Hôm nay,  

Vàng Hời

25/10/201900:00:00(Xem: 5442)

 Mới bốn giờ sáng mọi người đã lục tục nhóm chợ rồi, ánh đèn dầu, đèn măng sông, đèn bạch lạp… lung linh như sao sa. Kẻ gánh người gồng, xe đẩy, cộ kéo… nườm nượp chuyển hàng vaò chợ, các gian hàng trong mươi dãy lều cũng đã bày biện xong. Các bà, các cô tranh thủ làm tô bún, dĩa bánh bèo bữa sáng để chuẩn bị cho phiên chợ cuối tháng.

 Mặt trời lên chừng tám con sào thì chợ đã đông nghịt, dân các tổng: long, An, Thành, Thạnh, Thế , Mỹ, Tài… đổ về mua bán, trao đổi sản vật. Tổng Long Nhơn nổi tiếng trù phú và giàu có nhất vùng bởi vì vừa có chợ laị nằm bên bến sông. Người ta bảo:” Nhất cận thị nhị cận giang” quả thật không sai chút nào! Những tưởng phiên chợ sẽ rộn ràng lắm vì thường những phiên cuối tháng đều thế cả nhưng hôm nay có vẻ lạ lùng. Người ta tụm năm tụm ba xì xầm gì đấy, vẻ mặt mọi người có vẻ thần bí. Người ta kháo nhau:

 - Bà Hộ Mễ chết rồi!

 Bà Tư hàng xén kể lể:

 - Tối qua thằng Lân, con trai chở bả  đi thâu tiền hụi, bả ngồi thế nào mà ngã ngửa ra chấn thương sọ não, chưa kịp chở đi nhà thương thì chết mất!

 Cái tin bà Hộ Mễ chết làm xôn xao cả chợ và các tổng quanh vùng. Bà Hộ Mễ nổi tiếng giàu có, không biết tên cúng cơm là gì nhưng vì bà buôn gạo, thóc, ngũ cốc. Chồng bà có hàm bá hộ nên người ta gọi là bà Hộ Mễ. Người ta đồn năm ngoái bà đưọc vàng Hời nên đã giàu laị giàu thêm. Có người thấy bà có buồng cau vàng nhưng có kẻ khác laị khẳng định đó là buồng dừa. Nhiều người nói bóng gió về việc được vàng Hời thì bà cũng ỡm ờ:

 - Trời đất, ai đồn chi thất đức vậy? vàng Hời mà được thì cũng dễ chết lắm đa! 

Thế rồi khi bà té xe chết, người ta nhớ lời bà nên càng tin chắc bà đã được vàng Hời. Ông Bảy Nề kể cho mấy bạn nhậu của ổng rằng:

 - Vàng Hời vốn đã bị ếm, người Hời có lời nguyền ai mà lấy được sẽ chết bất đắc kỳ tử. Lúc tui còn nhỏ có theo nội lên chùa, nội tui dạy: hễ ai được vàng Hời thì phải lên tháp chạy quanh bảy vòng, vừa chạy vừa hát:

 Của thiên trả địa

 Trời đất phân chia

 Vàng Hời đất Việt

 Chớ tiếc làm chi

 Của thế người đi

 Đó cho đây lấy

 Linh tại tháp này

 Lòng ngay lời thật

 Thần Phật chứng tri

 Từ bi gia hộ

Thì sẽ giải được mọi buà ngải và lời ếm trên vàng, sau đó về phải cúng đình, phát chẩn… sẽ không bị chết, còn nếu không thì sẽ chết bất đắc kỳ tử. Bà Hộ Mễ được vàng Hời mà không làm theo nên phải chết oan mạng.

 Ông Bảy Nề còn nói chứng:

 - Xóm chùa có ông sáu Sự được con ngỗng vàng bằng nắm tay, cô Bốn Hóa được tưọng Shiva vàng bằng trái cóc, thằng Đực được mặt chuyền hai lượng… nhưng có ai chết đâu, vì họ biết làm theo cách mà tui mới nói. Vàng Hời vốn không phải của mình, mình được thì mình phải biết làm phước thì mới an được chứ! Còn tham quá cứ muốn ăn hết thì bị vật là phải rồi.

