Hôm nay,  

Hồn Mao Da Nghệ

19/10/201900:00:00(Xem: 4944)

Trương Ba, tuổi còn trẻ, lại giỏi tài đánh cờ tướng, tiếng tăm bay tới bên Tàu. Lúc bấy giờ, bên Tàu có ông Kỵ Như cũng nổi tiếng là vua cờ, nghe danh Trương Ba, bèn qua Việt nam, tìm tới Trương Ba để thi tài cao thấp.

Trương Ba đưa đối thủ lâm vào thế bí, nên có vẻ tự đắc: nước cờ này, Đế Thích cũng phải chịu thua!

Trên Thiên Đình, Đế Thích nghe được lời kiêu ngạo của Trương Ba, tức giận, bèn hạ giới. Ông giúp Kỳ Như gỡ thế bí, chuyển bại thành thắng.

Trương Ba biết người giúp Kỳ Như chắc phải là Đế Thích nên sụp lạy tạ tội xúc phạm bực tiên thánh. Đế Thích bỏ qua và còn cho một thẻ nhang với lời dạy: khi cần ta, hãy đốt lên một cây nhang.

Thời gian sau, Trương Ba bổng ngã ra chết. Ma chay xong, một hôm, chị vợ dọn dẹp nhà cửa, bắt gặp thẻ nhang, bèn lấy ra một cây, đốt lên, đem cắm vào bàn thờ chồng.

Trên Thiên đình, bắt được mùi hương, Đế Thích liền hạ giới. Biết Trương Ba đã chết cả tháng rồi, Ngài tạm dùng xác anh hàng thịt vừa mới chết, gọi Nam Tàu, để sửa sai, hãy trả hồn Trương Ba vào xác anh hàng thịt để cứu người bạn cờ.

Hồn vừa nhập vào xác, anh hàng thịt vụt ngồi dậy, sống lại. Nhưng con người trong anh hàng thịt, giờ đây, là Trương Ba. Sự xung đột mãnh liệt giữa hồn, tức con người nho nhả với cái thân xác kịch cởm, thô bỉ bắt đầu nhưng không có kết thúc nào khác hơn là hồn dần dần bị biến chất theo áp lực thân xác.

Chuyện dân gian được nhà viết kịch Luu Quang Vũ dựng thành kịch nói năm 1981 và năm 1984, đem trình diễn nhiều nơi rất thành công.

“Hồn Mao da Nghệ” là phỏng theo “Hồn Trương Ba da hàng thịt” để nói về một con người thật, tim óc là Mao Trạch-đông, tức cộng sản đặc sệt tuy da, nhơn diện sắc tộc là người xứ Nghệ An.

 

Hồ Chí Minh là đệ tử chơn truyền của Lê nin?

Ngày nay, đang có hiện tượng bênh vực Hồ Chí Minh đi theo cộng sản vì chỉ có Đệ Tam Quốc tế mới chống lại Đế quốc Thực dân.Trước đây có nhiều tổ chức, nhiều phong trào, cũng bôn ba tìm đường cúu nước, nhưng đều thất bại. Mà Hồ Chí Minh đi theo cộng sản là theo Lénine, không theo Staline vì cho rằng Staline là cộng sản cực tả. Cũng như Mao và mao-ít là cực tả (Trần Đĩnh gọi là mao-nhiều). Cánh cực tả ác ôn trong cai trị. Nên ngày nay, Hà nội vẫn kiên quyết đi theo mác-lê và thêm tư tưởng hồ chí minh cho hùng hậu. Là đúng và sáng suốt.

Vậy Lê-nin có gì mà Hồ chí Minh học được?

Tháng Mười 2017, Lê nin cướp được chánh quyền bằng một cuộc đảo chánh – đúng ra chỉ một cuộc binh biến nhỏ. Lập tức, Lê nin dựng lên mô hình cai trị bằng bạo lực. Ông tuyên bố làm chiến tranh thường trực

Học Mác, ông lý thuyết hóa nội chiến làm thành phương tiện cướp chánh quyền. Và giữ chánh quyền. Đó là bài học cách mạng mà cộng sản khắp thế giới không ở đâu không học theo.

