Chúng ta, tập thể Việt-Nam tỵ nạn, vì tình cốt nhục, đã đổ mồ hôi, bán sức lao động để giúp đỡ gia đình, thân quyến và bạn hữu bên nhà. Chúng ta vì lòng nhân, đã dè xẻn gửi về biếu Thây Cô từng gói quà nhân nghĩa. Chúng ta cũng không quên cứu giúp nạn nhân bị dịch tả hoành hành trong trại tỵ nạn bên Phi-Châu; vậy, trước tình cảnh nát lòng của tập thể Thương-Binh V.N.C.H., chúng tôi tha thiết xin quý vị – những người may mắn còn lành lặn sau cuộc chiến và quý vị thuộc các ngành Nha-Y-Dược, Cục Quân-Y Q.L/V.N.C.H. –những người đã hơn một lần hàn gắn những tàn tích ghê rợn của chiến tranh trên cơ thể các Thương-Binh này, hãy nghiêng xuống để tình thương lênh láng từ trái tim đầy rung cảm của quý vị, một lần nữa, nhểu từng giọt nồng, làm ấm lại những tâm hồn vỡ vụn đang bị dòng đời quên lãng!...”

Từ hàng ghế thứ năm bên trái khán đài, như không nén được nỗi đau trong hồn lâu hơn nữa, Mạnh hơi khom người đứng lên, đi ra ngoài.

Bên ngoài, không khí oi nồng của mùa Hạ như hắt từng cơn nóng hừng hực vào làng da sạm nắng trên khuôn mặt xương xương của Mạnh. Mạnh thở dài, chưa biết phải làm gì để những lời đầy xúc cảm của diễn giả bớt ảnh hưởng vào tâm lý của chàng. Mạnh rút điếu thuốc, xoay người vào tường, bật hộp quẹt mồi lửa. Vừa bập bập điếu thuốc Mạnh vừa bước dọc theo con đường chính trong lòng phố thưa người của một chiều Chủ Nhật.

 Từ nhỏ, Mạnh thường nghĩ chàng rất “chì”, không bao giờ bị tình cảm chi phối. Vậy mà sau khi vượt biển sang Mỹ, mỗi lần nghe nhạc Việt-Nam chàng chịu không nổi, cứ phải tắt đi, hoặc bỏ đi chỗ khác. Chiều nay, khi nghe diễn giả khơi dậy niềm đau của chính chàng và những quân nhân cùng cảnh ngộ, Mạnh cũng phải bỏ đi như trốn chạy. Mạnh nghĩ, nỗi đau của những người như chàng không những chỉ ở phần cơ thể bị cắt xén mà còn do những “bất hạnh giây chuyền” tạo ra. Thật vậy! Không gì đau đớn cho bằng khi tâm trí mình còn sáng suốt, trái tim còn dạt dào yêu thương mà đành thụ động nhìn những người thân yêu nhất trong đời mình từ từ tìm cách xa lìa mình!

 Mạnh nghiệm ra rằng, không những chiến tranh đã hủy hoại một phần thân xác của chàng mà chiến tranh còn khiến cho tâm hồn chàng yếu đuối lạ lùng! Chính vì mang tâm hồn quá nhạy cảm, nhiều khi không chống nổi sự cô đơn, Mạnh chìm vào cơn say để quên đi nỗi đau thầm kín của chàng!

 Nỗi đau của Mạnh khơi nguồn từ ngày mà những người trai miền Nam miệt mài trong cuộc chiến do Bắc quân chủ xướng đều mong đợi. Đó là ngày đình chiến 27-01-1973. Mạnh và đồng đội đều hiểu hiệp định ngưng bắn “da beo” là phi lý, đầy áp lực đối với quân nhân miền Nam và chỉ có lợi cho “phía bên kia”; nhưng dù sao, trong một thời gian, cũng giảm thiểu số thương vong cho cả hai phía.

Đối với đa số quân nhân miền Nam khi xung trận, tâm trạng của họ như thế nào Mạnh không thể hiểu được. Nhưng riêng Mạnh, chàng xã thân ngoài trận địa do bổn phận và trách nhiệm thôi thúc chứ không phải được hun đúc bằng lòng thù hận như Bắc quân, khắc vào người “sinh Bắc tử Nam” hay là gào lên mỗi khi chào cờ “thề phanh thây uống máu quân thù”! (1) Sở dĩ Mạnh không nuôi lòng thù hận những người bên kia chiến tuyến vì, Mạnh nghĩ, trong đoàn quân xâm lăng từ phương Bắc thế nào cũng có Tuất – đứa em duy nhất mà Mạnh đã lìa xa khi Mạnh còn mang “tên cúng cơm” là Mùi.

 Mùi nhớ rõ, năm ấy, Mùi đã khóc sưng cả mắt nhưng Mợ – Mẹ của Mùi và Tuất – vẫn quyết định ở lại vì Mợ ngại ông bà Nội và ông bà Ngoại không biết nương tựa vào ai lúc tuổi già! Lý do Thân – Bố của Mùi và Tuất – để Tuất ở lại vì ông bà Nội sợ sau khi Ông Bà mất không ai để tang, không ai nhan khói!

Từ ngày rời Hải-Phòng đến ngày hưu chiến cũng gần hai mươi năm, Mạnh không biết ông bà Nội, ông bà Ngoại còn sống hay đã về tiên cảnh và Tuất có được dịp chít vành khăn tang cho Ông Bà hay không; nhưng Mạnh biết chắc chắn một điều là không thể nào Tuất được ở lại làng để lo nhang khói cho Ông Bà, vì ngoài Bắc không có đạo luật như miền Nam: Miễn dịch cho những người con trai duy nhất còn lại trong gia đình. Mạnh nghĩ, Tuất, hoặc đã chết trên đường mòn Hồ-Chí-Minh, hoặc đang có mặt trong đoàn quân vượt vùng phi quân sự để đến bờ sông Thạch-Hãn này. Vì nghĩ như vậy, cho nên, mỗi khi lính bắt được tù binh, Mạnh thầm mong tù binh là Tuất để Mạnh biết Tuất còn sống và có ngày Tuất sẽ được trao đổi tù binh chiến tranh. Cũng có khi Mạnh mong tù binh không phải là Tuất để Mạnh tránh được cảnh đau lòng khi thấy đứa em vào tù mà chàng không thể can thiệp. Nghĩ quanh quẩn một klúc, Mạnh cười lớn; bởi vì, dù trong hoàn cảnh nào đi nữa, làm thế nào Mạnh có thể nhận diện được Tuất khi mà anh em xa nhau đến ngần ấy thời gian!

