Hôm nay,  

Hạc Cầm (II)

20/11/201900:00:00(Xem: 4841)

Từ phương Nam xa xôi dòng âm thanh thánh thót vang lên, bọn nữ nhạc dừng tay lắng nghe, đám ma nữ ngẩn ngơ thôi nô đùa:

- Trời! thế gian này có âm thanh vi diệu này sao?

Chú bé như bất động ôm hạc cầm, duy chỉ mười ngón tay lả lướt múa trên thân đàn, những ngón tay thon bằng da thịt khảy vào dây tơ, khi thì vỗ nhẹ, khi thì vuốt … Dòng âm thanh bung ra bay lên từ những sợi tơ vô tri. Hạc cầm vốn vô tri mà nảy sinh dòng âm thanh khuấy động lòng người. Tiếng trong trẻo, thánh thót… như vọng từ vườn Địa Đàng. Trần gian sao có được âm thanh này? tiếng réo rắt xoáy vào hồn người, thổi tung tất cả những ký ức bay lên, xô dạt tất cả những suy nghĩ vẩn vơ, cuốn phăng phăng những ước mơ suy tính của người nghe. Âm thanh vi diệu từ những ngón tay xương thịt, hồn thiên thần trong thân xác tứ đaị của con người. Không có hai bàn tay kia thì hạc cầm cũng chỉ là vật vô tri, cùng lắm chỉ để chưng làm kiểng cho những nhà giàu mà thôi! Cậu bé vẫn phải nhọc nhằn mưu sinh để nuôi dưỡng tiếng hạc cầm. Lẽ ra hạc cầm và chú bé phải ở trong lâu đài hay cung điện, chí ít cũng là một biệt thự nào đó và chú bé chỉ có mỗi việc trau chuốt cung đàn, thẩm âm giai điệu mà thôi! Nhưng vì bạc phước, chú bé ngày ngày vẫn phải mưu sinh để mà luyện hạc cầm. Công phu ngày càng cao nhưng người nghe chẳng có mấy. Hạc cầm không phải vật cho đaị chúng,

Năm xưa khi Thuý Kiều gảy đàn, Hồ Tôn Hiến cũng phải “ nhăn mày rơi châu”, dù y vốn là quan mặt sắt. Kiều gảy cho người tình Thúc Sinh, Kim Trọng và cho khách làng chơi nghe… Ấy vậy mà chưa một lần gảy cho người tri kỷ nghe. Những lần Từ Hải đến lầu xanh, nàng Kiều ra tiếp thì cũng đánh đàn như tiếp mọi người khách khác, đây tuyệt nhiên không phải là cách đánh đàn dành cho người tri kỷ hay bậc tri âm, đây chỉ đơn thuần là công việc tiếp khách mà thôi, bởi vậy mới nói Từ Hải chưa được “nghe”. Từ Hải vớt nàng từ lầu xanh lên hàng áp traị phu nhân:

Hai bên mười vị tướng quân

Đặt gươm cởi giáp trước sân khấu đầu

Cung nga thể nữ nối sau

Rằng vâng lệnh chỉ rước chầu vu quy

Sẵn sàng phượng liễn loan nghi

Hoa quan chấp chới hà y rỡ ràng

(Kiều- Nguyễn Du)

Từ hải là tri kỷ, là  phu quân, là ân nhân… ấy vậy mà chưa một lần được nghe Kiều gảy đàn. Không biết chú bé có hiểu tại sao không?

Bá Nha là đaị quan  của triều đình, cũng có ngón nghề tuyệt kỹ. Người kinh kỳ chắc cũng chẳng mấy ai được nghe tiếng đàn của ngài. Một lần trên đường đi sứ, ngồi gảy đàn. Chung Tử Kỳ, vốn là tiều  phu nghe đặng tiếng đàn và hiểu tâm sự người gảy. Vì vậy mà kết làm bạn tri kỷ. Vương tôn, công khanh, ca kỹ của kinh kỳ không ai bằng gã tiều phu này!

Nga nga hồ chí taị cao sơn

Dương dương hồ chí tạo lưu thuỷ

Nguỵ nguỵ hồ nhược thái sơn

Đãng đãng hồ nhược lưu thuỷ

Thế thì cũng không bỏ công đàn cho người nghe! một ngày kia Chung  Tử Kỳ chết, trước khi chết dặn người thân chôn bên bờ sông Hán Dương (đặng nghe tiếng đàn của người tri kỷ).  Bá Nha đập vỡ cây đàn!