Lý thuyết khủng bố hàng loạt của Lê - nin có 2 ý nghĩa: khủng bố do quần chúng làm theo sự xách động của cán bộ cộng sản và khủng bố là tư tưởng trung tân của Lê nin. Khái niệm này được Lê nin đưa ra rất sớm. Vì theo Lê nin, khủng bố là động cơ lịch sử, hoàn toàn do đấu tranh giai cấp thực hiện. Nó làm nổi bậc tương quan lực lượng. Nó là sự thật chánh trị. Vai trò của bạo lực là thanh toán xã họi củ.

Trong chánh trị, Lê-nin đã từng dạy “Thi hành bạo lực triệt để thì chế độ ta không bao giờ bị cướp mất”.

Cái ác ôn của Staline là do học được ở Lê-nin. Có người hỏi Ngoại Trưởng Molotov: Lê-nin và Staline, ai ác hơn ai? Ông trả lời không ngần ngại: Lê-nin là bậc đại gian đại ác, là đại sư phụ của Staline.

Theo Victor Sebestyen, sử gia Anh, trong quyển (“Lenin - The Dictator; An Intimate Portrait” của ông, xuất bản ở Anh), để đạt mục đích, Lê-nin "nói dối trắng trợn" và sẵn sàng bỏ qua lời hứa, cũng vì "mục tiêu Cách mạng".

Victor Sebestyen cho rằng sự tàn bạo của chế độ Liên Xô bắt đầu từ chính Lê-nin chứ không phải từ Staline.

Điểm mấu chốt là từ chỗ lãnh đạo nhóm Bolshevik giành được chánh quyền năm 1917, Lê-nin đã giữ được chánh quyền qua cuộc Nội chiến Nga và tạo ra nhà nước cộng sản đầu tiên bằng bạo lực. Staline chỉ là người kế tục chánh sách bạo lực do Lê-nin dựng lên lúc ông cầm quyền.

Dù lấy cảm hứng từ lý tưởng cộng sản của Karl Marx và tư tưởng xã hội của Friederic Engels, chủ nghĩa do Lê-nin tạo ra cả về lý luận và trên thực tiễn được cho là "nhà nước toàn trị hiện đại đầu tiên" (sau quân chủ với bạo chúa). Những người Bolshevik (cộng sản) đã đem chủ nghĩa xã hội vào thực tế và áp dụng các biện pháp chuyên chế, độc đoán nhằm bẻ gãy sự phản kháng của người dân. Vì thế, mọi mặt của cuộc sống kinh tế, xã hội, văn hóa, trí tuệ và sinh hoạt chính trị tại Liên Xô đều bị Đảng Cộng sản kiểm soát triệt để và mang tính trại lính, không chấp nhận bất cứ phê phán hay dấu hiệu đối lập nào.

Xã hội xã hội chủ nghĩa được xây dựng bằng quyền lực độc đoán của quan chức Đảng Cộng sản và bộ máy quan liêu. Khủng bố được áp dụng không khoan nhượng và các suy nghĩ nhân đạo hoặc tư tưởng cá nhân đều bị gạt đi.

Lớp trí thức củ và cả sinh hoạt đạo đức bị cải tạo. Sự thật, Luân lý, Công lý. Sự tử tế, …dần dần không còn là những gíá trị được xã hội qui chiếu nữa.

Tình trạng xã hội ở Việt nam ngày nay phản ánh rất trung thực xã hội nga dưới thời Lê–nin cai trị.

 

Hồ Chí Minh làm cách mạng dân tộc hay cách mạng cộng sản?

Tại Đại hội II ,Hồ Chí Minh đọc báo cáo do Trường Chinh soạn “Hoàn thành giải phóng dân tộc, phát triển dân chủ nhân dân, tiến tới chủ nghĩa xã hội”. Và cũng từ đây, đảng cộng sản chánh thức đổi ra thành “Đảng Lao Động”. Đảng vẫn khẳng định “đưa cuộc kháng chiến chống Pháp đến thắng lợi hoàn toàn và chuẩn bị những tiền đề đi lên chủ nghĩa xã hội sau khi kháng chiến thành công”. Ngoài ra, đảng còn xây dựng ở mỗi nước Đông Dương một đảng cộng sản riêng. Và sau này, Trung Ương Cục Miền Nam đặc trách luôn cộng sản ở Miên.