Bây giờ sắp ngưng chiến, lòng Mạnh cũng tạm yên, bớt áy náy, đỡ bức rứt về đứa em không cùng chiến tuyến. Mạnh ngã người vào ba-lô, lấy gói quân tiếp vụ muốn mồi một điếu, nhưng Mạnh nghe thiệu thính viên gọi nhỏ:

-Ông Thầy!

 Mạnh hơi nhổm lên và thấy hiệu thính viên đang lom khom đến gần, thì thầm:

-Đại bàng trên máy, ông Thầy.

Mạnh ấn nhanh gói thuốc vào lại túi quần, chụp ống liên hợp:

-Đại bàng, đây Metro.

Tiếng đầu giây bên kia:

-Giờ ‘nghỉ chơi’ sắp điểm. Kiểm soát ‘con cái’ của toa cẩn thận. Đề cao cảnh giác và tuyệt đối tuân hành lệnh ‘nghỉ chơi’.

-Nhận năm, Đại bàng.

Mạnh chuyển sang tầng số nội bộ và truyền lệnh đến từng tiểu đơn vị.

Lệnh ngưng bắn chỉ vừa truyền đi trên đài phát thanh được vài phút, Mạnh nghe nhiều tiếng reo hò, rồi một giọng Bắc nghe rất rõ:

-Ngưng bắn dzồi, anh em ơi!

Câu ấy được đi lập lại từ nhiều hướng khác nhau khiến Mạnh nhận định được rằng đơn vị của chàng đang ở vào thế “cài răng lược” với đơn vị địch. Mạnh rất yên lòng, vì “con cái” của chàng đều im lặng, giữ nguyên vị trí.

 Không gian quanh bờ sông trở lại tịch mịch, đầy căn thẳng và hồi hộp. Bỗng một giọng Bắc lại vang lên:

-Các anh Quốc-Gia ơi! Ngưng bắn d…z…ồ…i… Thích quá!

Đơn vị của Mạnh vẫn im lặng. Một lúc sau lại có tiếng từ hướng khác:

-Các anh Quốc-Gia ơi! Thèm thuốc quá! Cho một điếu.

Sau nhiều lần lập đi lập lại những câu ấy mà cũng vẫn không được đơn vị “Ngụy” đáp ứng, Bắc quân im lặng.

 Sáng sớm hôm sau, những lời kêu gọi như lúc khuya lại vang lên. Bất ngờ Mạnh nghe giọng Nam, sắc và gọn: “Đứng lại!” Mạnh chụp ống liên hợp, chưa kịp bấm nút để liên lạc kiểm soát tình hình thì đã thấy – cao khỏi những đọt tranh còn lóng lánh sương mai – lố nhố nhiều nón cối! Ngay tức khắc, Mạnh và hiệu thính viên chụp vũ khí cá nhân. Vừa khi ấy Mạnh nghe nhiều tiếng “đứng lại!” vang lên từ nhiều phía. Mạnh đứng bật dậy.

Thấy Mạnh đứng lên, cả đơn vị của Mạnh cũng đứng lên, sẵn sàng trong tư thế cận chiến. Nhưng, đồng loạt, Bắc quân đưa cao tay vẫy vẫy:

-Ngưng bắn dzồi. Anh em cả. Chúng tôi đâu có khí giới đâu. Đói và thèm thuốc quá, các anh ủng hộ tý.

Những người lính miền Nam chất phát, đưa mắt nhìn nhau, khó xử. Bắc quân vừa từ từ bước đến gần vừa cười cười:

-Các anh biết không? Mấy hôm nay đói meo, mỗi ‘nần’ các anh ăn, mùi đồ hộp thơm ‘nừng’, tụi này thèm quá!

Thấy quả thật địch quân không mang súng, người lính miền Nam cả tin, hạ nòng súng, ùa đến bắt tay Bắc quân.

Sau vài phút vui mừng, lính miền Nam lấy thức ăn và thuốc hút trong ba-lô tặng lính miền Bắc. Lính miền Bắc cười tở mở rồi “hồ hởi” khui, ăn ngay tại chỗ. Có người hút hết điếu quân tiếp vụ do lính miền Nam tặng rồi mới thong thả khui thức ăn, ăn. Vừa ăn lính miền Bắc vừa nhìn từng đôi giày “sô” sờn gót, từng chiếc đồng hồ cũ kỷ hoặc cặp kính mát được dắt hờ vào túi áo rằn ri của người lính Thủy-Quân Lục-Chiến rồi trầm trồ một cách thèm thuồng:

-Ôi Giời! Đồ đạc của các anh hiện đại quá! Cho sờ tý.

Lúc này người lính miền Bắc trông ngây ngô, vui thích và hiền lành như đàn cừu vừa tìm được cánh đồng cỏ non.

Bất ngờ một tiếng “sát!” vang lên! Nhanh và “ăn khớp” nhau như đã thực tập nhuần nhuyển, những con cừu hiền lành ấy bỗng biến thành đàn hổ đói vừa ngửi được mùi thịt tươi! Bắc quân phùng mang, trợn mắt, vung dao găm, đâm túi bụi vào chính những người vừa cho chúng ăn! Nhiều thây người gục xuống. Mũ xanh, nón sắt rơi ơ hờ cạnh gốc tranh câm nín. Máu đỏ vẽ thêm những đường kỷ hà trên quân phục rằn ri!

 Vài tiếng súng rời rạc vang lên trước khi Mạnh đủ sức quay sang hiệu thính viên, có ý dùng ống liên hợp ra lệnh đừng bắn. Một tay ôm vết thương nơi lồng ngực bên trái, một tay Mạnh cố sức hất thân người của hiệu thính viên sang một bên để Mạnh xử dụng máy truyền tin.

Vừa khi ấy, một anh nón cối chạy ngang qua. Nghe tiếng máy truyền tin rè rè, rẹt rẹt, anh nón cối dừng lại. Thấy Mạnh nằm nghiêng, đang áp tai vào ống liên hợp trong tư thế liên lạc, anh nón cối hươi dao găm lên, muốn đâm vào lưng của Mạnh. Nhưng, bất ngờ Mạnh quay người, ngẫng lên, ánh mắt đầy thảng thốt. Khi ấy anh nón cối cũng vừa thấy trên vai của Mạnh mỗi bên hai gạch trắng lớn dính sát vào một vòng tròn nhỏ cũng màu trắng và một vùng máu đỏ đang nhuộm thắm phần trên của túi áo, nơi có bảng tên Nguyễn Văn Mạnh.

