Hôm nay,  

KIỂNG CHÙA XƯA

02/12/201909:55:00(Xem: 6908)

Có những câu chuyện ngày xửa ngày xưa mà chẳng xưa chút nào. Có những chuyện hôm nay mà sao nó xa xưa vời vợi. Chuyện ngày xưa... Có một ngôi chùa ở vùng quê thanh bình, trước mặt là đồng lúarì rào, cánh cò chao trắng đồng xanh. Trong chuà có vị hoà thượng già hiền như ông Phật, lông mày dài bạc trắng rớt che cả mắt...
 Ngôi chùa cổ kính đẹp, yên ả vô cùng. Gã chẳng biết kiến trúc chữ Công, chữ Quốc gì cả; chỉ biết rằng chánh điện thờ Phật, hai gian đông- tây thờ tổ và nhà khách, kế là bếp; chính gữa bốn khối nhà là sân cát hay còn gọi giếng trời. Những ngày rằm, mồng một theo cha lên chùa thích ơi là thích. Gã chạy rảo quanh chùa, nhìn ngó, ngắm nghía, thậm chí sờ mó những dòng chữ Hán trên các bia mộ tổ quanh vườn. Ngôi chùa như một góc trời, một vùng phương ngoaị của gã. Dân quanh vùng đều nghèo, cúng dường cũng đơn sơ chỉ là vài ký gạo, nải chuối, hoặc trái cây trong vườn... nhưng rất thân thiện, ấm áp tình đời, lý đạo. Vị hoà thượng như một người cha hiền từ, nụ cười thường trực trên môi, dù tu hành nhưng rất dí dỏm. Ngài chưa hề có một một yêu cầu nào dù nhỏ nhất. Hết sức ung dung, thanh thản dù ngài ngày ăn một bữa, đôi khi chỉ là một gói mì. Dân chúng quanh vùng ai cũng quý mến và kính trọng! Tục lệ địa phương thường sắm sẵn quan tài để dành khi hữu sự,khổ nỗi laị sợ không dám để ở nhà, thế là đem hết lên chùa gởi thầy. thầy từ bi, bao nhiêu cũng chứa; vì thế trong chùa lúc nào cũng có mấy mươi cỗ quan tài. Nhiều người đồn đaị: " đêm trước, nếu cỗ quan tài nào có tiếng động thì nhất định hôm sau nhà ấy có người chết". Thầy cười:" Đừng nói bá xàm". Tuy chuyện người lớn nhưng gã cũng nghe lóm khá nhiều, đaị loại là như vậy. Gã rất thích những con cá hoá long gắn đầu máng xối, mỗi khi mưa nước từ miệng cá tuôn ra ào ạt, chợt nhiên thấy cả một bầu trời cổ tích! 