Hồ Chí Minh xác định làm cách mạng ở Việt Nam là đánh đuổi xâm lược, làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập, thống nhứt, xóa bỏ những di tích phong kiến và nửa phong kiến, làm cho người cày có ruộng, phát triển chế độ dân chủ nhơn dân, gây cơ sở vật chất-kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội. Con đường tiến đến chủ nghĩa xã hội trải qua một thời gian dài gồm 3 giai đoạn, kế tục nhau và quan hệ mật thiết: kháng chiến tiêu diệt đế quốc xâm lược, giải phóng dân tộc, củng cố Nhà nước Dân chủ nhơn dân, cải cách ruộng đất triệt để, phát triển nông nghiệp, công nghiệp dưới hình thức hợp tác hóa, kỹ nghệ hóa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, xây dựng cơ sở vật chất -kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội.

Cương lĩnh đảng Lao Động xác định mục đích, tôn chỉ, nhiệm vụ lãnh đạo cuộc kháng chiến của nhơn dân đến thắng lợi và nhiệm vụ xây dựng đảng là đảng của giai cấp công nhơn và nhơn dân Lao Động, dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lê nin theo nguyên tắc tập trung dân chủ, sau cùng là chế độ xã hội chủ nghĩa và chế độ cộng sản.

Trường Chinh từng chỉ dạy đảng viên “Chiến tranh giải phóng Việt Nam là một bộ phận của chiến lược giải phóng toàn thế giới theo cộng sản”.

Như vậy, Hồ Chí Minh tuyên bố cách mạng giành độc lập là chỉ để vận động quần chúng đánh giặc giúp cách mạng thành công cho mục tiêu cộng sản.

 

Còn tư tưởng Hồ Chí Minh?

Hà Nội từ năm 1991, Đại hội VII (6/1991), đưa ra cái gọi là “tư tưởng Hồ Chí Minh” là một cách bắt chước rập khuôn theo Tàu. Ở đây, họ đề cao tư tưởng Mao Trạch Đông. Thực chất là theo Tàu, nhưng khi nói tư tưởng Hồ chí Minh, ý của Hà Nội muốn tréc lên một chút son phấn “bản sắc dân tộc” sau khi khối cộng sản Liên Xô và đông Âu sụp đổ.

Khi nói “tư tưởng Hồ Chí Minh”, đảng cộng sản gán cho ông cái “tư tưởng” giả tạo vì chính ông đã từng nói “Tôi không có tư tưởng gì ngoài tư tưởng chủ nghĩa Mác-Lê cả”. Vì đã lỡ nghe nói tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta thử tìm hiểu coi đó là gì?

Về mặt chánh trị, tư tưởng Hồ Chí Minh là sự đề cao Mao và Staline của ông ở Đại hội II, lúc thành lập đảng Lao Động. Quan điểm của Staline mà Hồ chí Minh vô cùng tâm đắc là “Đảng cộng sản là công cụ của chuyên chính vô sản” và “chuyên chính vô sản, về thực chất, được thay thế bởi chuỳên chính của đảng cộng sản”. Hơn nữa, trong thực tế, chuyên chính của đảng cộng sản là chuyên chính của một người, tức của Tổng Bí thư đảng. Boris Souvarine từng khen ngợi Hồ Chí Minh là đệ tử tuyệt trần của Staline.

Còn Mao ảnh hưởng Hồ Chí Minh, thì tưởng không có gì rõ hơn là ý mà Hồ Chí Minh phát biểu tại Đại hội II “Cách mạng Việt Nam phải học nhiều của cách mạng Trung Quốc, Kinh nghiệm và tư tưởng Mao Trạch- đông đã giúp chúng tôi hiểu thấu hơn học thuyết mác-anghen-lênin-stalin. Những người cách mạng Việt Nam phải luôn luôn ghi nhớ và biết ơn Mao Trạch Đông về sự cống hiến to lớn đó”.

