Hôm nay,  

Thư Gửi Người Lính...

02/10/201910:25:00(Xem: 8508)

Ngày 29 tháng 9, 2019 Nhà Văn Giao Chỉ, San José gởi bài viết có tiêu đề “Nhớ Người Đã Chết” (Viết về các bạn mũ đỏ Trần quốc Lịch, Phan nhật Nam), phổ biến trên Việt Báo Online, 29/9/19. Bải viết có lời kết.. ” ...xin nhớ cho rằng chiến hữu đã ra di. Dù là tướng lãnh hay chỉ là trung đội trưởng, chúng ta mãi mãi nhớ đến người đã chết..”

Bài viết của Tác Giả Giao Chỉ, Niên Trưởng Đại Tá Vũ Văn Lộc tuy nội dung có khác biệt nhưng CÙNG TINH THẦN/MỤC ĐÍCH/YÊU CẦU của bài báo: “Với Những Người Lính Nhảy Dù vắng mặt..” của Phan Nhật Nam phổ biến trên Người Việt Online, Ngày 5/9/2019. Thế nên tôi xin được phép trình bày Lá Thư Ngõ nầy gởi đến Niên Trưởng Giao Chỉ Vũ Văn Lộc - Tất cả những Chiến Hữu nào có liên quan. Vì xét thấy câu chuyện Tác Giả Giao Chỉ đề cập không chỉ liên quan đến hai cá nhân TQL và PNN, mà còn tác động đến những Người Lính khác: Người Lính QLVNCH đã HY SINH trong trận chiến để hôm nay chúng ta có được đời sống nơi đất Mỹ, ở hải ngoại nầy nếu nói thật lòng, rốt ráo câu chuyện.. 


Kính Gửi Niên Trưởng Vũ Văn Lộc,

Niên Trưởng đã có phổ biến lá thư đề cập (đính kèm trên) đến Cựu Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh Trần Quốc Lịch và cá nhân tôi, PNN. Tôi xin trả lời về những điểm mà Niên Trưởng Vũ nêu ra một cách khách quan (vì không có gì để không khách quan) và cũng rất chân thực (cũng bởi không có gì để không chân thực). 


#1- Về vấn đế thứ nhất: “..Tâm trạng đó (của PNN) rất trong sáng hay có đôi chút “oán hờn cá nhân” cũng là chuyện thường tình.”  Tôi xin xác chứng: 


#11/Giữa bản thân tôi và Cựu Đại Tá Lữ Đoàn Trưởng LĐ2ND Trần Quốc Lịch (1968-1970) KHÔNG HỀ  CÓ MỘT “OÁN HỜN” NÀO GIỮA HAI CÁ NHÂN. Nếu có (có nhiều) những va chạm, khúc mắc, tranh chấp giữa cá nhân Lữ Đoàn Trưởng TQL là ĐỐI VỚI với các Tiểu Đoàn Trưởng, Lữ Đoàn Trưởng đương nhiệm lúc ấy hiện còn sống ĐỦ nơi Nam, Bắc Cali; Oregon; Ông HTHÁi (hiện ở Sacramento) là một trường hợp điễn hình, cụ thể. Chứ không phải đối với cá nhân PNN, vì với chức vụ, qua công việc (của Đại Úy PNNam nơi Lữ Đoàn 2, 1968-1970) thì không hề có “LIÊN QUAN CÁ NHÂN” bất kỳ hình thức nào với LĐTrg/TQL. Những nhân sự của, từ những vụ việc “có liên quan” nầy ĐANG CÒN SỐNG ĐỦ NƠI NAM, BẮC CALI, Ở MỸ- Không phải sự việc của PNNam và vấn đề của lá thư nầy của Tác Giả Giao Chỉ.


#12/Vấn đề PNN ra khỏi binh chủng ND là do QUYẾT ĐỊNH CỦA ĐẠI TƯỚNG TRẦN THIỆN KHIÊM, TỔNG TRƯỞNG QUỐC PHÒNG chứ không hề là quyết định của LĐT/TQL cũng không do từ Tư Lệnh Dư Quốc Đống, hoặc của Đại Tướng TTMT/CVViên. 

