Hôm nay,  

Cảnh Đồng Trấn

29/11/201910:59:00(Xem: 6452)

 Trấn Cảnh Đồng nằm bên bờ sông Liễu Hạ, xinh đẹp như cảnh thiên thai ở chốn trần gian. Khách thương hồ đến đi mua bán quanh năm. Khách du thanh tú lịch lãm cũng dập dìu trẩy hội… Bọn họ kháo nhau rằng: “ Cảnh Đồng đệ nhất thiên hạ trấn”. Dân trong trấn phần nhiều mở cửa hiệu buôn bán, cao lâu, tửu điếm, lữ hành… nhưng cũng có một số sống đời nông phu, vui thú điền viên. Mỗi mùa lúa chín, những cánh đồng ngoài trấn vàng rực như một tấm thảm bao bọc lấy Cảnh Đồng.

 Cao Nhã ngồi tựa lan can nhìn xuống dòng liễu Hạ, một mình trầm tư độc ẩm, dòng suy nghĩ như gởi theo giòng nước chảy. Ông chẳng nghe hay thấy những thực khách xung quanh đang huyên náo và không ít kẻ đang tỏ vẻ kệch cỡm. Chợt có tiếng nhã nhặn:

 - Hình như các hạ có điều bất an trong tâm?

 Ông ngước nhìn lên thì thấy một vị du sĩ trông có vẻ rất tiêu sái phong lưu, tóc búi, râu dài, đôi mắt tinh anh, dáng dấp rắn rỏi có vẻ như dân có nghề. Ông sanh thiện cảm bèn đứng dậy kéo ghế và rót chung rượu mời y:

 - Xin mời tân khách một chén này.

 Y chẳng khách sáo, đón lấy chung rượu và uống cạn xong nói lời cảm ơn. Đoạn ông hỏi tên thì y bảo:

 - Tôi vốn họ Trần, sống đời cơm chùa cháo chợ, chu du khắp bốn phương, đi đến đâu thì dạy võ, dạy chữ cho người ở đấy. Nơi nào thuận duyên thì ở lâu một chút, nơi nào cạn tình thì laị ra đi. Bởi thế thiên hạ có người gọi tôi là Trần du tử nhưng cũng có kẻ gọi là Trần du sĩ, thực tình tôi cũng chẳng quan tâm họ gọi là gì. Nghe giang hồ đồn đaị Cảnh Đồng trấn đã lâu, nay mới có dịp đến, có lẽ vì cơ duyên mà tình cờ gặp các hạ ở đây.

 Y dứt lời thì Cao Nhã tự giới thiệu:

  - Tôi là Cao Nhã, nhà ở trấn này. Tổ phụ bao đời đều phát tích từ đây, dám xin hỏi tân khách một lời. Có phải ngài biết xem tướng hay thuật bói toán chăng?

 Y cười lớn:

 - Đôi khi Trần mỗ tôi nói ra laị giống như bói toán vậy, kỳ thực thì không phải! Bình sinh mỗ tôi rất ghét bọn bói toán, thuật sĩ, phong thủy…Mỗ tôi thường đọc sách laị có chút nghề riêng nên mới thấy được nỗi lòng bất an của các hạ.

Cao Nhã bảo:

 -Ngài đã nói thế thì tôi cũng xin thú thật, tôi vốn là tài chủ ở địa phương, nhà có con gái tuổi cập kê. Tôi yêu thương và bảo bọc như ngọc quí. Nhiều nhà quyền quý trong ngoài trấn ngỏ lời nhưng tôi để mặc cho con tự chọn. Nào ngờ con gái tôi không chọn những đám ấy mà laị chọn lấy gã mồ côi con nhà họ Lưu ở cuối trấn. Ngài biết đấy, làm cha mẹ ai mà không thương con? Làm sao tôi có thể chấp nhận gả con cho gã ấy được! con tôi là tiểu thư, về nhà ấy thì khổ cả đời, còn gì là đời hoa. Tôi không chấp nhận, ra sức ngăn cản nhưng con gái tôi cũng quyết liệt không kém, cô ấy tuyên bố:’ Không lấy được anh họ Lưu đó thì sẽ không lấy ai cả”. Ở đây không tiện, nếu tân khách có lòng xin mời đến nhà chơi.

