Hôm nay,  

Góc Trời Cổ Tích

24/09/201900:00:00(Xem: 3760)

Gánh xiếc sơn đông mãi võ đang làm rộn ràng cả một góc chợ Cây Da. Một anh lực sĩ nằm trên bàn chông, trên bụng đặt một tảng đá. Một lực sĩ khác dùng búa tạ đập bể tảng đá mà người  nằm dưới không hề hấn gì. Màn khác thì một anh lực sĩ dùng cây giáo dài ấn vào yết hầu một lực sĩ khác, cán giáo cong oằn mà yết hầu không bị thương tích… Nhiều tiếng thét lên, tiếng trầm trồ thán phục, tiếng  hò reo tán thưởng vang dội. Bà Hai tỏ vẻ ngờ:

 - Chắc bọn họ có bùa, nuôi ngải?

 Ông Mười Mắm thì nói:

 - Phép tắc gì đâu, chẳng qua họ luyện võ nên có công phu thôi!

 Anh bảy Chà thì lý sự có vẻ khoa học lắm:

 - Khi một lực tác động vào và tản đều trên bề mặt thì người ỡ dưới bề mặt ấy sẽ không bị thương!

 Còn nhiều ý kiến khác nữa nhưng bị chìm lỉm vào tiếng loa rao bán thuốc của đoàn:

  Cao đơn hườn tán

  Một bán ba cho

  Trị ho trị sảy

  Sản hậu vàng da

  Đàn ba kinh nguyệt

  Đàn ông xụi liệt

  Lậu hoặc di tinh

  Trẻ con cam tích

  Ghẻ lác đầy mình

  Gìa bịnh đau lưng

  Gối xương cốt nhức

  Buồn bực tâm can

  Uống vô một hoàn

  Tiêu tan bịnh tật

  Maị dzô…maị dzô..

 Người lớp trong lớp ngoài móc túi mua, mấy bà thì thích tể, mấy ông thì mua hoàn ngâm rượu đặng “ông uống bà khen”…

 Chợ có tự bao giờ không ai biết, chỉ biết nhóm họp vào các ngày mùng hai, mùng tư, mười ha, mười bốn…Dân các ấp Long, An, Thành, Thạnh, Mỹ, Tài… đều đổ về đây mua bán. Chợ còn là đầu mối bỏ nông sản, hoa quả… cho thành phố biển cách đó mươi cây số. Thành phố này vốn là một hải trấn tiền đồn quan trọng dưới thời Tây Sơn.  Nhà ngoại của gã gắn liền với ngôi chợ này, thuở ấy người ta còn thuần hậu lắm! dù mua bán nhưng  không có tranh giành, thủ đoạn; không có điêu toa gian dối… Thời ấy đời sống rất dễ chịu, công việc làm ăn dễ dàng. Khi Mỹ và đồng minh đổ vào thì việc mua bán laị càng thịnh hơn bao giờ hết. Ngôi nhà của ngoaị trở thành một quầy tạp hóa lớn nhất vùng bán đủ thứ hết nhưng chủ lực là: xi măng Hà Tiên, Bia con cọp Larue, Giấy quyến hiệu Thuyền Rồng, Trà Diệu Ký, sữa Guigo… Lính từ các trại quân đồng minh: Đaị Hàn, Phi Luật Tân…rất thích đến mua hay trao đổi đồ với tiệm của ngoại. Ngày tết thì khỏi phải nói, cả nhà như một xưởng bánh mứt. Con cháu, người làm… đều tốc lực làm bánh mứt, khó nhất vẫn là xăm gừng, xăm bí; những củ gừng gọt chuốt đẹp như bàn tay mỹ nhân rồi xăm cho mềm ra, rồi luộc và đem rim (dụng cụ xăm gừng là những khúc gỗ gòn, một đầu cắm đầy các cây kim may, nghề này xem ra giờ thất truyền); rồi còn đu đủ xanh cắt bông thược dược, cắt nơ…Mùi nước đường rim mứt bay thơm thoảng thoảng trong gió, ra tận ngoài chợ luôn! Bánh mứt ở tiệm của ngoại vừa đẹp vừa ngon nổi tiếng. Ngoài người mình ra, mấy anh lính đồng minh rất thích mua những cái bông thược dược rim từ đu đủ. Công việc mua bán thuận buồm xuôi gió, ngoại trở nên giàu có nổi tiếng khắp vùng.

  Năm ấy khoảng đầu thập niên bảy mươi. Dì cùng với học sinh các trường Cường Để, quốc Học, Trưng vương… cắm traị ở vận động trường. Ông tỉnh trưởng đến chúc mừng. Bọn người bên kia cử thích khách đến ném bom. Ông tỉnh trưởng đứng trên đài cao nên không hề hấn gì nhưng học sinh thì chết la liệt, lớp vì bom  lớp vì hoảng loạn dẫm đạp nhau. Dì cũng chết trong đám học sinh xấu số ấy. Người chết và bị thương nhiều đến nỗi nhà thương tỉnh không còn cả bông gòn và thuốc đỏ để sơ cứu. Đài truyền hình đưa tin, dân chúng kinh hoàng tiếc thương cho những người xấu số. ( không biết những kẻ thủ ác ra lệnh và thi hành ấy có bao giờ thấy hối hận chăng? chắc là không, vì hàng năm chúng vẫn tổ chức kỷ niệm chiến thắng, vẫn đeo huy chương đỏ khé trên ngực!)  Ngoại tưởng chừng như suy sụp nhưng rồi công việc làm ăn laị bận bịu, thời gian dần dần xoa dịu nỗi đau… Cho đến một ngày kia, khi mà quốc gia sụm bà chè! lần này thì suy sụp thật, suy sụp vĩnh viễn! lần naỳ không phải mỗi  ngoại sập tiệm mà tất cả đều sập tiệm! Mọi người khép nép hạ mình xuống, mai danh ẩn tích, bôi xóa vết tích thân phận, tẩu tán chôn giấu tài sản, che đậy ăn uống…Tất cả như cơn ác mộng giữa ban ngày!