Sau 27/1/1973, PNN là Thành Viên Thứ # 41 của BLHQS 4 & 2 Bên/ Trung Ương – Với Quyền Đặc Miễn Ngoại Giao theo quy định Hiệp Định Ba Lê, có hoạt động cấp quốc gia, nhận lãnh, hoàn tất những công tác quan trọng.. Đại diện VNCH đi Hà Nội lãnh Tù Binh Mỹ (Thiếu Tá John McCain; Pete Peterson..3/1973); Trao trả Huỳnh Văn Trọng, Nguyễn Long, Huỳnh Tấn Mẫm, thành phần trí thức, sinh viên phản chiến.. ở Lộc Ninh (7/1973). Dự thảo tổng kết các phiên họp cấp trưởng đoàn gởi đến Ủy Ban Thi Hành Hiệp Định Ba Lê (Tướng Cao Hảo Hớn) để nơi đây trình TT/TTKhiêm; TT/NVThiệu, gởi qua phái đoàn VN tại Pháp ở La Cell St Cloud. Bao gồm viết tham luận Công Tác Thi Hành HĐ/Tiểu Ban Tù Binh cho Trường Cao Đảng Quốc Phòng. Cuối cùng, kể từ 10/3/1975, ngày quân BV tấn công Ban Mê Thuộc là sĩ quan BLHTƯ đi đến các Quân Khu (I&II) lập tường trình vi phạm của CS tại thời điểm nguy ngập Tháng 3,  4, 1975. Công tác ngày chỉ chấm dứt trong sáng ngày 29/4/1975 để từ trụ sở BLHQS đến trình diện Đại Tá Tham Mưu Phó BTL/SĐND Nguyễn Phẩm Bường, Trại Hoàng Hoa Thám cùng trong Tân Sơn Nhất. Nói rõ như thế để NT thấy cá nhân tôi PNN KHÔNG VIỆC GÌ PHẢI “OÁN HỜN” ông TQL khi ra khỏi Lữ Đoàn 2. Sau 27/1/1973, ở Ban Liên Hợp, tôi lại đặt dưới quyền của Trung Tướng Dư Quốc Đống. Tuy nhiên, vấn đề vì sao ra khỏi binh chủng? Và chuyển đi đâu, như thế nào.. KHÔNG PHẢI LÀ NỘI DUNG VÀ YÊU CẦU CỦA LÁ THỨ NẦY.


#2- Vần đề thứ hai: “Nhưng anh (pnn) liền bị các chiến hữu phản đối mạnh mẽ và đến lượt chính anh bị tổ cáo vì coi thường kỷ luật trong nhiệm vụ dưới màu áo lính..” 


#21-Tôi và LQTrg (Hiện ở San José) là hai Thiếu Úy K.18 được đặc cách lên Trung Úy đầu tiên của khóa 18 ở Nhẩy Dù (19/6/1965); và được chỉ định giữ chức Quyền Đại Đội Trưởng ĐĐ50/TĐ5ND và Q.Đại Đội Trưởng ĐĐ/72/TĐ7ND (Biên Hòa). Tháng 12/1965. hai chúng tôi được đưa về Tiểu Đoàn 9 (Sài Gòn) tân lập để giữ chức ĐĐTrg hai Đại Đội 91, 93 của tiểu đoàn tân lập nầy. Bộ Tư Lệnh Lữ Đoàn Nhẩy Dù không thể giao Đại Đội 93 tân lập cho một viên trung úy gọi là “coi thường kỷ luật!” Nói thêm chi tiết: Vào thời điểm 1965, các Khóa 14 Đà Lạt dẫu đã mang cấp bậc Đại Úy (Các Đại Úy Nguyễn Đình Bảo, Nguyễn Chí Hiếu, Đào Trọng Tuyển..) vẫn chỉ là những Đại Úy Đại Đội Trưởng. Đại Úy Nguyễn Khoa Nam là Tham Mưu Trưởng Chiến Đoàn 1 đến 1/11/1965 lên Thiếu Tá chuyển về giữ Tiểu Đoàn 5 ND..  


#22- Vấn đề thứ hai: “Chiến công hay tội ác” của Phan Nhật Nam là những tác phẩm phóng sự chiến trường đã đưa tên bạn bè của anh, đã đưa những địa danh chiến trường đất nước vào các trang sách bất tử.” 

Tôi không có “chiến công” nếu so sánh với các bạn đồng khóa: 5/12 Tiểu Đoàn Trưởng; 2 Trưởng Phòng 3 của SĐND (1965-1975); Sĩ Quan Thủ Khoa đầu tiên tử trận của 31 khóa Đà Lạt (ThÚy Ng Anh Vũ/TĐ1ND, tử trận 8/1964); Sĩ quan lên cấp nhanh nhất kể cả của quân sử thê giới (Thiếu Úy BĐQ NgVnÚc, 23/11/63 Thiếu Úy-1/1/65, Đại Úy thực thục); 13 tử trận của 15 Thiếu Úy về SĐ1BB sau 1963.. 