 Y nhận lời, Cao Nhã kêu tiểu bảo tính tiền xong hai người bách bộ về nhà. Quả là tài chủ của Cảnh Đồng, ngôi nhà to lớn bề thế như phủ đệ vương tôn, hoa viên rộng lớn xinh đẹp với nhiều kỳ hoa dị thảo…Cao Nhã bảo người nhà làm cơm, còn mình thì đưa khách lên nhà trên, lấy nậm rượu quí cất trong tủ ra đãi. Gã họ Trần vừa bước vào gian chính, trông thấy tôn tượng Như lai bèn sụp lạy rất cung kính. Sau khi yên vị khách chủ, Cao Nhã tâm sự:

 - Chẳng dấu gì Trần du tử, tôi không muốn gả con gái cho gã mồ côi họ Lưu nhưng tôi cũng không dám làm căng, e mất con. Giờ tôi bối rối không biết tính sao cả!

 Gã họ Trần cười mỉn:

 - Tôi có chút nghề riêng, may ra có thể giúp ích chút ít cho ngài.

 Nói xong y bảo Cao Nhã ngồi yên ngay thẳng, đoạn y nhìn thẳng vào mắt, tay bắt ấn, tay còn laị huơ huơ trước mặt như vẽ gì đấy trong hư không, miệng lẩm nhẩm đọc thần chú… Chừng giây phút Cao Nhã thấy mình đi lạc vào một không gian cổ sơ tiêu sái rất lạ lùng. Cao Nhã nhìn quanh thì thấy cũng có nét quen quen nhưng không tài nào nhận ra, lòng đầy nghi hoặc: vẫn dãy tửu lầu bên sông Liễu Hạ, vẫn con đường lát đá đây, thế nhà mình đâu? đây chẳng phải là Cảnh Đồng trấn chăng? Cao Nhã lang thang khắp nơi, nhìn thấy thiên hạ lớp lớp người trẩy hội mà sao hình như chẳng ai thấy mình. Đi đến một nhà nọ thì thấy người ta đang vây quanh một bà lão hấp hối, thằng bé lên năm đang đứng bên bà. Bà mắt vẫn mở thao láo, miệng thì thào:” Ta chết không yên lòng, ta chết rồi ai sẽ săn sóc cho cháu của ta? Ta thương thằng bé lắm!” thế rồi bà ta chết mà không nhắm mắt. Cao Nhã còn đang vẩn vơ ngơ ngác thì chợt thấy trời đất tối sầm, chưa kịp định thần laị thì thấy mình đang ở trong một toà điện nguy nga nhưng rất âm u, đuốc cháy bập bùng, nhìn lên thì thấy một tấm biển ghi:” Đệ Ngũ Điện Bình Đẳng Vương”. Laị thấy bà lão vừa hấp hối lúc nãy, bà đang quỳ ở đấy

 - Bẩm Diêm Vương, tôi chết không nhắm mắt, không đành lòng. Thằng cháu mồ côi không biết có ai chăm sóc cho nó không? Không biết có ai thương yêu lo lắng cho nó không?

 Từ trên không có tiếng rền như sấm:

 - Vậy thì bà hãy về mà chăm sóc nó!

 Dứt lời thì có một lũ lâu la xuất hiện và đưa bà lão đi ngay. Cao Nhã laị thấy trời đất phong quang, cảnh vật rất xinh đẹp. Y đang cùng với khách thương hồ trên con tàu xuôi dòng Liễu Hạ , sau mấy chuyến hàng được giá và trở nên giàu có . Người bạn hùn hạp làm ăn muốn đi chuyến này xong thì về quê lấy vợ, nào ngờ hôm ấy anh ta bị bạo bệnh mà chết bất đắc kỳ . Cao Nhã cho thuyền quay về, giữa đường gặp giặc giã nên không làm sao đưa xác bạn về quê được, bèn chôn cất anh ta ở trấn này luôn. Sau đó Cao Nhã mấy lần đi tìm thân nhân của bạn để trao trả laị số bạc hùn hạp nhưng không tìm ra, cảnh vật thay đổi, người ly loạn di tản… đi về bao bận mà sở nguyện chẳng thành, lòng thấy ẩn nhẫn lắm mà không biết làm sao.

