Hôm nay,  

Góc Trời Cổ Tích

24/09/201900:00:00(Xem: 3937)

Gánh xiếc sơn đông mãi võ đang làm rộn ràng cả một góc chợ Cây Da. Một anh lực sĩ nằm trên bàn chông, trên bụng đặt một tảng đá. Một lực sĩ khác dùng búa tạ đập bể tảng đá mà người  nằm dưới không hề hấn gì. Màn khác thì một anh lực sĩ dùng cây giáo dài ấn vào yết hầu một lực sĩ khác, cán giáo cong oằn mà yết hầu không bị thương tích… Nhiều tiếng thét lên, tiếng trầm trồ thán phục, tiếng  hò reo tán thưởng vang dội. Bà Hai tỏ vẻ ngờ:

 - Chắc bọn họ có bùa, nuôi ngải?

 Ông Mười Mắm thì nói:

 - Phép tắc gì đâu, chẳng qua họ luyện võ nên có công phu thôi!

 Anh bảy Chà thì lý sự có vẻ khoa học lắm:

 - Khi một lực tác động vào và tản đều trên bề mặt thì người ỡ dưới bề mặt ấy sẽ không bị thương!

 Còn nhiều ý kiến khác nữa nhưng bị chìm lỉm vào tiếng loa rao bán thuốc của đoàn:

  Cao đơn hườn tán

  Một bán ba cho

  Trị ho trị sảy

  Sản hậu vàng da

  Đàn ba kinh nguyệt

  Đàn ông xụi liệt

  Lậu hoặc di tinh

  Trẻ con cam tích

  Ghẻ lác đầy mình

  Gìa bịnh đau lưng

  Gối xương cốt nhức

  Buồn bực tâm can

  Uống vô một hoàn

  Tiêu tan bịnh tật

  Maị dzô…maị dzô..

 Người lớp trong lớp ngoài móc túi mua, mấy bà thì thích tể, mấy ông thì mua hoàn ngâm rượu đặng “ông uống bà khen”…

 Chợ có tự bao giờ không ai biết, chỉ biết nhóm họp vào các ngày mùng hai, mùng tư, mười ha, mười bốn…Dân các ấp Long, An, Thành, Thạnh, Mỹ, Tài… đều đổ về đây mua bán. Chợ còn là đầu mối bỏ nông sản, hoa quả… cho thành phố biển cách đó mươi cây số. Thành phố này vốn là một hải trấn tiền đồn quan trọng dưới thời Tây Sơn.  Nhà ngoại của gã gắn liền với ngôi chợ này, thuở ấy người ta còn thuần hậu lắm! dù mua bán nhưng  không có tranh giành, thủ đoạn; không có điêu toa gian dối… Thời ấy đời sống rất dễ chịu, công việc làm ăn dễ dàng. Khi Mỹ và đồng minh đổ vào thì việc mua bán laị càng thịnh hơn bao giờ hết. Ngôi nhà của ngoaị trở thành một quầy tạp hóa lớn nhất vùng bán đủ thứ hết nhưng chủ lực là: xi măng Hà Tiên, Bia con cọp Larue, Giấy quyến hiệu Thuyền Rồng, Trà Diệu Ký, sữa Guigo… Lính từ các trại quân đồng minh: Đaị Hàn, Phi Luật Tân…rất thích đến mua hay trao đổi đồ với tiệm của ngoại. Ngày tết thì khỏi phải nói, cả nhà như một xưởng bánh mứt. Con cháu, người làm… đều tốc lực làm bánh mứt, khó nhất vẫn là xăm gừng, xăm bí; những củ gừng gọt chuốt đẹp như bàn tay mỹ nhân rồi xăm cho mềm ra, rồi luộc và đem rim (dụng cụ xăm gừng là những khúc gỗ gòn, một đầu cắm đầy các cây kim may, nghề này xem ra giờ thất truyền); rồi còn đu đủ xanh cắt bông thược dược, cắt nơ…Mùi nước đường rim mứt bay thơm thoảng thoảng trong gió, ra tận ngoài chợ luôn! Bánh mứt ở tiệm của ngoại vừa đẹp vừa ngon nổi tiếng. Ngoài người mình ra, mấy anh lính đồng minh rất thích mua những cái bông thược dược rim từ đu đủ. Công việc mua bán thuận buồm xuôi gió, ngoại trở nên giàu có nổi tiếng khắp vùng.