 Những năm sau đó mặc dù đóng tiệm nhưng ngoại vẫn mua bán lẻ tẻ vụng vặt để mưu sinh, bấy giờ cả nước thành một cái chợ trời khổng lồ, cái gì cũng mua, cái gì cũng bán…Nhưng luôn dòm trước ngó sau. Lúc bấy giờ gã cũng còn là một chú bé con, rất tò mò, hay nghe lóm chuyện người lớn, thích mò vào trong kho hàng cũ của ngoại để lục lạo tìm kiếm ( nhưng chẳng biết tìm cái gì mới lạ chứ!). Gã thích thú nhìn những két bia con cọp Larue chất cao tới nóc ( không biết hồi ấy người nhà uống hay bán lẻ mà vẫn còn những cái két chứa vỏ chai như thế?), những hộp nhựa to dài cả thước dùng đựng giấy quyến ( loại giấy dùng để vấn thuốc lá, nghe người lớn kể laị, những năm sau tháng tư đen ấy, mỗi cây giấy quyến này đổi một cây vàng), những thùng giấy cạc tông (carton) dùng chứa trà Diệu Ký ( một thương hiệu nổi tiếng thời ấy)…Cái kho hàng của ngoại như một góc trời cổ tích của gã. Mỗi ngày đi học về, gã vẫn thường chui rúc vào trong kho hàng ấy như chú bé đi tìm thế giới thần tiên trong truyện cổ tích ngày xưa.

 

Tiểu Lục Thần Phong

Ất Lăng thành, 2/2019

Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
Đúng vậy, sau gần nửa thế kỷ năm nhìn lại vẫn thấy biến cố 30.04.1975 xảy ra quá bất ngờ đối với toàn thể dân VN chúng ta. Bằng chứng hiển nhiên là rất nhiều cấp lãnh đạo VNCH trong chánh quyền và trong quân đội không ngờ được nên đành phải bị bắt đi tù cải tạo cả hàng chục năm để rồi chết dần mòn trong rừng thiêng nước độc. Nói chi đến người dân bình thường thiếu thông tin của cả 2 miền Nam Bắc tất cả không ai cảm thấy hoặc đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Sự thực này chúng ta có thể đọc thấy rõ trên các tài liệu của 2 miền.
Chúng ta chỉ cần vài thập niên để có thể tạo dựng lại một nền kinh tế lành mạnh và hiệu quả nhưng e sẽ mất đến đôi ba thế hệ mới loại bỏ dần được những thói hư (và tật xấu) vừa nêu. Vấn đề không chỉ đòi hỏi thời gian mà còn cần đến sự nhẫn nại, bao dung, thông cảm (lẫn thương cảm) nữa. Nếu không thì dân tộc này vẫn sẽ tiếp tục bước hết từ bi kịch sang bi kịch khác – cho dù chế độ toàn trị và nguy cơ bị trị không còn.
Ôn dịch Vũ Hán gây nên một cơn khủng hoảng chưa từng thấy trong khối các nước nghèo khó khiến 100 quốc gia trong số 189 thành viên IMF hiện đang cầu cứu cơ quan quốc tế này viện trợ khẩn cấp. Tưởng cần nên tìm hiểu bối cảnh của những quốc gia đang phát triển song song với các phân tích về tác động của khủng hoảng.
Đảng Cộng sản Việt Nam đã lộ rõ tâm địa chống dân chủ bằng mọi giá để kéo dài độc tài cai trị, làm giầu bất chính trên lưng người dân nhưng lại ngoan ngoãn cúi đầu trước hành động cướp đất, chiếm Biển Đông của Trung Cộng. Những việc này, tuy không mới, nhưng đã bung ra vào lúc đảng ra sức vận động cán bộ, đảng viên, kể cả cựu lãnh đạo và cựu chiến binh đóng góp ý kiến vào các Dự thảo văn kiện đảng XIII để khoe khoang.
Đại dịch Vũ Hán đang tàn phá Trung Hoa Lục Địa và toàn thể nhân loại. Tuy thế, tai họa này vẫn không giảm thiểu tham vọng bá quyền xâm lược của đảng CSTQ đối với Việt Nam qua các hoạt động tập trận, xâm phạm lãnh hải và vùng kinh tế cũng như hiếp đáp gây thiệt hại cho ngư dân Việt Nam.
Tôi (trộm) nghe nói rằng quân tử ba ngày mà không đọc sách thì diện mạo dơ dáng, và trò chuyện khó nghe. Tôi vốn bẩm sinh mặt mũi không mấy dễ coi, và chuyện trò vô cùng nhạt nhẽo nên (lắm khi) đến vài ba năm cũng chả nhìn đến một cuốn sách nào mà vẫn cứ sống phây phây – chả có (trăng) sao gì ráo trọi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.