Hôm nay,  

Thư Gửi Người Lính...

02/10/201910:25:00(Xem: 8643)

Ngày 29 tháng 9, 2019 Nhà Văn Giao Chỉ, San José gởi bài viết có tiêu đề “Nhớ Người Đã Chết” (Viết về các bạn mũ đỏ Trần quốc Lịch, Phan nhật Nam), phổ biến trên Việt Báo Online, 29/9/19. Bải viết có lời kết.. ” ...xin nhớ cho rằng chiến hữu đã ra di. Dù là tướng lãnh hay chỉ là trung đội trưởng, chúng ta mãi mãi nhớ đến người đã chết..”

Bài viết của Tác Giả Giao Chỉ, Niên Trưởng Đại Tá Vũ Văn Lộc tuy nội dung có khác biệt nhưng CÙNG TINH THẦN/MỤC ĐÍCH/YÊU CẦU của bài báo: “Với Những Người Lính Nhảy Dù vắng mặt..” của Phan Nhật Nam phổ biến trên Người Việt Online, Ngày 5/9/2019. Thế nên tôi xin được phép trình bày Lá Thư Ngõ nầy gởi đến Niên Trưởng Giao Chỉ Vũ Văn Lộc - Tất cả những Chiến Hữu nào có liên quan. Vì xét thấy câu chuyện Tác Giả Giao Chỉ đề cập không chỉ liên quan đến hai cá nhân TQL và PNN, mà còn tác động đến những Người Lính khác: Người Lính QLVNCH đã HY SINH trong trận chiến để hôm nay chúng ta có được đời sống nơi đất Mỹ, ở hải ngoại nầy nếu nói thật lòng, rốt ráo câu chuyện.. 


Kính Gửi Niên Trưởng Vũ Văn Lộc,

Niên Trưởng đã có phổ biến lá thư đề cập (đính kèm trên) đến Cựu Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh Trần Quốc Lịch và cá nhân tôi, PNN. Tôi xin trả lời về những điểm mà Niên Trưởng Vũ nêu ra một cách khách quan (vì không có gì để không khách quan) và cũng rất chân thực (cũng bởi không có gì để không chân thực). 


#1- Về vấn đế thứ nhất: “..Tâm trạng đó (của PNN) rất trong sáng hay có đôi chút “oán hờn cá nhân” cũng là chuyện thường tình.”  Tôi xin xác chứng: 


#11/Giữa bản thân tôi và Cựu Đại Tá Lữ Đoàn Trưởng LĐ2ND Trần Quốc Lịch (1968-1970) KHÔNG HỀ  CÓ MỘT “OÁN HỜN” NÀO GIỮA HAI CÁ NHÂN. Nếu có (có nhiều) những va chạm, khúc mắc, tranh chấp giữa cá nhân Lữ Đoàn Trưởng TQL là ĐỐI VỚI với các Tiểu Đoàn Trưởng, Lữ Đoàn Trưởng đương nhiệm lúc ấy hiện còn sống ĐỦ nơi Nam, Bắc Cali; Oregon; Ông HTHÁi (hiện ở Sacramento) là một trường hợp điễn hình, cụ thể. Chứ không phải đối với cá nhân PNN, vì với chức vụ, qua công việc (của Đại Úy PNNam nơi Lữ Đoàn 2, 1968-1970) thì không hề có “LIÊN QUAN CÁ NHÂN” bất kỳ hình thức nào với LĐTrg/TQL. Những nhân sự của, từ những vụ việc “có liên quan” nầy ĐANG CÒN SỐNG ĐỦ NƠI NAM, BẮC CALI, Ở MỸ- Không phải sự việc của PNNam và vấn đề của lá thư nầy của Tác Giả Giao Chỉ.