 Từ chợ Bà Bâu qua xóm chùa phải băng qua gò Yến, người ta đồn gò Yến ma nhiều lắm, những lúc chạng vạng hay gà gáy ma Hời khóc than tỉ tê nghe rợn cả người. Gò Yến có nhiều mả Hời nhất của mấy tổng quanh đây, những cái mả đắp bằng vôi, ô dước tròn lum lum như những con rùa khổng lồ. Những cái mả không biết có tự bao đời rồi, chẳng ai dám động đến. Ban ngày người ta còn dám băng qua nhưng khi chiều về mấy bà đi chợ về đành lội ngược ra con lộ rồi đi vòng về xóm chùa chứ không dám đi qua gò Yến. Ông Bảy Nề kể:

 - Khi nội tui còn sống, ổng hay kể tích gò yến cho tụi tui nghe. Gò yến xưa là đất của người Hời, chỗ này là hành cung vua Hời thường tổ chức yến tiệc. Sau này nhập về nước mình, người mình đào được nhiều đồ cổ: chén bát, lu hũ, ghè… nên mới gọi là gò Yến.

 Gò Yến nổi tiếng nhiều ma nên bao đời nay chẳng ai dám động đến, ấy vậy mà khi nghe bà Hộ Mễ được vàng Hời bọn trộm mộ từ đâu không biết kéo đến, đêm đêm đào những cái lỗ vừa một người chui lọt xuyên qua những cái mả Hời ấy. Chúng phá quách lôi ra đủ thứ đồ tuỳ táng quăng vung vãi khắp nơi. Chúng chỉ chăm chăm lấy vàng còn bao nhiêu đồ đạc bỏ hết. Cứ mỗi buổi sáng bọn chăn bò ra gò Yến nhặt bao nhiêu là chén bát, lu ghè…đem về đựng nước mưa, đựng thức ăn gà vịt.

 Ông Bảy Nề còn bảo:

 - Nội tui kể: những người Hời giàu có họ thường chôn sống trinh nữ theo để giữ vàng của họ. Những trinh nữ ấy bị cho uống rượu say, miệng ngậm linh sâm ngàn năm. Họ sẽ thành thần giữ vàng cho chủ. Ai mà động đến những ngôi mộ đó hay lấy trộm vàng sẽ bị vật chết! Vàng Hời bị ếm linh lắm, nhặt được mà không biết cách giải thì cũng bị trướng bụng như trống chầu mà chết, hoặc chết bất đắc kỳ tử. Gò Yến, Gò Đu, miễu Cây Da Sà… chỗ nào cũng có mả Hời chôn trinh nữ cả. Những đêm trăng ma Hời hát ca nghe ai oán lắm, đuốc xanh lập loè chẳng ai dám ra vườn đái.

 Đám ma bà Hộ Mễ lớn ơi là lớn, chiêng trống inh ỏi cả chợ Bà Bâu, cờ phướn rợp trời, vòng hoa, liễn… thì thôi phải biết, nhiều lắm! nhà bà Hộ Mễ xưa nay không đi chùa bao giờ ấy vậy mà hôm nay thỉnh hoà thượng Giác Huyền đến tụng kinh cúng đám cho bà. Sau khi an táng xong người nhà bà mới hỏi:

 - Bạch thầy! liệu bà, mẹ của tụi con sẽ siêu thoát ?

 Thầy thật thà:

 - Bần tăng vốn không có thần thông nên không biết bà ấy sẽ đọa hay siêu thoát. Bần tăng chỉ biết hết lòng chú nguyện cho bà thôi! phần người nhà các vị cũng nên sắm sửa trai giới cúng thất trong bảy tuần, làm phước, bố thí, phóng sanh… để hồi hướng công đức cho bà ấy! cái quan trọng là các thí chủ phải thật tâm làm chứ không phải qua quít cho xong hay làm màu để khoe mẽ với xóm giềng. Bần tăng tui đọc kinh thấy dạy: trong bảy phần công đức thì người chết hưởng một còn laị của các vị đứng ra làm. Vì vậy khi các vị làm phước cũng chính là phần nhiều làm cho bản thân qúy vị vậy!