Nghề chơi cũng lắm công phu, không phải tự nhiên mà thành. Tiếng đàn không chỉ là dòng âm thanh, nó tiếng lòng lưu xuất, nó là tâm hồn bay lên, nó là phận người được gói ghém… Công phu ngày đêm nắn nót, cũng phải  “nhỏ máu năm đầu ngón tay” mới có thể có được dòng âm thanh vi diệu này!

Hạc Cầm từ Babylon xa xưa, từ Athen, Rome… huy hoàng, rực rỡ. Nơi ấy người nghệ sĩ chỉ có mỗi việc trau chuốt ngón nghề ngày một điêu luyện, mười ngón tay múa trên thân  hạc cầm. Không biết gã tưởng tượng hay là thật mà trong ký ức lưu xuất một khung cảnh vô cùng kỳ quái. Trong một cung điện lộng lẫy, những nhạc công hoàn toàn khoả thân ôm hạc cầm. Người đàn, người nghe như bất động, tất cả như hoá đá, chỉ có dòng âm thanh trầm bổng, thánh thót…như suối đổ, triều dâng; như hạc múa, chim ca; như địa đàng gió động…

Hạc cầm lưu lạc về phương Nam của vùng Viễn Đông. Hạc cầm nhốt thân trong căn phòng tù túng…nhưng âm thanh hạc cầm không thể giam được, vẫn ngày đêm bay lên vượt trên những âm đời.. Hạc cầm về phương Nam laị càng hiếm có người nghe hiểu đặng. Hạc cầm không phải thứ cho tất cả mọi người.

Tiếng đâu thánh thót cung đàn

Vô Tình Khách những lỡ làng tử- sanh

Rằng người phát tiết tinh anh

Tiếc mình muôn dặm ngoại thành Hạc Hoa

 Thơ - TLTP

Ngoại thành Hạc hoa hay ngoại đạo? hay ngoài danh phận? ngoài bước đường chung? Dù thế nào đi nữa cũng đã biết thành Hạc Hoa, đã lắng nghe cung đàn… thì cũng kể như có dự phần!

Đàn, thà đập vỡ chứ không để kẻ thô lậu nghe. Đàn, thà không khảy, chứ không để kẻ tri kỷ phải đau lòng! Trời đất này dẫu có mênh mông, nhân gian này dẫu có vô vàn thiên hạ…nhưng vẫn còn có một nơi đến, một chỗ về!

Tiếng hạc cầm vẫn thánh thót ngày đêm.

 