#12/Vấn đề PNN ra khỏi binh chủng ND là do QUYẾT ĐỊNH CỦA ĐẠI TƯỚNG TRẦN THIỆN KHIÊM, TỔNG TRƯỞNG QUỐC PHÒNG chứ không hề là quyết định của LĐT/TQL cũng không do từ Tư Lệnh Dư Quốc Đống, hoặc của Đại Tướng TTMT/CVViên. 

Sau 27/1/1973, PNN là Thành Viên Thứ # 41 của BLHQS 4 & 2 Bên/ Trung Ương – Với Quyền Đặc Miễn Ngoại Giao theo quy định Hiệp Định Ba Lê, có hoạt động cấp quốc gia, nhận lãnh, hoàn tất những công tác quan trọng.. Đại diện VNCH đi Hà Nội lãnh Tù Binh Mỹ (Thiếu Tá John McCain; Pete Peterson..3/1973); Trao trả Huỳnh Văn Trọng, Nguyễn Long, Huỳnh Tấn Mẫm, thành phần trí thức, sinh viên phản chiến.. ở Lộc Ninh (7/1973). Dự thảo tổng kết các phiên họp cấp trưởng đoàn gởi đến Ủy Ban Thi Hành Hiệp Định Ba Lê (Tướng Cao Hảo Hớn) để nơi đây trình TT/TTKhiêm; TT/NVThiệu, gởi qua phái đoàn VN tại Pháp ở La Cell St Cloud. Bao gồm viết tham luận Công Tác Thi Hành HĐ/Tiểu Ban Tù Binh cho Trường Cao Đảng Quốc Phòng. Cuối cùng, kể từ 10/3/1975, ngày quân BV tấn công Ban Mê Thuộc là sĩ quan BLHTƯ đi đến các Quân Khu (I&II) lập tường trình vi phạm của CS tại thời điểm nguy ngập Tháng 3,  4, 1975. Công tác ngày chỉ chấm dứt trong sáng ngày 29/4/1975 để từ trụ sở BLHQS đến trình diện Đại Tá Tham Mưu Phó BTL/SĐND Nguyễn Phẩm Bường, Trại Hoàng Hoa Thám cùng trong Tân Sơn Nhất. Nói rõ như thế để NT thấy cá nhân tôi PNN KHÔNG VIỆC GÌ PHẢI “OÁN HỜN” ông TQL khi ra khỏi Lữ Đoàn 2. Sau 27/1/1973, ở Ban Liên Hợp, tôi lại đặt dưới quyền của Trung Tướng Dư Quốc Đống. Tuy nhiên, vấn đề vì sao ra khỏi binh chủng? Và chuyển đi đâu, như thế nào.. KHÔNG PHẢI LÀ NỘI DUNG VÀ YÊU CẦU CỦA LÁ THỨ NẦY.


#2- Vần đề thứ hai: “Nhưng anh (pnn) liền bị các chiến hữu phản đối mạnh mẽ và đến lượt chính anh bị tổ cáo vì coi thường kỷ luật trong nhiệm vụ dưới màu áo lính..” 


#21-Tôi và LQTrg (Hiện ở San José) là hai Thiếu Úy K.18 được đặc cách lên Trung Úy đầu tiên của khóa 18 ở Nhẩy Dù (19/6/1965); và được chỉ định giữ chức Quyền Đại Đội Trưởng ĐĐ50/TĐ5ND và Q.Đại Đội Trưởng ĐĐ/72/TĐ7ND (Biên Hòa). Tháng 12/1965. hai chúng tôi được đưa về Tiểu Đoàn 9 (Sài Gòn) tân lập để giữ chức ĐĐTrg hai Đại Đội 91, 93 của tiểu đoàn tân lập nầy. Bộ Tư Lệnh Lữ Đoàn Nhẩy Dù không thể giao Đại Đội 93 tân lập cho một viên trung úy gọi là “coi thường kỷ luật!” Nói thêm chi tiết: Vào thời điểm 1965, các Khóa 14 Đà Lạt dẫu đã mang cấp bậc Đại Úy (Các Đại Úy Nguyễn Đình Bảo, Nguyễn Chí Hiếu, Đào Trọng Tuyển..) vẫn chỉ là những Đại Úy Đại Đội Trưởng. Đại Úy Nguyễn Khoa Nam là Tham Mưu Trưởng Chiến Đoàn 1 đến 1/11/1965 lên Thiếu Tá chuyển về giữ Tiểu Đoàn 5 ND..  