Và cũng tại Đại hội II này, Hồ Chí Minh tuyên bố “Ai đó thì có thể sai, chớ đồng chí Staline và đồng chí Mao trạch-đông thì không thể nào sai đưọc”. Có thể còn sự sùng bái nào hơn dược chăng? Và ngày nay, Tàu lấy trọn nước Việt nam thì cũng đúng thôi!

Nói rỏ hơn, theo Phạm Văn Đồng, tư tưởng Hồ Chí Minh gồm có 5 yếu tố chủ yếu: chủ nghĩa Mác-Lê, sự lãnh đạo tuyệt đối của đảng cộng sản, chuyên chính vô sản, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và tinh thần quốc tế vô sản.

Ngoài ra, Hồ Chí Minh vẫn khẳng định “chủ nghĩa Mác-Lê là học thuyết đúng đắn nhứt, cách mạng nhứt, là kim chỉ nam cho hành động” của người cách mạng.

Người cộng sản vẫn khẳng định rằng “tư tưởng Hồ Chí Minh là một sự vận dụng nhuần nhuyễn chủ nghĩa Mác-Lê vào điều kiện cụ thể của nước ta”, nhưng trong thực tế, từ xưa nay, họ chỉ biết áp dụng rập khuôn, một cách máy móc kinh nghiệm của Liên-Xô và Trung Quốc mà không quan tâm tới hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam nên gây ra hậu quả vô cùng thảm hại như cải cách ruộng đất, cải tạo công thương nghiệp, cải tạo tư sản, chánh sách kinh tế mới,…

Ngoài ra, khi ở Nga, Staline thanh trừng Trostky, ở Việt Nam, Hồ Chí Minh cũng nhiệt tình hưởng ứng, đi lùng tiêu diệt nhóm Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Hồ Văn Ngà, Trần Văn Thạch,… mà Hồ Chí Minh gọi “đàn chó trốt-kít, bọn phản động, gián điệp, tay sai đế quốc, những kẻ đầu trâu mặt ngựa, những kẻ thù của nền dân chủ và tiến bộ,… ”

Về mặt kinh tế, Hồ Chí Minh cũng chủ trương tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, tức xóa bỏ các hình thức sở hữu không xã hội chủ nghĩa, làm cho nền kinh tề gồm nhiều thành phần phức tạp trở nên một nền kinh tế thuần nhứt, dựa trên chế độ sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể. Và Hồ Chí Minh còn nói thêm “Kinh tế quốc doanh là hình thức sở hữu của toàn dân, nó lãnh đạo nền kinh tế quốc dân, Nhà nước phải bảo đảm cho nó phát triển ưu tiên, tạo nền tảng vững chắc cho chủ nghĩa xã hội, thúc đẩy cải tạo xã hội chủ nghĩa”.

Tư tưởng Hồ Chí Minh hoàn toàn là chủ nghĩa Mác-Lê và tư tưởng Mao Trạch Đông mà ông học được. Ở Hồ Chí Minh không có bản sắc dân tộc. Trên báo Thanh Niên phát hành tại Quảng Châu, số 22/12/1926, Hồ Chí Minh nói rõ quan điểm của ông về Dân tộc, Tổ quốc “Cái danh từ Tổ quốc là do các chánh trị gia đặt ra để đè đầu nhơn dân, để buộc những người vô sản phải cầm vũ khí bảo vệ tài sản của địa chủ và quyền lợi của giai cấp tư sản. Thực ra, chẳng có Tổ quốc, cũng chẳng có biên giới… ”.

Hồ Chí Minh từ lúc chọn theo Quốc Tế Đệ Tam cho tới ngày chết, trước sau, tự tu luyện để trở thành người cộng sản tinh ròng. Những biểu hiện độc lập dân tộc chỉ là thứ «vạn biến» để phục vụ cho cái bất biến là cộng sản. Trong di chúc, Hồ chúc cho vô sản thế giới thắng lợi để thế giới trở thành cộng sản. Và khi chết, Hồ sẽ hạnh phúc đi gặp cụ Mác, cụ Lê chớ không phải đi gặp Cụ Sắc, Bà Loan hay Anh Đạt, Chị Thanh.

Cău truyện dân gian «Hồn Trương Ba da hàng thịt» thể hiện rất chính xác vào Hồ, đội lốt người Nghệ An, tức người Việt nam, nhưng tim óc hoàn toàn là Mao, là Staline.