 Cao Nhã giật mình tỉnh ra ngơ ngác hỏi:

 - Chuyện gì đã xảy ra?

 Trần du sĩ nhìn ông cười nhẹ bảo:

 - Ngài đã thấy hết mọi sự rồi phải không?

 Cao Nhã vẫn còn hồ nghi và mơ màng:

 - Tôi không hiểu, có lẽ nào…?

 Trần du sĩ thong thả:

 -Bà ngoaị lúc chết một niệm không buông được ấy nay là con gái ngài vậy. Thằng bé ấy chính là cậu mồ côi nhà họ Lưu. Gã ấy trong nhiều kiếp cũng là bạn thương hồ với ngài. Trong một kiếp nọ, khi y chết mà ngài còn giữ của y năm trăm lạng bạc. Ngài không có lòng tham, đã tìm cách trả nhưng vẫn chưa thành, vì vậy ngài vẫn nợ y. Hôm nay nhân duyên laị hội tụ một chỗ, mọi sự vốn có gốc gác với nhau  bởi vậy mà giới Nho gia thường nói:” Nhất ẩm nhất trác mạc phi tiền định”. Trần du sĩ dứt lời thì người nhà họ Cao báo cơm nước đã dọn xong. Y mời Trần du sĩ dùng bữa, cả hai ăn trong sự lặng lẽ như người giữ chánh niệm vậy, bề ngoài là thế chứ trong lòng Cao Nhã đang có những xao động lớn mà từ trước giờ y chưa từng trải qua. Hồi lâu Trần du sĩ khẽ nói:

  - Phàm ở đời không nên buộc mà nên mở, những oán kết cũ thì nên giải và đừng tạo thêm oán kết mới.

  Cao Nhã không trả lời mà hỏi:

  - Mai này du sĩ sẽ đi đâu?

 Trần du sĩ cười to:

-  Đất trời thênh thang, thiên hạ đông đầy lo gì không có lối.

 Đoạn y laị nói:

 - Cuộc trăm năm là ước lệ, mấy ai đủ, đôi khi laị ra đi bất kỳ. Tiền của là con năm nhà, dễ gì giữ đặng. Người đời ai cũng mong cầu nhưng dễ mấy ai có, có kẻ không mong mà laị vô tình được… tất cả đều có duyên do cả. Ngài là bậc tài chủ, ít nhiều đọc sách ắt biết điều này!

 Bữa cơm xong, Cao Nhã tiễn Trần du sĩ qua khỏi bến Tầm Dương mới quay về. Y gọi con gái laị bảo:

 - Tiểu Hoa, con hãy cho người sang nhà họ Lưu bảo gã ấy ngày mai đến gặp cha.

 Con bé mắt sáng long lanh chạy laị ôm chầm lấy y.

 

Tiểu Lục Thần Phong

Ất Lăng thành, 10/2019

 

 

 