 Sau tuần thất thứ bảy có người đa sự lên chùa gặp hoà thượng  Giác Huyền hỏi:

 - Có phải bà Hộ Mễ được vàng Hời nên bị ếm mà chết?

 Hoà thượng Giác Huyền cười:

-           Bà ấy được vàng hay không thì bần tăng không biết, chuyện bùa ngải hay trù ếm bần tăng cũng không biết, nhưnng có một điều là dân các tổng cũng nghe đồn nhiều người được vàng Hời nhưng không ai chết sao chỉ có mỗi bà Hộ Mễ chết? theo thói thường hễ khi được vàng hay của mà không do mình làm ra thì cũng nên làm phước, chẩn tế… để giải bớt oán kết của người chủ của món đồ ấy, thứ nữa để cái đức về sau.

 Người nhà bà Hộ Mễ sau đám ma nghe lời thầy làm phước, chẩn tế nhiều lắm. Bọn cái bang quanh chợ Bà Bâu suốt mấy tuần liền được hưởng phước lây.  Dân xóm chùa và các tổng cứ bàn tán mãi không thôi. Bà Tám bánh bèo xóm gốc me nói chắc nịch:

 - Tui dám chắc bà Hộ Mễ được buồng cau vàng là thật! bữa đó vợ chồng bả cùng ông nhà tui lên gò Yến dẫy mả, làm đâu chừng mươi phút thì ông nhà tui thấy hai vợ chồng bả cứ dấm duí trong buị cây ổ trầu, vẻ mặt khác thường. Ông nhà tui hỏi thì bả kêu đau bụng. Nói xong bả lom khom ôm bụng đi về, từ đó hai vợ chồng nghỉ bán ngũ cốc luôn, rồi tự dưng ăn xài xả láng, mua đất khắp nơi. Tụi thợ bạc của tiệm vàng Sáu Phụng kể cho ông nhà tui nghe là tuị nó thấy bà Hộ Mễ đem buồng cau vàng tới tiệm để cắt ra bán. Từ đó ông nhà tui mới suy nghiệm laị thì ra bữa nọ hai vợ chồng được vàng Hời nên bỏ về. Bả được vàng chẳng bao lâu thì chết bất đắc kỳ tử thì quả thiệt đúng chứ đâu còn gì nữa mà ngờ. Kể cũng tội bả, chưa được hưởng bao lâu thì chết oan mạng vậy!

 Sau  khi bà Hộ Mễ chết, bọn con nít quanh chợ Bà Bâu bỗng dưng chạy nhảy rong chơi khắp nơi mà hát đồng dao:

  Vàng Hời vàng Hời

 Của mất thường người

 Được chớ vội cười

 Hãy mau làm phước

 Lời ếm chưa trừ

 Mà đem cất giữ

 Mất mạng vong thân

 Đồng cân đấu máu

 Trinh nữ ngậm sâm

 Ngàn năm giữ của

 Vàng hời vàng Hời

 Được hãy nhớ lời

 Của thiên trả địa

 Đền tháp đá bia

 Hãy mau tạ lễ

 