 

Nguyễn thị Cỏ May

Giữa mùa đại dịch COVID-19, tại những buổi tường trình mỗi ngày, Tổng thống Mỹ Donald Trump và Phó Tổng thống Mike Pence không ngớt tiên đoán sự lớn mạnh vượt bực của kinh tế quốc gia Hoa Kỳ sau khi tình hình dịch tễ lắng đọng. Hai ông nhấn mạnh rằng kinh tế Mỹ hậu-COVID-19 sẽ tìm lại thế quân bằng sau những chao đảo khiếp hãi khiến cả 40 triệu nhân công thất nghiệp trong vòng vỏn vẹn ba tháng trời. Đầu tháng Sáu, hy vọng bắt đầu le lói khi guồng máy kinh tế rục rịch mở cửa lại, ai nấy trông đợi ánh sáng tỏa lớn cuối đường hầm.Tuy nhiên, mặc dù người ta có quyền hy vọng vào sự thịnh vượng chung, nhưng sự thật là đối với các thành phần ít may mắn hơn trong xã hội (vâng, phần đông trong đó là những sắc dân da màu thiểu số), khó khăn kinh tế gần như là một điều chắc chắn. Ai cũng tưởng sau khi COVID-19 giáng một đòn chí tử lên kinh tế Hoa Kỳ, thì khoảng cách chênh lệch giữa hai thành phần giàu-nghèo sẽ phần nào thu hẹp, nhưng oái oăm thay, mọi bằng chứng cho thấy sự khác biệt ấy
Do đó, chỉ khi nào người dân được quyền trực tiếp chọn Lãnh đạo qua bầu cử tự do, công bằng và dân chủ thì khi ấy những kẻ bất tài, có thành tích xấu, hay chỉ biết thu vét cho đầy túi tham, lợi ích nhóm hay làm tay sai cho Ngoại bang mới bị loại khỏi đội ngũ cầm quyền. Ngược lại, nếu vẫn tiếp tục chọn người theo thông lệ “đảng cử dân bầu” hay “đảng chọn, cán bộ bỏ phiếu” thì có trăm năm, nhân dân Việt Nam vẫn chưa tìm thấy ánh sáng ở cuối đường hầm.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất tự do.
Thây xác trưng ra đó / Còn chưa đủ thối inh? / Mua chi thêm bầy ngựa / Cứt vung cả Ba Đình! - Trần Bang
Tôi sinh ra trong một cái xóm rất nghèo, và (tất nhiên) rất đông trẻ nhỏ. Cùng lứa với tôi, có cả tá nhi đồng mà tên gọi đều bắt đầu bằng chữ út: Út lé, Út lác, Út lồi, Út lùn, Út hô, Út còi, Út ghẻ, Út mập, Út sún, Út sứt, Út méo, Út hô, Út đen, Út ruồi, Út xẹo, Út trọc … Cứ theo cách thấy mặt đặt tên như vậy, người ta có thể nhận dạng và biết được thứ tự của đứa bé trong gia đình mà khỏi phải giới thiệu (lôi thôi) kiểu cách, theo kiểu Âu Tây: – Còn đây là thằng út, nó tên là Út rỗ. Vùa lọt lòng thì cháu rơi ngay vào một cái … thùng đinh! Riêng trường hợp của tôi thì hơi (bị) khác. Tôi tên Út khùng. Lý do: khi mới chập chững biết đi, tôi té giếng. Khi tìm ra con, nắm tóc kéo lên, thấy thằng nhỏ mặt mày tím ngắt, chân tay xụi lơ, bụng chương xình, má tôi chỉ kêu lên được một tiếng “rồi” và lăn ra bất tỉnh.
Chúng ta thấy gì qua những cuộc biểu tình và bạo lực tiếp theo sau cái chết của người thanh niên da đen George Floyd bị người cảnh sát da trắng Derek Chavin dùng đầu gối đè cổ nghẹt thở chiều ngày 25-5-2020 tại thành phố Minneapolis, bang Minnesota? Hàng trăm cánh sát dã chiến với trang bị tác chiến và măt nạ chống khói độc đối đầu với hàng ngàn người biểu tình đòi công lý cho George Floyd và đòi được sống bình đẳng với người Mỹ da trắng. Đó là cuộc đấu tranh chính đáng chống lại áp bức, chống lại bất công của một xã hội đa chủng đa văn hóa như nước Mỹ.
