Hôm nay,  

Hạc Cầm (II)

20/11/201900:00:00(Xem: 4799)

Từ phương Nam xa xôi dòng âm thanh thánh thót vang lên, bọn nữ nhạc dừng tay lắng nghe, đám ma nữ ngẩn ngơ thôi nô đùa:

- Trời! thế gian này có âm thanh vi diệu này sao?

Chú bé như bất động ôm hạc cầm, duy chỉ mười ngón tay lả lướt múa trên thân đàn, những ngón tay thon bằng da thịt khảy vào dây tơ, khi thì vỗ nhẹ, khi thì vuốt … Dòng âm thanh bung ra bay lên từ những sợi tơ vô tri. Hạc cầm vốn vô tri mà nảy sinh dòng âm thanh khuấy động lòng người. Tiếng trong trẻo, thánh thót… như vọng từ vườn Địa Đàng. Trần gian sao có được âm thanh này? tiếng réo rắt xoáy vào hồn người, thổi tung tất cả những ký ức bay lên, xô dạt tất cả những suy nghĩ vẩn vơ, cuốn phăng phăng những ước mơ suy tính của người nghe. Âm thanh vi diệu từ những ngón tay xương thịt, hồn thiên thần trong thân xác tứ đaị của con người. Không có hai bàn tay kia thì hạc cầm cũng chỉ là vật vô tri, cùng lắm chỉ để chưng làm kiểng cho những nhà giàu mà thôi! Cậu bé vẫn phải nhọc nhằn mưu sinh để nuôi dưỡng tiếng hạc cầm. Lẽ ra hạc cầm và chú bé phải ở trong lâu đài hay cung điện, chí ít cũng là một biệt thự nào đó và chú bé chỉ có mỗi việc trau chuốt cung đàn, thẩm âm giai điệu mà thôi! Nhưng vì bạc phước, chú bé ngày ngày vẫn phải mưu sinh để mà luyện hạc cầm. Công phu ngày càng cao nhưng người nghe chẳng có mấy. Hạc cầm không phải vật cho đaị chúng,

Năm xưa khi Thuý Kiều gảy đàn, Hồ Tôn Hiến cũng phải “ nhăn mày rơi châu”, dù y vốn là quan mặt sắt. Kiều gảy cho người tình Thúc Sinh, Kim Trọng và cho khách làng chơi nghe… Ấy vậy mà chưa một lần gảy cho người tri kỷ nghe. Những lần Từ Hải đến lầu xanh, nàng Kiều ra tiếp thì cũng đánh đàn như tiếp mọi người khách khác, đây tuyệt nhiên không phải là cách đánh đàn dành cho người tri kỷ hay bậc tri âm, đây chỉ đơn thuần là công việc tiếp khách mà thôi, bởi vậy mới nói Từ Hải chưa được “nghe”. Từ Hải vớt nàng từ lầu xanh lên hàng áp traị phu nhân:

Hai bên mười vị tướng quân

Đặt gươm cởi giáp trước sân khấu đầu

Cung nga thể nữ nối sau

Rằng vâng lệnh chỉ rước chầu vu quy

Sẵn sàng phượng liễn loan nghi

Hoa quan chấp chới hà y rỡ ràng

(Kiều- Nguyễn Du)

Từ hải là tri kỷ, là  phu quân, là ân nhân… ấy vậy mà chưa một lần được nghe Kiều gảy đàn. Không biết chú bé có hiểu tại sao không?

Bá Nha là đaị quan  của triều đình, cũng có ngón nghề tuyệt kỹ. Người kinh kỳ chắc cũng chẳng mấy ai được nghe tiếng đàn của ngài. Một lần trên đường đi sứ, ngồi gảy đàn. Chung Tử Kỳ, vốn là tiều  phu nghe đặng tiếng đàn và hiểu tâm sự người gảy. Vì vậy mà kết làm bạn tri kỷ. Vương tôn, công khanh, ca kỹ của kinh kỳ không ai bằng gã tiều phu này!

Nga nga hồ chí taị cao sơn

Dương dương hồ chí tạo lưu thuỷ

Nguỵ nguỵ hồ nhược thái sơn

Đãng đãng hồ nhược lưu thuỷ

Thế thì cũng không bỏ công đàn cho người nghe! một ngày kia Chung  Tử Kỳ chết, trước khi chết dặn người thân chôn bên bờ sông Hán Dương (đặng nghe tiếng đàn của người tri kỷ).  Bá Nha đập vỡ cây đàn!