 Thế rồi chuyện ngày xửa ngày xưa thành xưa thật! thầy tịch, người mới bổ về. Thế là xuất hiện chuyện ngày nay mà sao nó xa xưa dễ sợ! dân kính thầy, quý thầy bao nhiêu thì xa lạ với người mới bao nhiêu. Thầy mới theo phong trào chùa to phật lớn, phá bỏ hoàn toàn ngôi già lam cổ kính để xây mới theo kiểu tân thời, kiểu cách Tàu, sơn phết loè loẹt... giống một cô gái quê chân đầy phèn mà mặc váy, tô son trét phấn! cả một trời phương ngoaị sụp đổ hoàn toàn, cả một trời cổ tích tàn phai. dẫu biết vô thường là lẽ thường, dẫu biết thay đổi vốn trong từng sát na, nhưng thay đổi như thế này thì đau lòng quá, oan uổng quá! Cơn lốc chùa to Phật lớn, kiểu Tàu, pháp khí Đài Loan... càn quét từ thành thị đến thôn quê! bây giờ những ngôi chùa tân thời to lớn đồ sộ nhưng na ná như cố cung Bắc Kinh! còn đâu những kiểng chùa xưa? 
Vùng phương ngoaị xa xăm, đêm nằm nghe tuyết đổ, lòng cháy lên bao kỷ niệm âm âm. Vùng phương ngoại mông lung, hồn phất phơ theo tuyết bay trong gió! Gã nhớ gì? thương gì? nhớ thương những mênh mông bất tận, nhớ những cái ảo mờ sương khói, thương những cái không sao nắm bắt được bao giờ! Đất trời vô cùng tận, thời gian lãng đãng qua như nước chảy, mây bay, như hoa rơi, lá rụng. Lịch sử thăng trầm nối tiếp nhau, đời nào cũng có anh hùng và đời nào cũng có bọn lưu manh! công danh phú quí dẫu có dài cũng trong một kiếp người nhưng bia đá, bia miệng thì muôn đời! 
Tuyết đổ trắng sân nhà, cả sơn hà đaị địa phủ một màu trinh bạch, tinh khiết; nhìn ra ngỡ như một cõi nguyên sơ. Cõi nguyên sơ nào? coĩ nguyên sơ ở đâu? nó ở ngay lòng mình, nó ở trong tâm mình đó thôi! Nhất thiết duy tâm tạo cơ mà! Mùa xuân hoa đua nở, mùa hạ biếc cây đời, mùa thu lá vàng rơi, mùa đông phơ phất tuyết vẫn kkhông xóa nhoà được hình ảnh cố quận ngày xưa! vẫn lung linh như ngôi sao trên bầu trời đêm! những tháng ngày lang thang vùng phương ngoại, đời vẫn như áng mây bay về phương ấy! Gã vẫn sống những tháng ngày thương nhớ, nhớ thương tràn ngập trong lòng, tâm hồn như sợi dây đàn luôn ngân nga những giai điệu ân tình. Tháng ngày vất vả mưu sinh vẫn réo rắt gọi tình! cái tình vạn thuỷ thiên sơn, cái tình nhất kiến chung sinh, cái tình đẹp mong manh, trong vắt, thánh thót... nhưng không sao nắm bắt được bao giờ! 
 Kiểng chùa xưa giờ đã mất, mất vĩnh viễn. Chuyện ngày xưa vẫn còn mà chuyện ngày nay laị xưa đến vô cùng!

TIỂU LỤC THẦN PHONG 
Ất Lăng thành, 2018

 