#22- Vấn đề thứ hai: “Chiến công hay tội ác” của Phan Nhật Nam là những tác phẩm phóng sự chiến trường đã đưa tên bạn bè của anh, đã đưa những địa danh chiến trường đất nước vào các trang sách bất tử.” 

Tôi không có “chiến công” nếu so sánh với các bạn đồng khóa: 5/12 Tiểu Đoàn Trưởng; 2 Trưởng Phòng 3 của SĐND (1965-1975); Sĩ Quan Thủ Khoa đầu tiên tử trận của 31 khóa Đà Lạt (ThÚy Ng Anh Vũ/TĐ1ND, tử trận 8/1964); Sĩ quan lên cấp nhanh nhất kể cả của quân sử thê giới (Thiếu Úy BĐQ NgVnÚc, 23/11/63 Thiếu Úy-1/1/65, Đại Úy thực thục); 13 tử trận của 15 Thiếu Úy về SĐ1BB sau 1963.. 

Tôi cũng không có “tội” nào xúc phạm, mất uy danh QLVNCH, qua văn phẩm đã viết nên và hành vi thực hiện  từ ngày mặc áo lính, 23/11/1961 cho đến hôm nay, 10/2019. Mà chỉ luôn xử dụng chữ viết, lời văn để xác chứng: Cuộc Chiến Đấu Chính Nghĩa của VNCH và Người Lính QL/VNCH  là một nhiệm mầu! 



#3- Vấn đề thứ Ba: “Từ sư đoàn 5 Lịch bị thuyên chuyển về làm chánh thanh tra quân đoàn 4 tại Cần Thơ. Rồi lại bị thanh tra trung ương điều tra và giam giữ... Đại tá Lịch nhận sư đoàn 5 tháng 9 năm 1972 đến tháng 11 lên chuẩn tướng nhiệm chức. Một năm sau tháng 11-1973 bàn giao cho Lê Nguyên Vỹ. Tài liệu an ninh cho biết tìm thấy gạo và thuốc tây trong mật khu xuất xứ liên quan đến sư đoàn 5 thời kỳ anh Lịch trách nhiệm. Quân đội bèn phạt quân kỷ và lấy lại ngôi sao nhiệm chức của chuẩn tướng Lịch. Tin đồn bán súng, bán xe và bán cả thiết giáp cho Việt Cộng là đồn láo.”  


Vấn đề nầy PHẢI ĐƯỢC nói rõ với những CHỨNG CỚ NHƯ SAU:

#31- Hình ảnh xe, gạo, quân trang dụng, quân khí đem đi bán.. ĐÃ ĐƯỢC CHỤP HÌNH DO CƠ QUAN AN NINH QUÂN ĐỘI, TÌNH BÁO QUÂN ĐOÀN III; CIA, CORPS/VÙNG III tập trung, phân loại. 

#32- Phó Giám Đốc Quân Lao, Thiếu Tá Trần Công Danh (K.18 của PNN;, cựu ĐĐTrg/TĐ2ND, thời Thiếu Tá Lê Quang Lưỡng (1965-1967) giữ hồ sơ có định rõ tội danh các quân phạm TQL, NCH.. 

#33- Từ vị thế #2, TT/TCDanh ĐÃ đưa các Luật Sư ĐXHiệp; NVNgân (hiện sống nơi Nam Cali) vào gặp các quân phạm trước khi đưa nội vụ ra Tòa Án Mặt Trận xét xử. 