Khách đến Việt Nam ngày nay thấy nhiều nhà cao cửa rộng, xe chạy chật đường hơn xưa. Nhưng đa số người Việt Nam có vẻ không có cái nhu cầu dân chủ của người Myanmar hay người Hồng Kông. Hay là họ có, nhưng 20 năm chiến tranh đã làm họ mệt mỏi, xuôi xị chấp nhận chút đầy đủ vật chất, nhắm mắt với tương lai? Và Đảng Cộng sản Việt Nam có thể hy vọng người Việt sẽ ngoan ngoãn như người dân Bắc Hàn, không cần dự phần tự quyết cho tương lai của mình và con cháu mình?
Ngày 30/4 năm thứ 46 sau 1975 đặt ra câu hỏi: Còn bao nhiêu năm nữa thì người Việt Nam ở hai đầu chiến tuyến trong chiến tranh mới “hòa giải, hòa hợp” được với nhau để thành “Một Người Việt Nam”? Hỏi chơi vậy thôi chứ cứ như tình hình bây giờ thì còn mút mùa lệ thủy. Nhưng tại sao?
30 tháng Tư. Đó là ngày nhắc nhở chúng ta cần có dự tính cho tương lai. Vào năm 1975, ai có thể ngờ rằng sẽ có gần 2 triệu người Việt tại Hoa Kỳ nuôi dưỡng cuộc sống có ý nghĩa và đóng góp một cách đáng kể cho xã hội? Ai ngờ được rằng hiện đã có thế hệ người Mỹ gốc Việt thứ ba, thứ tư?
Tổng thống Joe Biden như một người thuyền trưởng, nắm con thuyền quốc gia giữa cơn bão dữ. Chỉ trong cơn sóng lớn mới thấy được khả năng người lèo lái. Những thách thức vẫn còn trước mặt, nhưng con thuyền quốc gia hứa hẹn sẽ đến được chân trời rộng mở. Sự lãnh đạo và phục vụ thầm lặng, bền đỗ cho quốc gia và người dân của tổng thống Joe Biden đã được chứng minh bằng kết quả hiển hiện trong 100 ngày vừa qua.
Ca sĩ Tina Turner, có lẽ ai cũng biết nhưng quá trình tìm đến đạo Phật, trở thành Phật tử và sự tinh tấn của cô ta chắc không nhiều người biết. Giáo lý đạo Phật đã vực dậy đời sống cá nhân cũng như sự nghiệp của cô ta từ hố thẳm đau khổ, thất vọng.
Một nhân vật còn sống sót sau thảm họa Lò sát sinh (Holocaust) và từng đoạt giải Nobel Hòa bình, Elie Wiesel, nói: "Sự đối nghịch của tình thương không phải là sự ghét bỏ, mà là sự dửng dưng. Sự dửng dưng khiến đối tượng thành vắng bóng, vô hình…"
Tháng 10/1954, ông Trần Văn Hương được bổ nhiệm làm Đô Trưởng thủ đô Sài Gòn nhưng chỉ được vài tháng ông xin từ chức không cho biết lý do. Ngày 26/4/1960, ông Hương cùng 17 nhân sĩ quốc gia thành lập nhóm Tự Do Tiến Bộ, tổ chức họp báo công bố một bản tuyên cáo tại khách sạn Caravelle. Nội dung Bản Tuyên Cáo rất ôn hòa chỉ yêu cầu Tổng thống Ngô Đình Diệm mở rộng chính quyền để các nhà trí thức có thể hợp tác với chính phủ nếu được yêu cầu. Ngày 11/11/1960, ông Hương ký tên ủng hộ cuộc đảo chánh do Đại tá Nguyễn Chánh Thi khởi xướng, ông bị bắt trong tù ông có viết một tập thơ lấy tên là “Lao trung lãnh vận” (Những vần thơ lạnh lẽo ở trong tù).
Làm người, không có gì hào sảng hơn, là được sinh tử với những gì mình hằng mong sinh tử cùng. Làm phóng viên, không có gì cảm hứng hơn là được thành nhân chứng của những nhân chứng và sự kiện. Cả hai nguyện ước, đời và nghề, đã làm nên một miền hoa cỏ có tên gọi là Kiều Mỹ Duyên.
Bạn có bao giờ ôm giấc mơ đặt chân lên cát nóng sa mạc và đứng đối mặt cùng một Kim Tự Tháp vĩ đại, khi học sử về Ai Cập Cổ Đại ngày còn bé thơ chưa? Bạn có từng ước ao được thấy bức tượng Nhân Sư tận mắt hơn là xem hình ảnh trên mạng hay phim ảnh không?
Với phần lớn dân Việt tị nạn vẫn còn sống sót từ thế kỷ qua thì quên vẫn thường dễ chịu hơn là nhớ, kể cả những kẻ đang cầm quyền ở đất nước này. Những dịch vụ “bán bãi thu vàng” của người vuợt biên, tuy có mang lại lợi nhuận không nhỏ nhưng lại không phải là kỳ tích kinh tế để họ có thể tự hào. Đó là lý do mà nhà nước hiện hành vận động mọi phương thức ngoại giao để yêu cầu các nước Á Châu “đục bỏ bỏ những bia tưởng niệm thuyền nhân.” Chối bỏ quá khứ, tuy thế, không phải là phương cách tích cực để tiếp cận với hiện tại hay hướng đến tương lai. Vết thương của những thuyền nhân vào cuối thế kỷ hai mươi vẫn chưa kịp khép thì đầu thế kỷ này lại phát sinh ra những thuyền nhân mới. Tuy có tên gọi là nouveaux boat people nhưng họ không di tản bằng đường thủy.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.