Lần đầu tiên trực diện với sĩ quan “Ngụy”, anh nón cối hơi lúng túng. Nhưng thấy Mạnh bị thương, anh nón cối lấy lại bình tĩnh ngay. Anh nón cối đá ngược vào mặt Mạnh làm Mạnh bật ngửa ra sau. Ngay lúc đó anh nón cối đâm vào vùng bụng dưới của Mạnh và tiện tay, hắn xoay lưỡi dao!

Mạnh quặn người, nghiến răng, dồn hết tàn lực vào đôi tay, chụp cánh tay của anh nón cối, bóp chặt. Anh nón cối bậm bờ môi thâm sì, dùng tay trái trợ lực, ấn dao găm sâu xuống, sâu xuống nữa! Trong nỗi đau tột cùng, Mạnh nhìn anh nón cối bằng ánh mắt ngỡ ngàng đến khó hiểu rồi buông tay, khép mắt!

Mạnh tỉnh lại khi chiếc trựa thăng mang dấu hồng thập tự là đà, sắp đáp xuống. Mạnh cảm thấy ươn ướt nơi bờ môi. Mở mắt, Mạnh thấy y-tá đang dùng bông gòn thấm nước, rà quanh bờ môi khô nứt của chàng. Thấy Mạnh tỉnh lại, y-tá dừng tay, giọng reo vui:

-Ông Thầy! Ráng đi ông Thầy! Trực thăng tản thương sắp tới rồi, ông Thầy.

Mạnh thều thào:

-Con cái của tao bị nặng không?

-“Tơi bời hoa lá”, ông Thầy!

Mạnh thở dài. Trước khi chìm lại vào hôn mê, Mạnh còn nghe giọng bực tức của Cao, một hạ sĩ rất gan lỳ của đơn vị – cũng bị thương - hỏi một thương binh Việt-Cộng:

-Đã có lệnh ngưng bắn, tại sao các anh còn tấn công chúng tôi?

Vì thấy có sự hiện diện của vài tên Tiệp-Khắc trong ủy ban liên hợp bốn bên, chàng Việt-Cộng biết tính mạng của anh ta sẽ không đến nỗi nào và cũng vì bản chất gian dối của người Cộng Sản, cho nên anh ta phát ngôn không ngượng miệng:

-Chúng tối tấn công các anh bao giờ? Vết thương nơi chân tôi ‘nà’ do đạn M16 của các anh bắn chứ có ai nghe hoặc thấy súng của chúng tôi nổ chưa? Các anh bắt tôi ‘nà’ các anh vi phạm hiệp định ‘Ba-Nê’. Chúng tôi sẽ ‘chanh’ đấu để đưa sự kiện này ‘nên’ ủy ban ‘niên’ hợp bốn bên.

Một quân nhân thều thào:

-Cao!...Đang không, đ. m., sao mày dở nắp ống cống lên chi vậy?

 Bao nhiêu năm qua rồi, nhưng mỗi khi nhớ lại câu nói này của một đàn em, Mạnh vẫn phải cười vì sự thâm thúy của chàng “lính thủy đánh bộ”.

*

*   *   *

Chiếc phản lực của hãng hàng không Northwest càng bay xa lục địa Hoa-Kỳ bao nhiêu Mạnh càng cảm thấy bồi hồi bấy nhiêu. Mối tình cảm này tương tự như tâm trạng của Mạnh dạo Mạnh vừa được phóng thích khỏi trại cải tạo, đáp xe lửa về Nam.

Năm xưa, khi chuyến xe lửa vừa qua khỏi cầu Bến-Hải, nỗi buồn sâu kín không biết từ đâu dâng lên ngập cả hồn chàng! Nghĩ ngợi một lúc Mạnh mới tìm ra nguyên nhân gợi buồn là chiếc cầu Hiền-Lương! Ranh giới phân chia đất nước đã được xóa đi trên bản đồ, cũng như hai vết sẹo nhăn nhúm trên cơ thể của Mạnh đã lành lặn; nhưng thử hỏi đến bao giờ dòng sông đẩm máu này mới thoát khỏi tính chất oan nghiệt của nó, cũng như biết đến khi nào những tế bào nơi hai vết sẹo của Mạnh mới trở lại trạng thái bình thường!

Khi xe lửa qua khỏi ga Tuy-Hòa một chốc, Mạnh khóc lúc nào Mạnh cũng không hay! Nước mắt của Mạnh bây giờ chỉ âm thầm lăn dài trên hai gò má trũng sâu chứ không tuôn trào cùng tiếng thét gào điên loạn của thằng Mùi trong một đêm hãi hùng cách nay xa lắm.

Đêm hãi hùng đó, trên chuyến tàu từ Tuy-Hòa về Nha-Trang, Mùi ngồi cạnh Thân –Bố của Mùi – nhớ lại hương vị của biển và những món ăn tuyệt vời mà người bạn gái của Bố ở Tuy-Hòa nấu đãi hai Bố con nhân dịp Mùi thi đậu trung học đệ nhất cấp. Tội nghiệp Bố và người đàn bà đang muốn chiếm vị thế của Mợ! Bao nhiêu tiền dành giụm, Bố và bà ấy đều vui thích và hãnh diện đưa Mùi đi may áo quần, mua sách vở, dày dép, chuẩn bị cho Mùi làm “cậu tú” vì Mùi quyết định “học nhảy” lớp đệ tam. Nghĩ đến sách vở và quần áo mới, Mùi cảm thấy thương Bố quá, vỗ nhẹ vào vai Bố:

-Bố! Mai mốt học xong con cũng đi Biệt-Động-Quân giống Bố, nha, Bố?

Thân giật mình:

-Bố mày! Cho mày ăn học để mày làm ông kia ông nọ chứ bộ để đi lính giống tao à?

-Thế Bố muốn sau này con làm gì?

Có lẽ đã sắp đặt sẵn trong trí từ lâu, Thân đáp ngay:

-Làm bác sĩ, kỹ sư, luật sư, thiếu gì nghề danh giá, con.

-Nhưng con muốn đi lính cơ. Đi lính như Bố oai thấy mồ, ai thấy cũng phải chào.

Thân chấm dứt ước mơ của Mùi:

-Thôi, về lo học hành, đừng nói nhảm.

Hai Bố con im lặng được một chốc, bỗng xe lửa hãm nhanh tốc lực. Nhiều tiếng lao xao từ nhóm người đi buôn:

-Rồi! Chết mẹ rồi! Tụi nó chận đường nữa rồi!”