#34-Nội vụ được Thẫm Phán Đại Tá Quân Pháp Từ Dương trách nhiệm thi hành. ĐT/TDg hiện đang sống nơi Cali)

#35- Quyết định giáng cấp từ Chuẩn Tướng–Đại Úy; Từ Đại  Tá - Thiếu Úy.. là biện pháp QUÂN PHÁP để VÔ HIỆU HÓA CÁC HUY CHƯƠNG BẢO QUỐC HUÂN CHƯƠNG TRƯỚC KHI XÉT XỬ, và tống giam tại QUÂN LAO GÒ VẤP không là hình phạt QUÂN KỸ. 

#35-Quả đúng là có chiến dịch Tố Tham Những cuối 1974 điễn hình với Linh Mục Trần Hữu Thanh, báo chí thiên tả Sài Gòn (Nhóm Hồng Sơn Đông, Lý Qúy Chung, Lý Chánh Trung, Ngọc Lan, Chơn Tín.. được CIA, phía Mỹ cung cấp hồ sơ..) Và vụ SĐ5BB/TQL nằm trong mục tiêu của chiến dịch nầy do phía Mỹ chủ trương để rút bỏ VN có chính danh.. Hơn thế nữa, LĐTrg/TQL đã bị BTL/QĐIII (Tướng ĐCTrí) nhắm sẵn từ 1968 ngay sau khi ông Lịch từ Tiểu Đoàn 3 về nắm Lữ Đoàn 2. Nội vụ nầy có nhiều chi tiết không nằm nội dung, tinh thần của lá thư niên trưởng gủi cho tôi.    


Thưa Niên Trưởng Vũ, từ 1970- 2019 tôi có gặp ông TQL một lần nơi bến Xe Đò Hoàng mấy năm trước. Nhưng do việc ông ấy xuất hiện nơi Đại Hội Nhảy Dù lần thứ 39 (30; 31/8/2019) ở Nam Cali là vi phạm đến NGUYÊN TÁC VÀ CHÍNH DANH - Cựu Đại Tá Lữ Đoàn Trưởng/LĐ2ND # Đại Úy Quân Phạm khiến tôi phải nói lên nhân danh những Người Lính Vắng Mặt (Còn sống hay đã chết).


Xin xác nhận thêm một lần: TÔI LÊN TIẾNG THAY NHỮNG NGƯỜI VẮNG MẶT KHÔNG ĐỀ CẬP ĐẾN NHỮNG NGƯỜI THAM DỰ ĐẠI HỘI LÀ SỰ VIỆC TÔI KHÔNG CÓ LIÊN HỆ. 


Kính thư 

Thiếu Úy Phan Nhật Nam,

Tiểu Đoàn 7 Nhẩy Dù –KBC 4919

*****

Ghi chú của tòa soạn Việt Báo: Bài này là bài cậy đăng không phản ảnh quan điểm và lập trường của Việt Báo.