Có vài kinh điển đã nói đến chiến tranh và dùng bạo lực để trừng phạt, nhưng tìm cách biến đổi quan điểm thông thường của thế gian là bạo lực cũng đôi khi cần thiết bằng cách là đối thoại với một lý tưởng không dùng bạo lực. Về điểm này, Phật có nói đến mình như một người xuất thân từ giai cấp lãnh chuá. Trong hai bài pháp ngắn, Phật có bình luận về hai cuộc chiến xảy ra khi ác vương A Xà Thế, Ajàtasattu, tấn công vào lãnh thỗ của chú mình là vua Ba Tư Nặc, Pasenadi, cũng là một tín đồ của Ngài, và được coi như là người luôn làm việc thiện. Trong cuộc chiến đấu tiên, vua Pasenadi bị đánh bại và rút lui. Đức Phật có suy nghĩ về sự bất hạnh này và ngài nói rằng: “Chiến thắng gieo thêm hận thù, người bại trận sống trong đau khổ. Hạnh phúc thay cho một đời sống an hoà, từ bỏ đưọc mọi chuyện thắng thua. Điều này cho thấy rõ rằng sự chinh phục đem lại bi đát cho người thua cuộc mà chỉ đưa tới thù hận và dường như chỉ muốn chinh phục lại kẻ chinh phục.”
Chiều ngày 29/5 sau phiên xử phúc thẩm, một người dân ở xã Bình Phước, ông Lương Hữu Phước, đã trở lại toà án và nhảy từ lầu hai của toà để tự sát. Hình ảnh ông nằm chết, co quắp ngay trước sân toà nói lên nỗi tuyệt vọng, sự cô đơn cùng cực của người dân VN trước các phán quyết của toà án. Tôi chạnh nhớ đến câu nói của thầy giáo Nguyễn Năng Tĩnh trong phiên phúc thẩm của anh: “một lũ bất nhân đã làm ra phiên toà bất công”.
Ôi, tưởng gì chớ tật xấu của đàn ông (nói chung) và đàn ông Việt Nam (nói riêng) thì e đám đàn bà phải càm ràm cho tới… chết – hay ngược lại. Không mắc mớ gì mà tôi lại xía vô mấy chuyện lằng nhằng (và bà rằn) cỡ đó. Nhưng riêng hai chữ “cái làn” trong câu nói (“Lắm đấng ông chồng vui vẻ xách làn đi chợ…”) của Phạm Thị Hoài thì khiến tôi bần thần, cả buổi! Năm 1954, cái làn (cùng nhiều cái khác: cái bàn là, cái bát, cái cốc, cái ô, cái môi, cái thìa…) đã theo chân mẹ tôi di cư từ Bắc vào Nam. Cuộc chung sống giữa cái bàn là với cái bàn ủi, cái bát với cái chén, cái cốc với cái ly, cái ô với cái dù, cái môi với cái vá, cái thìa với cái muỗm… tuy không toàn hảo nhưng (tương đối) thuận thảo và tốt đẹp.
Hoa phượng được Nhất Tuấn gọi là hoa học trò vì thuở đó hầu như ngôi trường nào cũng trồng cây phượng trong sân trường. Khi phượng đơm hoa báo hiệu cho mùa Hè cũng là thời điểm chia tay sau niên học. Để lưu niệm, nữ sinh đóng tập Lưu Bút giấy pelure xen kẽ các sắc màu, trông thật nhã, ghi cảm nghĩ cho nhau… Ở lớp Đệ Tứ, không còn học chung nhau vì lên lớp Đệ Tam theo ban A, B, C và lớp Đệ Nhất là thời điểm chia tay vĩnh viễn, tập Lưu Bút dày hơn, chia sẻ, tâm tình… của tuổi học trò. Hầu như nam sinh không có Lưu Bút, chỉ được xía phần, dù có tinh nghịch nhưng phải viết đứng đắn, lịch sự.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.