Thấy vẻ hốt hoảng hiện lên mặt mọi người nhưng Mùi chẳng biết chuyện gì đang xảy ra. Bỗng Thân chụp cái xắc có bộ quân phục giấu kín trong ấy, liệng qua cửa sổ toa xe, trước đôi mắt ngơ ngác của Mùi. Thân nắm chặt tay Mùi, giọng lo âu, nói vào tai Mùi:

-Coi chừng chúng nó bắt thanh niên đi theo chúng nó. Có gì con cố chạy thoát, đừng để chúng nó bắt, nghe chưa?

Lúc này Mùi mới lờ mờ hiểu và sợ.

 Xe lửa dừng hẳn. Những người ngồi gần cửa bắt đầu nhốn nháo rời xe. Những người ngồi bên trong cũng tuần tự đi ra. Tất cả đứng gom lại nơi thửa ruộng khô. Sau đó, mấy người mặc bà ba đen, tay xách đèn lồng – không biết xuất hiện từ đâu – bắt đàn bà, người già và trẻ con đứng riêng; đàn ông đứng riêng, rồi “đồng chí chính trị viên” bắt đầu tuyên truyền.

 Giữa lúc tinh thần mọi người bị chi phối và căn thẳng đến tột độ, một tiếng hô “nghi…ê…m…” vang lên. Phản ứng tự nhiên của những người lính chuyên nghiệp, Thân – cũng như những quân nhân khác đang mặc thường phục – vội đứng thẳng, cụp hai chân vào nhau trong thế nghiêm thì nhóm Việt-Cộng nhận ra ngay ai là lính. Việt-Cộng nhào đến, bắt ngay những người ấy đứng riêng ra!

Trong khi Mùi run sợ, chỉ biết nhìn Thân lủi thủi tuân lệnh Việt-Cộng thì “đồng chí chính trị viên” điểm điểm ngón tay trỏ vào toán lính Việt Nam Cộng Hòa (V.N.C.H.), mặt hắn xoay về nhóm thường dân, lên án:

-Đồng bào thấy rõ, đây là những tên phản động, tay sai của đế quốc Mỹ, mang tâm “niếm” gót giày bọn ‘sen đầm’ quốc tế, phản lại dân tộc. Chúng nó đáng tội chết! Chúng nó phải đền tội trước nhân dân!”

Nghe “chính trị viên” phát biểu, toán lính V.N.C.H. đưa mắt nhìn nhau, ngầm hiểu rằng cuộc đời của họ chắn chắn sẽ kết liểu tại đây! Đã vậy thì liều! Thân hô lớn “Biệt-Động-Quân! Sát!” Như nghe một mệnh lệnh khi xuất quân, những người lính V.N.C.H. vừa chồm tới, với dụng ý ùa đại vào toán Việt-Cộng, đánh cận chiến bằng tay không, thì, thật bất ngờ, khẩu đại liên – không ai biết Việt-Cộng đặt trên mui xe lửa từ lúc nào – quạt từng loạt đạn vào toán lính V.N.C.H. không khí giới, trước sự kinh hoàng của mọi người!

Mùi hét lên “Bố! Bố ơi! Bố!” và dợm người muốn chạy đến ôm xác của Thân; nhưng một người đàn bàn kéo Mùi lại:

-Im! Mày muốn tụi nó giết mày luôn hả?

 Mùi hãi quá, nín thinh. Đến khi mấy người mặc bà ba đen thổi tắt mấy ngọn đèn lồng và “biến” vào bóng đêm, mọi người mới ùa đến bên các nạn nhân. Mùi gục đầu lên xác của Thân và kêu khóc thảm thiết. Người đàn bà lúc nãy lại đến, ai ủi, dỗ dành Mùi. Nhưng Mùi vẫn cứ khóc cho đến khi khan cả tiếng mới chịu lặng yên. Mùi ngồi giậy, khoanh tay vòng hai đầu gối rồi gục đầu lên, thút thít. Thỉnh thoảng Mùi nhìn xác thân bê bết máu của Thân rồi quẹt nước mắt!

Sau bao nhiêu biến thiên của cuộc sống, Mùi tưởng Mùi đã quên được đêm kinh hoàng đó, nhưng không! Khi nhớ lại Mùi vẫn còn xúc động, lặng lẽ lau nước mắt. Mùi thở dài! Từ một thằng Mùi côi cút, Mùi lăng xả vào đời với tên mới – Mạnh – như ngầm nhắc nhở mình luôn luôn hướng về tương lai với tinh thần cứng rắn cộng với niềm tự tin trong một cơ thể tráng kiện.

Nhưng, sau lần bị thương vào ngày ngưng chiến, bên bờ sông Thạch Hãn, để người vợ trẻ của chàng lặng lẻ ra đi – vì hình hài của Mạnh đã mất khả năng thiên bẩm của người đàn ông – Mạnh tự biết rằng niềm tự tin trong chàng không còn nữa! Và giờ đây, sau bao nhiêu năm tù đầy ngoài Bắc-Việt, cơ thể chàng còm cỏi, tâm hồn chàng rã rời, mất hết sức phấn đấu, Mạnh không hiểu chàng còn lý do gì để hướng về ngày mai! Vì vậy, Mạnh nhận biết rằng, lẫn trong những dòng nước mắt khóc Cha lần này còn có những giọt lệ Mạnh khóc cho chính cuộc đời của chàng nữa!

 Để lòng bớt ngậm ngùi với quá khứ, Mạnh đứng lên, chồm ra cửa sổ, hít vào buồng phổi luồng gió trong lành của Vịnh Đại-Lãnh im lìm. Xe càng xa xứ “nẫu” bao nhiêu thì nỗi buồn càng lui xa trong lòng Mạnh bấy nhiêu. Và cuối cùng là khối tình cảm bồi hồi, xúc động âm ỷ nổi lên trong lòng Mạnh. Đến khi xe lửa dừng tại ga Nha-Trang, khối tình cảm ấy mới biến thành sự lạc lõng, sự cô đơn như dạo nào chàng và Thân vừa rời tàu “há mồm” sau nhiều ngày rời bến Hải-Phòng!

Ra khỏi ga xe lửa, Mạnh ngơ ngác, không biết về đâu, bởi vì Mạnh lớn lên và khởi sự binh nghiệp từ trường Thiếu-Sinh-Quân! Thấy nhiều kẻ ăn xin bám theo hành khách, Mạnh chạnh lòng, nhưng chợt nhớ số tiền quá ít oi trong túi, Mạnh lắc đầu, nhìn lơ chỗ khác. Bất ngờ Mạnh chú ý đến tấm thẻ nhựa nhỏ được gắn nơi ngực của một hành khất mù đang ngồi im lặng cạnh mấy chiếc xích-lô, tay đưa gáo dừa ra xin. Nhìn kỷ, Mạnh giật mình. Tấm thẻ nhựa ấy là thẻ căn cước quân nhân V.N.C.H! Mạnh bước đến, hỏi nhỏ:

-Sao anh dám đeo căn cước quân nhân? Anh không sợ à?