Tôi cũng không có “tội” nào xúc phạm, mất uy danh QLVNCH, qua văn phẩm đã viết nên và hành vi thực hiện  từ ngày mặc áo lính, 23/11/1961 cho đến hôm nay, 10/2019. Mà chỉ luôn xử dụng chữ viết, lời văn để xác chứng: Cuộc Chiến Đấu Chính Nghĩa của VNCH và Người Lính QL/VNCH  là một nhiệm mầu! 



#3- Vấn đề thứ Ba: “Từ sư đoàn 5 Lịch bị thuyên chuyển về làm chánh thanh tra quân đoàn 4 tại Cần Thơ. Rồi lại bị thanh tra trung ương điều tra và giam giữ... Đại tá Lịch nhận sư đoàn 5 tháng 9 năm 1972 đến tháng 11 lên chuẩn tướng nhiệm chức. Một năm sau tháng 11-1973 bàn giao cho Lê Nguyên Vỹ. Tài liệu an ninh cho biết tìm thấy gạo và thuốc tây trong mật khu xuất xứ liên quan đến sư đoàn 5 thời kỳ anh Lịch trách nhiệm. Quân đội bèn phạt quân kỷ và lấy lại ngôi sao nhiệm chức của chuẩn tướng Lịch. Tin đồn bán súng, bán xe và bán cả thiết giáp cho Việt Cộng là đồn láo.”  


Vấn đề nầy PHẢI ĐƯỢC nói rõ với những CHỨNG CỚ NHƯ SAU:

#31- Hình ảnh xe, gạo, quân trang dụng, quân khí đem đi bán.. ĐÃ ĐƯỢC CHỤP HÌNH DO CƠ QUAN AN NINH QUÂN ĐỘI, TÌNH BÁO QUÂN ĐOÀN III; CIA, CORPS/VÙNG III tập trung, phân loại. 

#32- Phó Giám Đốc Quân Lao, Thiếu Tá Trần Công Danh (K.18 của PNN;, cựu ĐĐTrg/TĐ2ND, thời Thiếu Tá Lê Quang Lưỡng (1965-1967) giữ hồ sơ có định rõ tội danh các quân phạm TQL, NCH.. 

#33- Từ vị thế #2, TT/TCDanh ĐÃ đưa các Luật Sư ĐXHiệp; NVNgân (hiện sống nơi Nam Cali) vào gặp các quân phạm trước khi đưa nội vụ ra Tòa Án Mặt Trận xét xử. 

#34-Nội vụ được Thẫm Phán Đại Tá Quân Pháp Từ Dương trách nhiệm thi hành. ĐT/TDg hiện đang sống nơi Cali)

#35- Quyết định giáng cấp từ Chuẩn Tướng–Đại Úy; Từ Đại  Tá - Thiếu Úy.. là biện pháp QUÂN PHÁP để VÔ HIỆU HÓA CÁC HUY CHƯƠNG BẢO QUỐC HUÂN CHƯƠNG TRƯỚC KHI XÉT XỬ, và tống giam tại QUÂN LAO GÒ VẤP không là hình phạt QUÂN KỸ. 

#35-Quả đúng là có chiến dịch Tố Tham Những cuối 1974 điễn hình với Linh Mục Trần Hữu Thanh, báo chí thiên tả Sài Gòn (Nhóm Hồng Sơn Đông, Lý Qúy Chung, Lý Chánh Trung, Ngọc Lan, Chơn Tín.. được CIA, phía Mỹ cung cấp hồ sơ..) Và vụ SĐ5BB/TQL nằm trong mục tiêu của chiến dịch nầy do phía Mỹ chủ trương để rút bỏ VN có chính danh.. Hơn thế nữa, LĐTrg/TQL đã bị BTL/QĐIII (Tướng ĐCTrí) nhắm sẵn từ 1968 ngay sau khi ông Lịch từ Tiểu Đoàn 3 về nắm Lữ Đoàn 2. Nội vụ nầy có nhiều chi tiết không nằm nội dung, tinh thần của lá thư niên trưởng gủi cho tôi.    