Niềm vui trong Ngày Hội Ngộ, với đặc san được quý nương “khen” còn mấy ông già chồng chỉ gật gù “mầy giữ gìn sức khỏe để tiếp tục”. Tháng 5 năm 2020 và tháng 5 năm nay vì cái dịch Covod-19, không có cơ hội gặp nhau. Dù “ghét cay ghét đắng” mấy ông già chồng hành hạ “con dâu” nầy nhưng không được dịp hội ngộ với nhau, nhớ nhiều.
Khi đối với cha mẹ có thể cung kính mà vui vẻ, mới là tận Hiếu. Chữ “Kính” nhấn mạnh việc không để xảy ra sơ suất dù rất nhỏ, phụng dưỡng cha mẹ già xuất phát từ nội tâm, với khuôn mặt vui vẻ, mới có thể nói là “Hiếu.” Người già không khác những đứa trẻ, nhiều khi hay tủi thân, hờn dỗi và dễ phiền muộn. Con cái có thể cho cha mẹ ăn uống, hầu hạ cha mẹ khuya sớm nhưng rất khó biết đến nỗi buồn của cha mẹ lúc về già.
Giáo hội xin tán thán tinh thần hộ đạo và tu đạo của quí Thiện nam Tín nữ trong hoàn cảnh tai ương đầy kinh hãi hiện nay. Tất cả năng lực và công đức lớn lao này của người đệ tử, chúng con xin dâng lên cúng dường đức Thế Tôn trong ngày Đản sinh. Hàng trăm ngàn trái tim, hàng vạn ngàn bàn tay siết chặt giữa những thương đau tràn ngập của nhân loại, chúng con nguyện quán chiếu thật sâu sự khổ nạn hiện nay để kiên nhẫn mà vượt qua.
Có lẽ cả Trung Cộng lẫn Hoa Kỳ đều không mong muốn việc khơi mào cho một cuộc xung đột vũ trang, nhưng trước thái độ xác quyết của tổng thống Joe Biden, Trung Cộng hiểu rằng họ đang đối đầu với một đối thủ nguy hiểm gấp bội lần so với những năm qua.
Với chế độ độc đảng toàn trị hiện hành, với bộ máy tam trùng hiện tại, với văn hoá tham nhũng hiện nay, và với chủ trương cấm tự do báo chí cố hữu … thì chuyện sống được bằng lương mãi mãi chỉ là một kỳ vọng xa vời. Vô phương thực hiện!
Hội nghị Paris là một quá trình đàm phán giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt kể từ ngày 13 tháng 5 năm 1968, sau ngày 25 tháng 1 năm 1969 có thêm Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam (MTGPMN) tham gia. Ngoài 202 phiên họp chính thức của bốn bên, còn có thêm 24 cuộc mật đàm khác giữa Henry Kissinger và Lê Đức Thọ, Xuân Thủy. Cuối cùng, hội nghị kết thúc sau bốn năm chín tháng và bốn bên chính thức ký kết Hiệp định Paris để chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam vào ngày 27 tháng 1 năm 1973.
Ngày 30 tháng Tư năm 1975 khép lại trang sử Việt của hai lực lượng dân tộc đối đầu nhau trong thế tương tranh quốc tế giữa tư bản và cộng sản. Thế tương tranh này kéo dài từ tranh chấp giữa hai triết thuyết xuất phát từ phương Tây – Duy Tâm và Duy Vật, đã làm nước ta tan nát. Việt Nam trở thành lò lửa kinh hoàng, anh em một bọc chém giết nhau trong thế cuộc đảo điên cạnh tranh quốc tế.
Galang là tên một đảo nhỏ thuộc tỉnh Riau của Indonesia đã được chính phủ nước này cho Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp quốc sử dụng trong nhiều năm để người tị nạn Đông Dương tạm trú, trong khi chờ đợi được định cư ở một nước thứ ba. Trong vòng 17 năm, kể từ khi mở ra năm 1979 cho đến lúc đóng cửa vào năm 1996, Galang đã là nơi dừng chân của hơn 200 nghìn người tị nạn, hầu hết là thuyền nhân vượt biển từ Việt Nam và một số người Cam Bốt.
Hình ảnh thay cho ngàn lời nói, ghi nhận rõ "sự hấp hối" của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, ghi lại cảnh hỗn loạn, sự hoảng hốt, nỗi lo sợ của dân chúng lũ lượt rời nơi đang sinh sống, đã bỏ nhà cửa trốn chạy trước khi VC tràn vào thành phố
Chúng ta liệu có thể đóng vai trò giúp đỡ những người nhập cư và tị nạn trong tương lai như là người Mỹ đã từng làm cho chúng ta không? Theo lời của Emma Lazarus, liệu chúng ta có nâng “... ngọn đèn bên cạnh cánh cửa vàng” cho “... kẻ bão táp, người vô gia cư ... người mệt mỏi, người nghèo khổ” không? Đối với chúng tôi, trong ngày 30 tháng 4 này, không có câu hỏi nào có ý nghĩa và tính quan trọng hơn câu hỏi này.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.