Liên Hiệp Âu châu, cả Anh quốc, Huê kỳ và Canada đều đồng loạt lên tiếng cực lực lên án Xi và đảng cộng sản Trung Quốc là tội phạm chống nhơn loại. Các nước văn minh trên đây đã quyết định trừng phạt Trung quốc vì tội diệt chủng nhằm vào dân tộc thiểu số Duy-ngô-nhĩ ở Tân-cương, miền Tây-Bắc nước Tàu.
Trước hiện trạng kỳ thị, không chỉ bạo hành bằng lời nói, mà còn tấn công hung bạo và bắn giết khiến nhiều người đã thiệt mạng hoặc bị thương tích nặng, các chuyên gia và các nhà hoạt động đã đưa ra một số biện pháp để chống trả vấn nạn này và giúp các thành viên trong cộng đồng tự bảo vệ
Lực lượng “ăn cháo đá bát” rất đông và lan nhanh như bệnh dịch, nhưng chưa bao giờ được công khai cho dân biết để dân bàn, dân kiểm tra. Ngược lại, dân lại là nạn nhân của đám ong nuôi trong tay áo từ bao năm nay. Chúng nằm trong ngành Tuyên giáo, trước đây gọi là Ban Tư tưởng-Văn hóa Trung ương và Ban Khoa giáo Trung ương. Sau lưng đảng còn có đội ngũ chuyên nghề nói thuê và viết mướn gồm Báo cáo viên và Dư luận viên được trả lương bằng tiền thuế của dân.
Vào sáng ngày 1 tháng 5-1975 Trung tá bác sĩ Hoàng Như Tùng, nguyên chỉ huy trưởng Quân Y viện Phan Thanh Giản - Cần Thơ, mặc đồ dân sự, trong tư thế quân phong, đưa tay lên chào vĩnh biêt Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lênh Quân Đoàn IV, Quân Khu IV, Vùng 4 Chiến Thuật, trước sự kinh ngạc của một nhóm sĩ quan cấp cao của bộ đội cộng sản vì sự dũng cảm của bác sĩ Trung Tá Hoàng Như Tùng. Một sĩ quan của bộ đội cộng sản mang quân hàm thiếu tá tiến đến và yêu cầu bác sĩ Hoàng Như Tùng nhận diện Tướng Nguyễn Khoa Nam.
Sách này sẽ được ghi theo hình thức biên niên sử, về các sự kiện từ ngày 8/5/1963 cho tới vài ngày sau cuộc chính biến 1/11/1963, nhìn từ phía chính phủ Hoa Kỳ. Phần lược sử viết theo nhiều tài liệu, trong đó phần chính là dựa vào tài liệu Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ “Foreign Relations of the United States 1961-1963”, một số tài liệu CIA lưu giữ ở Bộ Ngoại Giao, và một phần trong sách “The Pentagon Papers” của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, ấn bản Gravel Edition (Boston: Beacon Press, 1971). Vì giờ tại Việt Nam và Hoa Kỳ cách biệt nhau, cho nên đôi khi ghi ngày sai biệt nhau một ngày.
Tôi là anh trưởng trong gia đình, với 9 đứa em cả trai lẫn gái, nên trách nhiệm thật khó khăn, từ nhân cách cho đến cuộc sống. Nhưng may mắn tôi gặp được những người anh ngoài xã hội để noi gương và học hỏi. Một trong số những nhân vật hiếm hoi đó, chính là anh Nguyễn Văn Tánh, người mà tôi đã có cơ hội được tiếp tay hỗ trợ và đồng hành cùng anh trong suốt 20 cuộc Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế Liên Hiệp Quốc tại thành phố New York từ 20 năm qua.
Tôi tha phương cầu thực gần như trọn kiếp (và may mắn lạc bước đến những nơi không thiếu bơ thừa sữa cặn) nên bất ngờ nhìn thấy mảnh đời cùng quẫn thì không khỏi chạnh lòng. Nghe tiếng mời chào khẩn thiết, nhìn những khuôn mặt khẩn cầu của đồng bào mình mà muốn ứa nước mắt.
Các định kiến tai hại đối với các phụ nữ Á Châu trong văn hóa đại chúng của Mỹ đã có từ ít nhất thế kỷ thứ 19. Từ đó, các nhà truyền giáo và binh sĩ Mỹ tại Á Châu đã xem phụ nữ mà họ gặp đó như là ngoại lai và dễ tùng phục. Các định kiến này đã ảnh hưởng luật di trú đầu tiên của Hoa Kỳ dựa vào chủng tộc, Đạo Luật 1875 Page Act, ngăn cản các phụ nữ Trung Quốc vào Hoa Kỳ. Giả thuyết chính thức là rằng, ngoại trừ được chứng minh ngược lại, các phụ nữ TQ tìm cách vào Hoa Kỳ đã thiếu tư cách đạo đức và là những gái mại dâm. Trên thực tế, nhiều người là vợ tìm cách đoàn tụ với những ông chồng là những người đã đến Hoa Kỳ trước đó. Khoảng cùng thời gian đó, các phụ nữ TQ tại San Francisco cũng bị làm dê tế thần bởi các viên chức y tế địa phương là những người sợ rằng họ sẽ lây truyền các bịnh lây lan qua đường tình dục cho các đàn ông da trắng, là những người sau đó sẽ lây lan cho các bà vợ của họ. Vào giữa thế kỷ 20, các căn cứ chiến tranh và quân sự của Hoa Kỳ tại TQ, Nhật, Phi Luật Tân,
Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Bá Thanh, Nguyễn Thiện Nhân, Nguyễn Hòa Bình, Nguyễn Xuân Phúc … quả đúng là những kẻ thuộc giới ăn trên ngồi trốc. Họ là những hạt giống đỏ được gieo trồng từ miền Bắc, và đã ươm mầm thành cây. Loại cây này, học giả Phan Khôi gọi một cách lịch sự là cây Cộng Sản. Còn dân gian thì gọi là cây cứt lợn!
Nếu đảng đủ can đảm và ông Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng còn đủ bản lĩnh của một Lãnh đạo gương mẫu trong công tác phòng, chống tham nhũng thì hãy công khai cho dân biết Tổ chức Thanh niên của đảng đã làm được những gì cho dân cho nước trong 90 năm qua. Hay ngót 7 triệu Đoàn viên TNCS chẳng làm được trò trống gì, ngoải vai trò tay sai đã tuyệt đối trung thành với đảng và với chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh?
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.