-Tôi còn gì để họ đầy ải nữa đâu mà sợ!

Mạnh lấy trong túi quần ít tiền, khom người, nhét nhanh vào tay người hành khất:

-Anh cầm tạm. Tôi không có nhiều.

Ngay lúc đó, một người ngồi trên Honda hỏi Mạnh:

-Mới được thả về hả? Muốn về đâu?

Mạnh ngạc nhiên, đứng lên:

-Anh hỏi tôi, phải không?

-Chứ hỏi ai nữa bây giờ! Anh nhìn quanh đây xem ai giống anh không thì biết hà!

-Tôi không có nơi nào để về cả. Số tiền còn lại trong túi tôi chắc chắn không thể nào đủ trả cho cuốc xe từ đây ra nghĩa trang Phật-Giáo.

-Bộ không có chỗ nào về rồi ra nghĩa trang ngủ nhờ sao, cha nội?

-Tôi muốn thăm mộ của Bố tôi.

Người ngồi trên Honda cho xe nổ máy, thúc:

-Trời đất! Thôi, lên lẹ đi, cha!

Trong khi cho xe chạy ra cầu Hà-Ra, người lái tự giới thiệu là Vũ, cựu Mũ Nâu. Sau những chuyến xe thồ thường nhật, trước khi về nghỉ, Vũ thích ghé ga xe lửa đón tù cải tạo mới được tha, đưa họ về với gia đình mà không nhận thù lao. Trường hợp của Mạnh, vì thấy nghĩa cử của Mạnh đối với người hành khất và hiểu hoàn cảnh của Mạnh, Vũ xúc động, đề nghị Mạnh về ở tạm nhà Vũ, Vũ sẽ tìm người cho Mạnh dạy kèm Anh văn, kiếm tiền…

… Ở Việt-Nam, trình độ Anh ngữ của Mạnh được kể là khá, dạy kèm học sinh để kiếm sống và để dành tiền vượt biên. Vì vậy, Mạnh cứ hy vọng khi đến Mỹ, Mạnh sẽ tìm được việc làm tương đối nhẹ nhàng và lương khá. Không ngờ, khi đến Mỹ, Mạnh chỉ tìm được việc làm ở một body shop.

Khi người bạn về Bắc thăm nhà, Mạnh nhờ người ấy tìm cách liên lạc về làng xưa, tìm Mẹ và Tuất; vì năm 1954 ra đi, Mạnh còn quá nhỏ, không thể nhớ địa chỉ một cách chính xác. Cũng vì lý do đó, khi bị Việt-Cộng giải ra Bắc, Mạnh không thể liên lạc về gia đình.

Sau khi người bạn giúp liên lạc được với bà Thân và Tuất, Mạnh phải làm thêm việc giữ an ninh cho một nhà kho, vào cuối tuần, để có phương tiện giúp Mẹ và Tuất. Lúc này Tuất đã có ba người con trai; đứa lớn tử trận khi bị Việt-Cộng đưa sang Cao-Miên làm “nghĩ vụ quân sự. Hai đứa còn lại đã lập gia đình vẫn còn ở làng cũ.

Không thể nào Mạnh mường tượng lại được con đường từ làng ra tỉnh lộ và từ tỉnh lộ về Hải-Phòng. Nhưng Mạnh lại nhớ rõ cảnh đàn bà con gái – theo chỉ thị của Việt-Minh (lúc đó Mùi không biết) – đứng dọc hai bên đường, khóc lóc, kể lể, làm như thương yêu, tiếc nhớ đàn ông lắm, cứ níu kéo, năn nỉ đàn ông ở lại! Mùi run quá, sợ mấy bà ấy kéo Thân ở lại. Nhưng có lúc Mùi mong Thân bị kéo lại để Thân đừng đi, và như thế, Mùi sẽ được ở lại với Mẹ. Nhưng Thân mạnh dạng hất tay mấy bà ấy ra: “Thôi! Đừng làm trò khỉ!”

Thân và Mùi ra đi yên phần. Chỉ tội cho ông bà Nội, ông bà Ngoại, không chịu rời nơi chôn nhau, cắt rốn cho nên về sau bị Việt-Minh đấu tố đến chết – trong chiến dịch cải cách ruộng đất – về tội điền chủ, cường hào, ác bá!

Suốt thời gian liên lạc được với Mạnh, bà Thân và Tuất chưa bao giờ cho Mạnh biết sự thật về những cái chết đau thương của ông bà Nội, Ngọai. Và Mạnh cũng chưa dám cho bà Thân và Tuất biết Việt-Cộng đã dùng thủ đoạn đê hèn để giết ông Thân – vì ngại thơ bị kiểm duyệt và “nhà nước” sẽ gây phiền toái cho gia đình. Đến khi Mạnh về làng xưa, lần đầu tiên chỉ có ba Mẹ con ăn cơm với nhau, tại nhà Tuất, bà Thân mới bùi ngùi kể lại cho Mạnh nghe và Mạnh cũng có cơ hội thuật lại cái chết đầy bi thương của ông Thân.

Cái chết của ông Thân đã khắc sâu vào tâm khảm của Mạnh. Giờ đây lại biết sự thật về bốn cái đại tang, Mạnh bàng hoàng, đau xót vô cùng! Giữa khi gia đình đang đau buồn, bất ngờ một anh công an phường xuất hiện, đưa giấy, bảo mời Mạnh sáng mai lên phường “làm việc”.  Mạnh nhìn anh công an bằng đôi mắt mở lớn, đầy ngỡ ngàng, rồi dịu xuống, như thầm trách.

Thấy ánh mắt của Mạnh, Tuất giật mình. Ánh mắt ấy như dội vào tâm thức để Tuất phải bận tâm, phải nghĩ ngợi.

Đêm đó, sau khi anh em nằm bên nhau trên chiếc phản, hàn huyên cho đến gần sáng, Mạnh rơi vào giấc ngủ một cách dễ dàng. Riêng Tuất cứ trằn trọc mãi, không ngủ được vì bị ánh mắt khó hiểu của Mạnh lúc chiều ám ảnh. Tuất cố vận dụng trí nhớ để xem Tuất đã thấy ánh mắt ấy ở đâu, vào dịp nào, nhưng đành chịu! Rồi Tuất hồi tưởng lại những cuộc đụng độ dữ dội với quân miền Nam xem những nạn nhân của nòng súng, lựu đạn và mũi dao của Tuất chết như thế nào, và động tác của mỗi nạn nhân trước khi chết ra làm sao! Nhưng vì giết nhiều “kẻ thù” quá, Tuất không thể nhớ được “kẻ thù” nào có ánh mắt lạ lùng đó!