Tiểu Lục Thần Phong

Ất lăng thành, 2019

Galang là tên một đảo nhỏ thuộc tỉnh Riau của Indonesia đã được chính phủ nước này cho Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp quốc sử dụng trong nhiều năm để người tị nạn Đông Dương tạm trú, trong khi chờ đợi được định cư ở một nước thứ ba. Trong vòng 17 năm, kể từ khi mở ra năm 1979 cho đến lúc đóng cửa vào năm 1996, Galang đã là nơi dừng chân của hơn 200 nghìn người tị nạn, hầu hết là thuyền nhân vượt biển từ Việt Nam và một số người Cam Bốt.
Hình ảnh thay cho ngàn lời nói, ghi nhận rõ "sự hấp hối" của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, ghi lại cảnh hỗn loạn, sự hoảng hốt, nỗi lo sợ của dân chúng lũ lượt rời nơi đang sinh sống, đã bỏ nhà cửa trốn chạy trước khi VC tràn vào thành phố
Chúng ta liệu có thể đóng vai trò giúp đỡ những người nhập cư và tị nạn trong tương lai như là người Mỹ đã từng làm cho chúng ta không? Theo lời của Emma Lazarus, liệu chúng ta có nâng “... ngọn đèn bên cạnh cánh cửa vàng” cho “... kẻ bão táp, người vô gia cư ... người mệt mỏi, người nghèo khổ” không? Đối với chúng tôi, trong ngày 30 tháng 4 này, không có câu hỏi nào có ý nghĩa và tính quan trọng hơn câu hỏi này.
Khách đến Việt Nam ngày nay thấy nhiều nhà cao cửa rộng, xe chạy chật đường hơn xưa. Nhưng đa số người Việt Nam có vẻ không có cái nhu cầu dân chủ của người Myanmar hay người Hồng Kông. Hay là họ có, nhưng 20 năm chiến tranh đã làm họ mệt mỏi, xuôi xị chấp nhận chút đầy đủ vật chất, nhắm mắt với tương lai? Và Đảng Cộng sản Việt Nam có thể hy vọng người Việt sẽ ngoan ngoãn như người dân Bắc Hàn, không cần dự phần tự quyết cho tương lai của mình và con cháu mình?
Ngày 30/4 năm thứ 46 sau 1975 đặt ra câu hỏi: Còn bao nhiêu năm nữa thì người Việt Nam ở hai đầu chiến tuyến trong chiến tranh mới “hòa giải, hòa hợp” được với nhau để thành “Một Người Việt Nam”? Hỏi chơi vậy thôi chứ cứ như tình hình bây giờ thì còn mút mùa lệ thủy. Nhưng tại sao?
30 tháng Tư. Đó là ngày nhắc nhở chúng ta cần có dự tính cho tương lai. Vào năm 1975, ai có thể ngờ rằng sẽ có gần 2 triệu người Việt tại Hoa Kỳ nuôi dưỡng cuộc sống có ý nghĩa và đóng góp một cách đáng kể cho xã hội? Ai ngờ được rằng hiện đã có thế hệ người Mỹ gốc Việt thứ ba, thứ tư?
Tổng thống Joe Biden như một người thuyền trưởng, nắm con thuyền quốc gia giữa cơn bão dữ. Chỉ trong cơn sóng lớn mới thấy được khả năng người lèo lái. Những thách thức vẫn còn trước mặt, nhưng con thuyền quốc gia hứa hẹn sẽ đến được chân trời rộng mở. Sự lãnh đạo và phục vụ thầm lặng, bền đỗ cho quốc gia và người dân của tổng thống Joe Biden đã được chứng minh bằng kết quả hiển hiện trong 100 ngày vừa qua.
Ca sĩ Tina Turner, có lẽ ai cũng biết nhưng quá trình tìm đến đạo Phật, trở thành Phật tử và sự tinh tấn của cô ta chắc không nhiều người biết. Giáo lý đạo Phật đã vực dậy đời sống cá nhân cũng như sự nghiệp của cô ta từ hố thẳm đau khổ, thất vọng.
Một nhân vật còn sống sót sau thảm họa Lò sát sinh (Holocaust) và từng đoạt giải Nobel Hòa bình, Elie Wiesel, nói: "Sự đối nghịch của tình thương không phải là sự ghét bỏ, mà là sự dửng dưng. Sự dửng dưng khiến đối tượng thành vắng bóng, vô hình…"
Tháng 10/1954, ông Trần Văn Hương được bổ nhiệm làm Đô Trưởng thủ đô Sài Gòn nhưng chỉ được vài tháng ông xin từ chức không cho biết lý do. Ngày 26/4/1960, ông Hương cùng 17 nhân sĩ quốc gia thành lập nhóm Tự Do Tiến Bộ, tổ chức họp báo công bố một bản tuyên cáo tại khách sạn Caravelle. Nội dung Bản Tuyên Cáo rất ôn hòa chỉ yêu cầu Tổng thống Ngô Đình Diệm mở rộng chính quyền để các nhà trí thức có thể hợp tác với chính phủ nếu được yêu cầu. Ngày 11/11/1960, ông Hương ký tên ủng hộ cuộc đảo chánh do Đại tá Nguyễn Chánh Thi khởi xướng, ông bị bắt trong tù ông có viết một tập thơ lấy tên là “Lao trung lãnh vận” (Những vần thơ lạnh lẽo ở trong tù).
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.