Tiểu Lục Thần Phong

Ất Lăng Thành, mùa hạ cũ

Khách đến Việt Nam ngày nay thấy nhiều nhà cao cửa rộng, xe chạy chật đường hơn xưa. Nhưng đa số người Việt Nam có vẻ không có cái nhu cầu dân chủ của người Myanmar hay người Hồng Kông. Hay là họ có, nhưng 20 năm chiến tranh đã làm họ mệt mỏi, xuôi xị chấp nhận chút đầy đủ vật chất, nhắm mắt với tương lai? Và Đảng Cộng sản Việt Nam có thể hy vọng người Việt sẽ ngoan ngoãn như người dân Bắc Hàn, không cần dự phần tự quyết cho tương lai của mình và con cháu mình?
Ngày 30/4 năm thứ 46 sau 1975 đặt ra câu hỏi: Còn bao nhiêu năm nữa thì người Việt Nam ở hai đầu chiến tuyến trong chiến tranh mới “hòa giải, hòa hợp” được với nhau để thành “Một Người Việt Nam”? Hỏi chơi vậy thôi chứ cứ như tình hình bây giờ thì còn mút mùa lệ thủy. Nhưng tại sao?
30 tháng Tư. Đó là ngày nhắc nhở chúng ta cần có dự tính cho tương lai. Vào năm 1975, ai có thể ngờ rằng sẽ có gần 2 triệu người Việt tại Hoa Kỳ nuôi dưỡng cuộc sống có ý nghĩa và đóng góp một cách đáng kể cho xã hội? Ai ngờ được rằng hiện đã có thế hệ người Mỹ gốc Việt thứ ba, thứ tư?
Tổng thống Joe Biden như một người thuyền trưởng, nắm con thuyền quốc gia giữa cơn bão dữ. Chỉ trong cơn sóng lớn mới thấy được khả năng người lèo lái. Những thách thức vẫn còn trước mặt, nhưng con thuyền quốc gia hứa hẹn sẽ đến được chân trời rộng mở. Sự lãnh đạo và phục vụ thầm lặng, bền đỗ cho quốc gia và người dân của tổng thống Joe Biden đã được chứng minh bằng kết quả hiển hiện trong 100 ngày vừa qua.
Ca sĩ Tina Turner, có lẽ ai cũng biết nhưng quá trình tìm đến đạo Phật, trở thành Phật tử và sự tinh tấn của cô ta chắc không nhiều người biết. Giáo lý đạo Phật đã vực dậy đời sống cá nhân cũng như sự nghiệp của cô ta từ hố thẳm đau khổ, thất vọng.
Một nhân vật còn sống sót sau thảm họa Lò sát sinh (Holocaust) và từng đoạt giải Nobel Hòa bình, Elie Wiesel, nói: "Sự đối nghịch của tình thương không phải là sự ghét bỏ, mà là sự dửng dưng. Sự dửng dưng khiến đối tượng thành vắng bóng, vô hình…"
Tháng 10/1954, ông Trần Văn Hương được bổ nhiệm làm Đô Trưởng thủ đô Sài Gòn nhưng chỉ được vài tháng ông xin từ chức không cho biết lý do. Ngày 26/4/1960, ông Hương cùng 17 nhân sĩ quốc gia thành lập nhóm Tự Do Tiến Bộ, tổ chức họp báo công bố một bản tuyên cáo tại khách sạn Caravelle. Nội dung Bản Tuyên Cáo rất ôn hòa chỉ yêu cầu Tổng thống Ngô Đình Diệm mở rộng chính quyền để các nhà trí thức có thể hợp tác với chính phủ nếu được yêu cầu. Ngày 11/11/1960, ông Hương ký tên ủng hộ cuộc đảo chánh do Đại tá Nguyễn Chánh Thi khởi xướng, ông bị bắt trong tù ông có viết một tập thơ lấy tên là “Lao trung lãnh vận” (Những vần thơ lạnh lẽo ở trong tù).
Làm người, không có gì hào sảng hơn, là được sinh tử với những gì mình hằng mong sinh tử cùng. Làm phóng viên, không có gì cảm hứng hơn là được thành nhân chứng của những nhân chứng và sự kiện. Cả hai nguyện ước, đời và nghề, đã làm nên một miền hoa cỏ có tên gọi là Kiều Mỹ Duyên.
Bạn có bao giờ ôm giấc mơ đặt chân lên cát nóng sa mạc và đứng đối mặt cùng một Kim Tự Tháp vĩ đại, khi học sử về Ai Cập Cổ Đại ngày còn bé thơ chưa? Bạn có từng ước ao được thấy bức tượng Nhân Sư tận mắt hơn là xem hình ảnh trên mạng hay phim ảnh không?
Với phần lớn dân Việt tị nạn vẫn còn sống sót từ thế kỷ qua thì quên vẫn thường dễ chịu hơn là nhớ, kể cả những kẻ đang cầm quyền ở đất nước này. Những dịch vụ “bán bãi thu vàng” của người vuợt biên, tuy có mang lại lợi nhuận không nhỏ nhưng lại không phải là kỳ tích kinh tế để họ có thể tự hào. Đó là lý do mà nhà nước hiện hành vận động mọi phương thức ngoại giao để yêu cầu các nước Á Châu “đục bỏ bỏ những bia tưởng niệm thuyền nhân.” Chối bỏ quá khứ, tuy thế, không phải là phương cách tích cực để tiếp cận với hiện tại hay hướng đến tương lai. Vết thương của những thuyền nhân vào cuối thế kỷ hai mươi vẫn chưa kịp khép thì đầu thế kỷ này lại phát sinh ra những thuyền nhân mới. Tuy có tên gọi là nouveaux boat people nhưng họ không di tản bằng đường thủy.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.