 Khi Tuất thiu thiu ngủ, ánh mắt ấy lại hiện về. Tuất không dám mở mắt, cố tập trung tư tưởng vì ngại ánh mắt ấy sẽ biến đi. Tuất thấy sau đôi mắt dường như thấp thoáng loại quân phục có tích cách ngụy trang của lính miền Nam. Tuất vận dụng tâm trí nhiều hơn nữa và từ từ nhận ra những đường kỷ hà màu xanh, nâu, đen và trắng chen lẫn nhau. Đúng rồi! Quân phục của Lính Thủy Đánh Bộ! Ô, lạ không! Tại sao lại có hai gạch trắng bên mỗi cầu vai, vết máu tươi nơi ngực trái và ống liên hợp kêu rè rè, rẹt rẹt…Người Tuất toát mồ hôi. Đúng là ánh mắt của “tên” đại úy “Ngụy” bị Tuất đâm chết cạnh máy truyền tin, bên kia bờ sông Thạch-Hãn, vào hôm có lệnh hưu chiến! Tuất nhớ dường như Tuất thấy bản tên của “hắn”, nhưng lâu quá Tuất không nhớ tên gì!

Vừa khi ấy, Mạnh thức giấc, than nóng và đèn sáng Mạnh ngủ không ngon giấc. Tuất tăng tốc độ quạt máy và khuyên Mạnh nên cởi áo thun để ngủ cho mát. Tuất đến công tắc điện, có ý đợi Mạnh cởi áo thun xong rồi mới tắt đèn. Khi chiếc áo thun trắng vừa vuột qua khỏi vai của Mạnh, Tuất nhíu mày vì thấy vết sẹo nơi ngực trái của Mạnh. Tuất hỏi:

- Anh “nàm” gì mà có vết sẹo dài thế?

 Như suốt mấy ngày qua, với dụng ý không muốn nhắc đến quá khứ, Mạnh đùa:

 - Anh có cả…ngàn vết sẹo chứ phải một đâu, chú.

 Biết Mạnh đùa, Tuất cũng đùa theo:

 - Người có ngàn vết sẹo thì… “cái ấy” cũng mang sẹo rồi!

 Hai anh em cười thành tiếng. Trong phút giây vui với đứa em mấy mươi năm xa cách, Mạnh cảm thấy trẻ lại như ngày nào hai anh em ở truồng tắm sông, cho nên quên giữ ý:

- Không phải ngay “cái ấy” mà gần gần thôi.

Tuất cũng vô tình, muốn kéo dài niềm vui:

- Đâu, đưa em xem nào.

Mạnh trật lưng quần đùi ra. Thấy vết sẹo màu nâu nổi cộm ở vùng bụng dưới của Mạnh, Tuất hoảng kinh, đứng sững! Đầu óc của Tuất xoay vòng vòng, muốn nổ tung! Ánh mắt lúc chiều, vết sẹo bên trái của lồng ngực và vết sẹo ở bụng dưới…Lẽ nào! Tuất khổ sở, lắc đầu nhiều lần rồi nghiêm giọng:

-Anh Mùi! (Tuy biết Mùi đã đổi tên, nhưng bà Thân cũng như Tuất, đều muốn gọi Mạnh là Mùi; vì tên Mùi nghe gần gủi, thân thiết với họ hơn.) Hồi trước anh là Lính Thủy Đánh Bộ, đúng không?

- Anh đã dặn chú hoài. Tìm hiểu làm chi những chuyện ấy?

- Thôi được. Em chỉ yêu cầu anh trả lời cho em một chữ “có” hay “không” mà thôi. Chịu không?

Mạnh quen miệng “Okay”. Tuất hỏi:

- Ngày đình chiến, đơn vị của anh có đóng ở bên kia sông Thạch-Hãn hay không?

Mạnh hơi hoang mang về sự tò mò của Tuất, đành đáp “hang hai”:

- Nếu chú cho anh biết lý do gì chú hỏi anh câu ấy thì anh sẽ trả lời.

Tuất không trả lời, vội tắt đèn và hấp tấp mở cửa trước:

- Thôi, gần sáng rồi. Anh nằm nghỉ. Em đi có tý việc. Em sẽ về ngay.

***

Sau khi nghe Tuất kể rõ câu chuyện, bà Thân lặng người một lúc rồi thở dài:

- Tuất à! Bất cứ điều gì xảy ra trên đời đều do “duyên” và “nghiệp” cả. Trường hợp của con và anh Mùi cũng chỉ là một trong muôn vàn cảnh oái ăm trên đất nước điêu linh này. Con biết hối và biết thương anh Mùi, thế là đủ.

- Nhưng làm thế nào con có thể sống với sự ray rức này, Mợ?

- Ý con muốn như thế nào?

- Con muốn nói thật với anh Mùi.

- Không nên, con à! Có bao giờ anh Mùi muốn nhắc chuyện cũ đâu. Vả lại, bây giờ chỉ con và Mợ biết chuyện, Mẹ con mình đau lòng; nếu anh Mùi biết nữa, chỉ thêm một người nữa đau lòng chứ có giải quyết được gì đâu, con thấy không?

- Nhưng con cũng có nhiều chuyện ấm ức, con muốn nói với anh Mùi.

Nhờ những lá thư ngày trườc Tuất thường gửi tay từ trong Nam về cho Bà, bà Thân hiểu tâm trạng của Tuất. Bà đáp:

- Con có thể nói với anh Mùi những chuyện ấm ức đó. Nhưng, Mợ nghĩ, con không  cần phải nói với anh Mùi về lỗi lầm của con ở bên kia sông Thạch-Hãn, vào hôm ngưng chiến!

- Vâng. Con hiểu.

******

Trên chuyến xe lửa Thống Nhất, Mạnh và Tuất ngồi uống bia nơi toa hàng ăn vào lúc xế trưa, vắng khách. Nhìn quanh không thấy ai khác, ngoài người ngồi xa xa sau quày tính tiền, Tuất tiếp, giọng vẫn nhỏ và đều:

- Trong hàng ngũ bộ đội, biết bao nhiêu thằng như em, nhưng chỉ sợ gia đình bị Cộng Sản trả thù cho nên ít đứa dám ra hồi chánh; trừ những người miền Nam tập kết, vì gia đình họ ở miền Nam. Bởi thế, anh đừng tưởng ai ở ngoài Bắc cũng đều là Cộng-Sản cả đâu.