  Năm ấy khoảng đầu thập niên bảy mươi. Dì cùng với học sinh các trường Cường Để, quốc Học, Trưng vương… cắm traị ở vận động trường. Ông tỉnh trưởng đến chúc mừng. Bọn người bên kia cử thích khách đến ném bom. Ông tỉnh trưởng đứng trên đài cao nên không hề hấn gì nhưng học sinh thì chết la liệt, lớp vì bom  lớp vì hoảng loạn dẫm đạp nhau. Dì cũng chết trong đám học sinh xấu số ấy. Người chết và bị thương nhiều đến nỗi nhà thương tỉnh không còn cả bông gòn và thuốc đỏ để sơ cứu. Đài truyền hình đưa tin, dân chúng kinh hoàng tiếc thương cho những người xấu số. ( không biết những kẻ thủ ác ra lệnh và thi hành ấy có bao giờ thấy hối hận chăng? chắc là không, vì hàng năm chúng vẫn tổ chức kỷ niệm chiến thắng, vẫn đeo huy chương đỏ khé trên ngực!)  Ngoại tưởng chừng như suy sụp nhưng rồi công việc làm ăn laị bận bịu, thời gian dần dần xoa dịu nỗi đau… Cho đến một ngày kia, khi mà quốc gia sụm bà chè! lần này thì suy sụp thật, suy sụp vĩnh viễn! lần naỳ không phải mỗi  ngoại sập tiệm mà tất cả đều sập tiệm! Mọi người khép nép hạ mình xuống, mai danh ẩn tích, bôi xóa vết tích thân phận, tẩu tán chôn giấu tài sản, che đậy ăn uống…Tất cả như cơn ác mộng giữa ban ngày!

 Những năm sau đó mặc dù đóng tiệm nhưng ngoại vẫn mua bán lẻ tẻ vụng vặt để mưu sinh, bấy giờ cả nước thành một cái chợ trời khổng lồ, cái gì cũng mua, cái gì cũng bán…Nhưng luôn dòm trước ngó sau. Lúc bấy giờ gã cũng còn là một chú bé con, rất tò mò, hay nghe lóm chuyện người lớn, thích mò vào trong kho hàng cũ của ngoại để lục lạo tìm kiếm ( nhưng chẳng biết tìm cái gì mới lạ chứ!). Gã thích thú nhìn những két bia con cọp Larue chất cao tới nóc ( không biết hồi ấy người nhà uống hay bán lẻ mà vẫn còn những cái két chứa vỏ chai như thế?), những hộp nhựa to dài cả thước dùng đựng giấy quyến ( loại giấy dùng để vấn thuốc lá, nghe người lớn kể laị, những năm sau tháng tư đen ấy, mỗi cây giấy quyến này đổi một cây vàng), những thùng giấy cạc tông (carton) dùng chứa trà Diệu Ký ( một thương hiệu nổi tiếng thời ấy)…Cái kho hàng của ngoại như một góc trời cổ tích của gã. Mỗi ngày đi học về, gã vẫn thường chui rúc vào trong kho hàng ấy như chú bé đi tìm thế giới thần tiên trong truyện cổ tích ngày xưa.

 