Nghề chơi cũng lắm công phu, không phải tự nhiên mà thành. Tiếng đàn không chỉ là dòng âm thanh, nó tiếng lòng lưu xuất, nó là tâm hồn bay lên, nó là phận người được gói ghém… Công phu ngày đêm nắn nót, cũng phải  “nhỏ máu năm đầu ngón tay” mới có thể có được dòng âm thanh vi diệu này!

Hạc Cầm từ Babylon xa xưa, từ Athen, Rome… huy hoàng, rực rỡ. Nơi ấy người nghệ sĩ chỉ có mỗi việc trau chuốt ngón nghề ngày một điêu luyện, mười ngón tay múa trên thân  hạc cầm. Không biết gã tưởng tượng hay là thật mà trong ký ức lưu xuất một khung cảnh vô cùng kỳ quái. Trong một cung điện lộng lẫy, những nhạc công hoàn toàn khoả thân ôm hạc cầm. Người đàn, người nghe như bất động, tất cả như hoá đá, chỉ có dòng âm thanh trầm bổng, thánh thót…như suối đổ, triều dâng; như hạc múa, chim ca; như địa đàng gió động…

Hạc cầm lưu lạc về phương Nam của vùng Viễn Đông. Hạc cầm nhốt thân trong căn phòng tù túng…nhưng âm thanh hạc cầm không thể giam được, vẫn ngày đêm bay lên vượt trên những âm đời.. Hạc cầm về phương Nam laị càng hiếm có người nghe hiểu đặng. Hạc cầm không phải thứ cho tất cả mọi người.

Tiếng đâu thánh thót cung đàn

Vô Tình Khách những lỡ làng tử- sanh

Rằng người phát tiết tinh anh

Tiếc mình muôn dặm ngoại thành Hạc Hoa

 Thơ - TLTP

Ngoại thành Hạc hoa hay ngoại đạo? hay ngoài danh phận? ngoài bước đường chung? Dù thế nào đi nữa cũng đã biết thành Hạc Hoa, đã lắng nghe cung đàn… thì cũng kể như có dự phần!

Đàn, thà đập vỡ chứ không để kẻ thô lậu nghe. Đàn, thà không khảy, chứ không để kẻ tri kỷ phải đau lòng! Trời đất này dẫu có mênh mông, nhân gian này dẫu có vô vàn thiên hạ…nhưng vẫn còn có một nơi đến, một chỗ về!

Tiếng hạc cầm vẫn thánh thót ngày đêm.

 