- Nếu anh nghĩ như thế, anh đã không về.

Ngưng một chốc, Mạnh tiếp:

- Dù sao thì họ cũng là kẻ chiến thắng.

- Thắng mẹ gì! Hồi đó nếu Mỹ cho B52 “rải thảm” thêm một hai trận nữa là bọn chúng đầu hàng vô điều kiện rồi!

- Thế Tuất không hãnh diện được có mặt trong đoàn quân chiến thắng à?

- Hãnh diện gì! Thời chiến, ngoại trừ con cháu bọn “chóp bu”, thằng thanh niên miền Bắc nào khỏi vào bộ đội? Khi đã xung trận thì giết hoặc bị giết chứ có ai muốn thế đâu, anh.

Mạnh cười cười, liết chỗ xâm bốn chữ “sinh Bắc tử Nam” trên tay Tuất. Hiểu Mạnh nghĩ gì, Tuất xòe bàn tay, nhìn vào rồi bưng chai bia, tu một hơi, tiếp:

- Anh đã thấy những thằng bộ đội bị xích chân vào xe tăng, vào thân cây hoặc vào trọng pháo chưa? Đấy, vô nhân đạo thế ấy mà tụi bộ đội vẫn phải để cho xích, huống chi xâm bốn chữ định mệnh này!

Mạnh bóp nhẹ tay Tuất. Tuất xoay ngược bàn tay, nắm tay Mạnh rất lâu. Cả hai đều yên lặng. Không phải đến bây giờ Tuất mới cảm nhận được tình anh em ruột thịt nơi Mạnh; nhưng quả thật bây giờ Tuất mới cảm thấy nhẹ nơi lồng ngực; vì Tuất đã nói ra được phần nào những điều ray rức trong lòng chàng.

Tuất đứng lên, đến bên cửa sổ, nhìn mong ra vùng không gian bát ngát. Cánh đồng xa xa lúa đã chín vàng. Từ lúc đó, trên chuyến tàu Thống-Nhất theo Mạnh về Nam để cải táng hài cốt của ông Thân, lòng Tuất thanh thản như những áng mây cuối trời./.

ĐIỆP MỸ LINH

http://www.diepmylinh.com/

 

 

  