Tiểu Lục Thần Phong

Ất Lăng thành, 2/2019

Galang là tên một đảo nhỏ thuộc tỉnh Riau của Indonesia đã được chính phủ nước này cho Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp quốc sử dụng trong nhiều năm để người tị nạn Đông Dương tạm trú, trong khi chờ đợi được định cư ở một nước thứ ba. Trong vòng 17 năm, kể từ khi mở ra năm 1979 cho đến lúc đóng cửa vào năm 1996, Galang đã là nơi dừng chân của hơn 200 nghìn người tị nạn, hầu hết là thuyền nhân vượt biển từ Việt Nam và một số người Cam Bốt.
Hình ảnh thay cho ngàn lời nói, ghi nhận rõ "sự hấp hối" của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, ghi lại cảnh hỗn loạn, sự hoảng hốt, nỗi lo sợ của dân chúng lũ lượt rời nơi đang sinh sống, đã bỏ nhà cửa trốn chạy trước khi VC tràn vào thành phố
Chúng ta liệu có thể đóng vai trò giúp đỡ những người nhập cư và tị nạn trong tương lai như là người Mỹ đã từng làm cho chúng ta không? Theo lời của Emma Lazarus, liệu chúng ta có nâng “... ngọn đèn bên cạnh cánh cửa vàng” cho “... kẻ bão táp, người vô gia cư ... người mệt mỏi, người nghèo khổ” không? Đối với chúng tôi, trong ngày 30 tháng 4 này, không có câu hỏi nào có ý nghĩa và tính quan trọng hơn câu hỏi này.
Khách đến Việt Nam ngày nay thấy nhiều nhà cao cửa rộng, xe chạy chật đường hơn xưa. Nhưng đa số người Việt Nam có vẻ không có cái nhu cầu dân chủ của người Myanmar hay người Hồng Kông. Hay là họ có, nhưng 20 năm chiến tranh đã làm họ mệt mỏi, xuôi xị chấp nhận chút đầy đủ vật chất, nhắm mắt với tương lai? Và Đảng Cộng sản Việt Nam có thể hy vọng người Việt sẽ ngoan ngoãn như người dân Bắc Hàn, không cần dự phần tự quyết cho tương lai của mình và con cháu mình?
Ngày 30/4 năm thứ 46 sau 1975 đặt ra câu hỏi: Còn bao nhiêu năm nữa thì người Việt Nam ở hai đầu chiến tuyến trong chiến tranh mới “hòa giải, hòa hợp” được với nhau để thành “Một Người Việt Nam”? Hỏi chơi vậy thôi chứ cứ như tình hình bây giờ thì còn mút mùa lệ thủy. Nhưng tại sao?
30 tháng Tư. Đó là ngày nhắc nhở chúng ta cần có dự tính cho tương lai. Vào năm 1975, ai có thể ngờ rằng sẽ có gần 2 triệu người Việt tại Hoa Kỳ nuôi dưỡng cuộc sống có ý nghĩa và đóng góp một cách đáng kể cho xã hội? Ai ngờ được rằng hiện đã có thế hệ người Mỹ gốc Việt thứ ba, thứ tư?
Tổng thống Joe Biden như một người thuyền trưởng, nắm con thuyền quốc gia giữa cơn bão dữ. Chỉ trong cơn sóng lớn mới thấy được khả năng người lèo lái. Những thách thức vẫn còn trước mặt, nhưng con thuyền quốc gia hứa hẹn sẽ đến được chân trời rộng mở. Sự lãnh đạo và phục vụ thầm lặng, bền đỗ cho quốc gia và người dân của tổng thống Joe Biden đã được chứng minh bằng kết quả hiển hiện trong 100 ngày vừa qua.
Ca sĩ Tina Turner, có lẽ ai cũng biết nhưng quá trình tìm đến đạo Phật, trở thành Phật tử và sự tinh tấn của cô ta chắc không nhiều người biết. Giáo lý đạo Phật đã vực dậy đời sống cá nhân cũng như sự nghiệp của cô ta từ hố thẳm đau khổ, thất vọng.
Một nhân vật còn sống sót sau thảm họa Lò sát sinh (Holocaust) và từng đoạt giải Nobel Hòa bình, Elie Wiesel, nói: "Sự đối nghịch của tình thương không phải là sự ghét bỏ, mà là sự dửng dưng. Sự dửng dưng khiến đối tượng thành vắng bóng, vô hình…"
Tháng 10/1954, ông Trần Văn Hương được bổ nhiệm làm Đô Trưởng thủ đô Sài Gòn nhưng chỉ được vài tháng ông xin từ chức không cho biết lý do. Ngày 26/4/1960, ông Hương cùng 17 nhân sĩ quốc gia thành lập nhóm Tự Do Tiến Bộ, tổ chức họp báo công bố một bản tuyên cáo tại khách sạn Caravelle. Nội dung Bản Tuyên Cáo rất ôn hòa chỉ yêu cầu Tổng thống Ngô Đình Diệm mở rộng chính quyền để các nhà trí thức có thể hợp tác với chính phủ nếu được yêu cầu. Ngày 11/11/1960, ông Hương ký tên ủng hộ cuộc đảo chánh do Đại tá Nguyễn Chánh Thi khởi xướng, ông bị bắt trong tù ông có viết một tập thơ lấy tên là “Lao trung lãnh vận” (Những vần thơ lạnh lẽo ở trong tù).
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.