Tiểu Lục Thần Phong

Ất Lăng Thành, mùa hạ cũ

Liên Hiệp Âu châu, cả Anh quốc, Huê kỳ và Canada đều đồng loạt lên tiếng cực lực lên án Xi và đảng cộng sản Trung Quốc là tội phạm chống nhơn loại. Các nước văn minh trên đây đã quyết định trừng phạt Trung quốc vì tội diệt chủng nhằm vào dân tộc thiểu số Duy-ngô-nhĩ ở Tân-cương, miền Tây-Bắc nước Tàu.
Trước hiện trạng kỳ thị, không chỉ bạo hành bằng lời nói, mà còn tấn công hung bạo và bắn giết khiến nhiều người đã thiệt mạng hoặc bị thương tích nặng, các chuyên gia và các nhà hoạt động đã đưa ra một số biện pháp để chống trả vấn nạn này và giúp các thành viên trong cộng đồng tự bảo vệ
Lực lượng “ăn cháo đá bát” rất đông và lan nhanh như bệnh dịch, nhưng chưa bao giờ được công khai cho dân biết để dân bàn, dân kiểm tra. Ngược lại, dân lại là nạn nhân của đám ong nuôi trong tay áo từ bao năm nay. Chúng nằm trong ngành Tuyên giáo, trước đây gọi là Ban Tư tưởng-Văn hóa Trung ương và Ban Khoa giáo Trung ương. Sau lưng đảng còn có đội ngũ chuyên nghề nói thuê và viết mướn gồm Báo cáo viên và Dư luận viên được trả lương bằng tiền thuế của dân.
Vào sáng ngày 1 tháng 5-1975 Trung tá bác sĩ Hoàng Như Tùng, nguyên chỉ huy trưởng Quân Y viện Phan Thanh Giản - Cần Thơ, mặc đồ dân sự, trong tư thế quân phong, đưa tay lên chào vĩnh biêt Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lênh Quân Đoàn IV, Quân Khu IV, Vùng 4 Chiến Thuật, trước sự kinh ngạc của một nhóm sĩ quan cấp cao của bộ đội cộng sản vì sự dũng cảm của bác sĩ Trung Tá Hoàng Như Tùng. Một sĩ quan của bộ đội cộng sản mang quân hàm thiếu tá tiến đến và yêu cầu bác sĩ Hoàng Như Tùng nhận diện Tướng Nguyễn Khoa Nam.
Sách này sẽ được ghi theo hình thức biên niên sử, về các sự kiện từ ngày 8/5/1963 cho tới vài ngày sau cuộc chính biến 1/11/1963, nhìn từ phía chính phủ Hoa Kỳ. Phần lược sử viết theo nhiều tài liệu, trong đó phần chính là dựa vào tài liệu Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ “Foreign Relations of the United States 1961-1963”, một số tài liệu CIA lưu giữ ở Bộ Ngoại Giao, và một phần trong sách “The Pentagon Papers” của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, ấn bản Gravel Edition (Boston: Beacon Press, 1971). Vì giờ tại Việt Nam và Hoa Kỳ cách biệt nhau, cho nên đôi khi ghi ngày sai biệt nhau một ngày.
Tôi là anh trưởng trong gia đình, với 9 đứa em cả trai lẫn gái, nên trách nhiệm thật khó khăn, từ nhân cách cho đến cuộc sống. Nhưng may mắn tôi gặp được những người anh ngoài xã hội để noi gương và học hỏi. Một trong số những nhân vật hiếm hoi đó, chính là anh Nguyễn Văn Tánh, người mà tôi đã có cơ hội được tiếp tay hỗ trợ và đồng hành cùng anh trong suốt 20 cuộc Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế Liên Hiệp Quốc tại thành phố New York từ 20 năm qua.
Tôi tha phương cầu thực gần như trọn kiếp (và may mắn lạc bước đến những nơi không thiếu bơ thừa sữa cặn) nên bất ngờ nhìn thấy mảnh đời cùng quẫn thì không khỏi chạnh lòng. Nghe tiếng mời chào khẩn thiết, nhìn những khuôn mặt khẩn cầu của đồng bào mình mà muốn ứa nước mắt.
Các định kiến tai hại đối với các phụ nữ Á Châu trong văn hóa đại chúng của Mỹ đã có từ ít nhất thế kỷ thứ 19. Từ đó, các nhà truyền giáo và binh sĩ Mỹ tại Á Châu đã xem phụ nữ mà họ gặp đó như là ngoại lai và dễ tùng phục. Các định kiến này đã ảnh hưởng luật di trú đầu tiên của Hoa Kỳ dựa vào chủng tộc, Đạo Luật 1875 Page Act, ngăn cản các phụ nữ Trung Quốc vào Hoa Kỳ. Giả thuyết chính thức là rằng, ngoại trừ được chứng minh ngược lại, các phụ nữ TQ tìm cách vào Hoa Kỳ đã thiếu tư cách đạo đức và là những gái mại dâm. Trên thực tế, nhiều người là vợ tìm cách đoàn tụ với những ông chồng là những người đã đến Hoa Kỳ trước đó. Khoảng cùng thời gian đó, các phụ nữ TQ tại San Francisco cũng bị làm dê tế thần bởi các viên chức y tế địa phương là những người sợ rằng họ sẽ lây truyền các bịnh lây lan qua đường tình dục cho các đàn ông da trắng, là những người sau đó sẽ lây lan cho các bà vợ của họ. Vào giữa thế kỷ 20, các căn cứ chiến tranh và quân sự của Hoa Kỳ tại TQ, Nhật, Phi Luật Tân,
Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Bá Thanh, Nguyễn Thiện Nhân, Nguyễn Hòa Bình, Nguyễn Xuân Phúc … quả đúng là những kẻ thuộc giới ăn trên ngồi trốc. Họ là những hạt giống đỏ được gieo trồng từ miền Bắc, và đã ươm mầm thành cây. Loại cây này, học giả Phan Khôi gọi một cách lịch sự là cây Cộng Sản. Còn dân gian thì gọi là cây cứt lợn!
Nếu đảng đủ can đảm và ông Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng còn đủ bản lĩnh của một Lãnh đạo gương mẫu trong công tác phòng, chống tham nhũng thì hãy công khai cho dân biết Tổ chức Thanh niên của đảng đã làm được những gì cho dân cho nước trong 90 năm qua. Hay ngót 7 triệu Đoàn viên TNCS chẳng làm được trò trống gì, ngoải vai trò tay sai đã tuyệt đối trung thành với đảng và với chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh?
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.