Mấy hôm nay, cái chết của người da đen George Floyd ở Minneapolis, Huê kỳ, đã bổng chốc làm bùng lên phong trào dân chúng, da đen và cả da không đen, ủng hộ nạn nhơn đen, nổi lên, xuống đường ở nhiều thành phố lớn của Pháp, chống bạo hành và kỳ thị của cảnh sát. Omar Sy, da đen, sanh ở Trappes, ngoại ô Tây-Nam Paris (78), nghệ sĩ hài hước, diển viên điện ảnh, lên tiếng tuyên bố «Bạo hành cảnh sát là vấn đề của mọi người»! Là cơ hội bằng vàng để báo chí nhập cuộc. Báo chí Pháp hết 80% là khuynh tả, được chánh phủ tài trợ, (tùy theo số ấn phẩm bán được, từ 500 000 €/năm cho tới 6 000 000 €/năm), loan tin, bình luận, khai thác thị hiếu độc/thính giả để có đông độc giả, được tăng trợ cấp. Phong trào dân chúng nổi lên chống bạo hành và kỳ thị do cảnh sát gây ra, trên thực tế, đã không còn biên giới. Trước phản ứng của những người biểu tình trên thế giới, cảnh sát không còn là «bạn dân» nữa, mà đã trở thành hung thần! Chỉ có cảnh sát ở Tàu và Việt nam là không bị chỉ mặt vì họ là cảnh sát
Cuộc khủng hoảng do virút corona đang tạo ra một môi trường toàn cầu nhiều cạnh tranh hơn, với sự "đối đầu" phát triển nhanh hơn là "hợp tác". Liên Minh Âu Châu chúng ta phải đối mặt với những vùng biển khắc nghiệt hơn và có nguy cơ bị cuốn vào những dòng chảy chéo chiều của các cường quốc đang đòi chúng ta chọn phe rõ rệt. Những thứ được coi là kỹ thuật và không phải là "chính trị cao", chẳng hạn như đầu tư và thương mại, công nghệ và tiền tệ, nay là thành phần của một cuộc cạnh tranh công khai, hoặc thậm chí là đối đầu. Những thứ mà người ta có thể dựa vào một cách vững chắc, như dữ kiện và khoa học, hiện đang bị thách thức và cuốn vào trận chiến của những bài tường thuật, khuếch đại thêm qua những phương tiện truyền thông xã hội.
Câu hỏi đang đặt ra ở Biển Đông là Trung Quốc có âm mưu gì khi bất ngờ gia tăng đe dọa và phủ nhận quyền chủ quyền của các nước có tranh chấp lãnh thổ với Bắc Kinh gồm Việt Nam, Phi Luật Tân, Nam Dương, Mã Lai và Brunei, vào lúc cả thế giới lo phòng, chống dịch nạn Vũ Hán, xuất phát từ Trung Quốc từ đầu năm 2020 (Coronavirus disease 2019 (COVID-19). Để trả lời cho thắc mắc này, cũng như liệu tranh chấp giữa Mỹ và Trung Quốc ở Biển Đông có đưa đên nguy cơ chiến tranh hay không, xin mời bạn đọc theo dõi nội dung Cuộc phỏng vấn của tôi với Giáo sư ngoại hạng (Professor Emeritus), Tiến sỹ Nguyễn Mạnh Hùng, người từng giảng dậy nhiều năm về Quan hệ Quốc tế tại Đại học George Mason, gần Thủ đô Hoa Thịnh Đốn. Giáo sư Hùng là Học giả cao cấp bất thường trú của Trung tâm nghiên cứu Chiến lươc và quan hệ Quốc tế ở Washington, D.C. (Center for Strategic and International Studies, CSIS). Ngoài ra ông còn là Học giả vãng lai hai niên khóa 2015-2016 tại viện nghiên cứu nổi tiếng ISEAS-Yusof Is
Sau khi ông George Floyd bị chết dưới bạo lực cảnh sát, một phong trào biểu tình chống kỳ thị người da đen đã bùng nổ và lan rộng khắp nước Mỹ và trên thế giới. Phong trào có sự tham gia của mọi tầng lớp, của nhiều sắc tộc khác nhau, trong đó có người Việt Nam. Sự kiện này đã dẫn đến nhiều mâu thuẫn trong tập thể người Việt, do cách nhìn trái chiều về vấn đề kỳ thị chủng tộc đối với người da đen và phong trào Black Lives Matter. Đặc biệt là giữa thế hệ trẻ và thế hệ những người lớn tuổi trong cộng đồng. Là một tổ chức đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền Việt Nam, với chủ trương Đấu tranh bất bạo động, đảng Việt Tân đã từng lên tiếng ủng hộ các phong trào biểu tình của người dân như ở Hong Kong. Chúng tôi có cuộc phỏng vấn với ông Hoàng Tứ Duy, Phát ngôn nhân Đảng Việt Tân, về nhận xét của ông đối với phong trào Black Lives Matter và sự tham gia của giới trẻ Việt Nam trong các cuộc xuống đường đòi công lý cho người Mỹ da đen.
Trong khi tham vọng kiểm soát của chế độ toàn trị vẫn như cũ, có một số khác biệt giữa những nỗ lực của Mao và Tập Cận Bình. “Tư tưởng của Tập Cận Bình là một thay thế nhạt màu cho Sách Đỏ của Mao. Tập Cận Bình đã không thể đưa ra một ý thức hệ mạch lạc để truyền cảm hứng cho sự cuồng tín trong những người theo ông, khác một chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc chung chung. Mặt khác, Tập có các công cụ công nghệ khả dụng mà đơn giản là không áp dụng cho những nhà độc tài trong thế kỷ 20. Hệ thống tín dụng xã hội kết hợp tất cả các phương pháp của thông minh nhân tạo, dữ liệu quy mô, cảm biến lan tỏa và đặt các phương tiện này vào trong tay nhà nước Trung Quốc. Cả Stalin và Mao đều không thể kiểm soát trực tiếp các phong trào hàng ngày, lời nói và giao dịch của từng đối tượng theo cách mà đảng Trung Quốc về mặt lý thuyết có thể làm ngày nay.
Một dự luật đã được đưa ra Quốc Hội Nhân Dân của Đảng Cộng Sản Trung Hoa (CSTH) ngày 22 tháng 5 năm 2020 tại Bắc Kinh, và đúng một tuần lễ sau, dự luật này đã được nhanh chóng thông qua vả trở thành Đạo Luật An Ninh Quốc Gia (ĐLANQG) về Hồng Kông vào ngày 29 tháng 5. Khi đưa ra Quốc Hội Nhân Dân để bàn thảo và thông qua, dự luật này gồm 7 điểm chính, trong đó ba điểm quan trọng nhất để đối phó và triệt hạ quyền tự chủ cùa Hồng Kông là điều số 2, số 4, và số 6. Theo đó, Bắc Kinh sẽ ngăn chặn tất cả các nguồn yểm trợ từ bên ngoài vào Hồng Kông; sẽ sử dụng được các lực lượng đàn áp từ Bắc Kinh để dập tắt các cuộc biểu tình, những người tham dự biểu tình có thể quy tội phản quốc, ly khai; và từ đó Bắc Kinh sẽ khai triển ra những đạo luật khác để thực hiện các mưu đồ trên.
Đảng Cộng Sản Việt Nam có truyền thống bán nước từ Hồ Chí Minh cho đến ngày nay. Người bán nước số một là Nguyễn Phú Trọng, bán nước một cách tinh vi, từ những bí mật nầy đến những bí mật khác để lừa bịp nhân dân. Đã đặt Việt Nam lệ thuộc vào Trung Cộng, xem như thời kỳ Bắc thuộc lần thứ năm. Tuổi tác đã cao, sức khỏe yếu kém mà muốn ôm cái ghế quyền lực suốt đời. Thủ hạ Nguyễn Hồng Diên thăm dò dư luận bằng những lời lẽ nâng bi quá đáng, làm phản tác dụng, gây phẩn nộ trong quần chúng. Tóm lại, Nguyễn Phú Trọng và đảng của ông đã đặt Việt Nam lệ thuộc vào Trung Cộng, đó là tội đồ của dân tộc.
Khi còn trẻ, đôi lúc, tôi cũng (thoáng) có ý định sẽ trở thành một người cầm bút. Ở một xứ sở mà phần lớn người ta đều cầm cuốc, cầm búa, cầm kìm hay cầm súng… mà định cầm viết thì quả là một chuyện khá viển vông – nếu không muốn nói là hơi xa xỉ. Lúc không còn trẻ (nữa) tôi mới ngộ ra rằng: bút viết nó chọn người, chứ không phải là ngược lại – trừ khi mình cứ cầm đại thì không kể. Tôi không được (hay bị) lựa và cũng không có máu liều – như phần lớn quí vị trong Hội Nhà Văn Việt Nam Đương Đại – nên chuyện viết lách kể như … trớt quớt!
Nuôi dưỡng nền dân chủ giống như kẻ trồng cây: khi còn là hạt giống phải chống đỡ quạ tha gà mổ; cây còn non trẻ cần ngăn ngừa sâu bọ; đến lúc trưởng thành già nua phải chặt bớt những cành lớn không thì một cơn bão lớn sẽ làm đổ ngã thân cây. Việt Nam chưa có dân chủ nên tranh đấu đòi dân chủ. Nền dân chủ non trẻ tại Phi Luật Tân bị đe dọa trở lại độc tài. Dân chủ ở Mỹ trưởng thành lâu đời nay lại nảy sinh ra dấu hiệu già nua thoái hóa thành một hình dạng gì chưa nhận biết được.
Xét về cao độ thì Sơn Núi (Nguyễn Đức Sơn) ở thấp hơn nhiều bạn đồng nghiệp của mình – như Bùi Minh Quốc, Hà Sĩ Phu, Mai Thái Lĩnh, Tiêu Dao Bảo Cự… – xa lắc. Những nhân vật này đều có thời là biên tập viên của tạp chí Lang Biang, tờ báo (đã bị đóng cửa) này lấy tên theo vùng cao nguyên lâm Viên mà họ đang sinh sống. Đỉnh Lâm Viên, ở Đà Lạt, cao hơn hai ngàn mét lận. Từ đây, muốn leo lên trời (để đái, hay làm gì tùy thích) còn tiện hơn nhiều. Ngoài lợi thế nhỏ nhặt này ra, những cư dân ở miền sơn cước gặp phải toàn là những điều (vô cùng) bất tiện. Họ xa cách (mịt mù) với thế giới văn minh, ở những đô thị miền xuôi. Tôm cá hì hục chở lên đến được đến cao nguyên (thường) đã bị ươn, và thông tin khi nhận được thì (ôi thôi) hoàn toàn đã cũ.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.