Thưa Niên Trưởng Vũ, từ 1970- 2019 tôi có gặp ông TQL một lần nơi bến Xe Đò Hoàng mấy năm trước. Nhưng do việc ông ấy xuất hiện nơi Đại Hội Nhảy Dù lần thứ 39 (30; 31/8/2019) ở Nam Cali là vi phạm đến NGUYÊN TÁC VÀ CHÍNH DANH - Cựu Đại Tá Lữ Đoàn Trưởng/LĐ2ND # Đại Úy Quân Phạm khiến tôi phải nói lên nhân danh những Người Lính Vắng Mặt (Còn sống hay đã chết).


Xin xác nhận thêm một lần: TÔI LÊN TIẾNG THAY NHỮNG NGƯỜI VẮNG MẶT KHÔNG ĐỀ CẬP ĐẾN NHỮNG NGƯỜI THAM DỰ ĐẠI HỘI LÀ SỰ VIỆC TÔI KHÔNG CÓ LIÊN HỆ. 


Kính thư 

Thiếu Úy Phan Nhật Nam,

Tiểu Đoàn 7 Nhẩy Dù –KBC 4919

*****

Ghi chú của tòa soạn Việt Báo: Bài này là bài cậy đăng không phản ảnh quan điểm và lập trường của Việt Báo.

Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
Đúng vậy, sau gần nửa thế kỷ năm nhìn lại vẫn thấy biến cố 30.04.1975 xảy ra quá bất ngờ đối với toàn thể dân VN chúng ta. Bằng chứng hiển nhiên là rất nhiều cấp lãnh đạo VNCH trong chánh quyền và trong quân đội không ngờ được nên đành phải bị bắt đi tù cải tạo cả hàng chục năm để rồi chết dần mòn trong rừng thiêng nước độc. Nói chi đến người dân bình thường thiếu thông tin của cả 2 miền Nam Bắc tất cả không ai cảm thấy hoặc đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Sự thực này chúng ta có thể đọc thấy rõ trên các tài liệu của 2 miền.
Chúng ta chỉ cần vài thập niên để có thể tạo dựng lại một nền kinh tế lành mạnh và hiệu quả nhưng e sẽ mất đến đôi ba thế hệ mới loại bỏ dần được những thói hư (và tật xấu) vừa nêu. Vấn đề không chỉ đòi hỏi thời gian mà còn cần đến sự nhẫn nại, bao dung, thông cảm (lẫn thương cảm) nữa. Nếu không thì dân tộc này vẫn sẽ tiếp tục bước hết từ bi kịch sang bi kịch khác – cho dù chế độ toàn trị và nguy cơ bị trị không còn.
Ôn dịch Vũ Hán gây nên một cơn khủng hoảng chưa từng thấy trong khối các nước nghèo khó khiến 100 quốc gia trong số 189 thành viên IMF hiện đang cầu cứu cơ quan quốc tế này viện trợ khẩn cấp. Tưởng cần nên tìm hiểu bối cảnh của những quốc gia đang phát triển song song với các phân tích về tác động của khủng hoảng.
Đảng Cộng sản Việt Nam đã lộ rõ tâm địa chống dân chủ bằng mọi giá để kéo dài độc tài cai trị, làm giầu bất chính trên lưng người dân nhưng lại ngoan ngoãn cúi đầu trước hành động cướp đất, chiếm Biển Đông của Trung Cộng. Những việc này, tuy không mới, nhưng đã bung ra vào lúc đảng ra sức vận động cán bộ, đảng viên, kể cả cựu lãnh đạo và cựu chiến binh đóng góp ý kiến vào các Dự thảo văn kiện đảng XIII để khoe khoang.
Đại dịch Vũ Hán đang tàn phá Trung Hoa Lục Địa và toàn thể nhân loại. Tuy thế, tai họa này vẫn không giảm thiểu tham vọng bá quyền xâm lược của đảng CSTQ đối với Việt Nam qua các hoạt động tập trận, xâm phạm lãnh hải và vùng kinh tế cũng như hiếp đáp gây thiệt hại cho ngư dân Việt Nam.
Tôi (trộm) nghe nói rằng quân tử ba ngày mà không đọc sách thì diện mạo dơ dáng, và trò chuyện khó nghe. Tôi vốn bẩm sinh mặt mũi không mấy dễ coi, và chuyện trò vô cùng nhạt nhẽo nên (lắm khi) đến vài ba năm cũng chả nhìn đến một cuốn sách nào mà vẫn cứ sống phây phây – chả có (trăng) sao gì ráo trọi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.