Hôm nay,  

Lặng Lẽ Ra Đi

02/03/202011:43:00(Xem: 7277)

Hôm nay Thứ Bảy, 29-2-2020.  Một ngày đặc biệt. Bốn năm dương lịch mới có một lần nhuận.  Với tôi, hôm nay, cũng là một ngày đặc biệt. Tôi được môt người bạn trẻ, đưa đến chùa Liên Hoa, Houston, dự lễ truy điệu hòa thượng Quảng Độ.  


Người bạn trẻ nói rất đơn giản.  Một người 45 năm can trường, liên tục tranh đấu bất bạo độmg.  Chịu đựng tù đày, gian khổ. Vì tự do tôn giáo. Dân chủ nhân quyền.  Cho đất nước. Cho toàn dân. Một người khí phách. Đầy đủ bi, trí, dũng.  Hãy đến vinh danh Thầy. Bạn trẻ nói ngắn gọn. Với tôi, thật chí lý.


Sau năm 1982, những buổi sáng Chủ nhật, tôi chở Mẹ tôi đến Thanh Minh Thiền Viện để nghe Thầy giảng.  Tôi được nghe theo. Chúng nó lấp ló quanh đây. Thầy vẫn tự tin, khoan thai, bình thản, từ tốn, nhẹ nhàng, vui tươi, hiền hậu.  Hình ảnh còn đậm nét trong trí nhớ.

 

Rồi Thầy bị bắt giam lần nữa. Vẫn bền gan vững chí.  Vẫn lặng lẽ bất khuất. Không sợ hãi. Không khuất phục.  Không than van. Sau nhà tù nhỏ, đến nhà tù lớn. Thầy bị quản thúc.  Cô lập suốt đời. Không được liên lạc với ai. Ở giữa Sài Gòn đông đúc.  Một mình. Như Phan Châu Trinh. Một mình ngoài Côn Lôn. Số phận hai nhà tranh đấu bất bạo động của hai chế độ khá giống nhau.  Can trường như nhau. Pháp chẳng làm gì Phan Châu Trinh. Nhưng không cho Phan Châu Trinh làm gì. Chúng cũng chẳng làm gì Thầy. Nhưng không cho Thầy làm gì.  Phan Châu Trinh ra nước ngoài đòi hỏi dân quyền. Thầy ở lại trong nước tranh đấu dân chủ. Lịch sử Việt Nam sẽ ghi nhận. Chiến sĩ bất bạo động thứ hai sau Phan Châu Trinh là Thích Quảng Độ.


Đứng đầu sóng ngọn gió.  Thầy nhứt định không đưa Giáo hội vào tay quốc doanh.  Ông Gandhi sống với người Anh văn minh. Đối xử theo pháp luật.  Nếu ông Gandhi ở với chúng. Lũ côn đồ gian ác. Không biết ông Gandhi có đủ sức chịu đựng như Thầy hay không?


Chỉ tới cuối cùng.  Khi đã đi hết một vòng.  Sinh, lão, bệnh, tử. Thầy dừng lại.  Nhiều người thương tiếc. Tương lai sẽ ra sao. Quỷ sứ thì mửng. Nhưng chúng vẫn sợ. Phá rối tang lễ. 


Nhìn hình Thầy đi vào thiên thu.  Thầy vẫn bình thản. Vẫn an nhiên.  Khi chết cũng như khi sống. Bỗng nhiên tôi nhớ đến 4 câu thơ của Alfred de Vigny, xin tạm ghi lại ý nghĩa: “Rên rỉ, khóc than, cầu xin đều là hèn nhát / Hãy thi hành một cách cương nghị nhiệm vụ lâu dài và nặng nề của bạn / Trên con đường mà Số phận đã đưa đẩy bạn đi. / Rồi sau đó, như tôi đây, đau đớn và chết không nói năng chi.”  (Nguyên văn: “Gémir, pleurer, prier est également lâche / Fais énergiquement ta longue et lourde tâche / Dans la voie où le Sort a voulu t'appeler. / Puis après, comme moi, souffre et meurs sans parler.”)


Vâng, Thầy không rên rỉ, chẳng than van.  Tranh đấu đến sức cùng lực kiệt. Rồi lặng lẽ ra đi.  Trở về cõi Phật. Không nói năng chi. Hậu sự đơn giản.  Theo đức người xưa ...

 

Kính vĩnh biệt Thầy.  Vị anh hùng bất bạo động.

TRẦN GIA PHỤNG

(Houston - Texas)

 

Niềm vui trong Ngày Hội Ngộ, với đặc san được quý nương “khen” còn mấy ông già chồng chỉ gật gù “mầy giữ gìn sức khỏe để tiếp tục”. Tháng 5 năm 2020 và tháng 5 năm nay vì cái dịch Covod-19, không có cơ hội gặp nhau. Dù “ghét cay ghét đắng” mấy ông già chồng hành hạ “con dâu” nầy nhưng không được dịp hội ngộ với nhau, nhớ nhiều.
Khi đối với cha mẹ có thể cung kính mà vui vẻ, mới là tận Hiếu. Chữ “Kính” nhấn mạnh việc không để xảy ra sơ suất dù rất nhỏ, phụng dưỡng cha mẹ già xuất phát từ nội tâm, với khuôn mặt vui vẻ, mới có thể nói là “Hiếu.” Người già không khác những đứa trẻ, nhiều khi hay tủi thân, hờn dỗi và dễ phiền muộn. Con cái có thể cho cha mẹ ăn uống, hầu hạ cha mẹ khuya sớm nhưng rất khó biết đến nỗi buồn của cha mẹ lúc về già.
Giáo hội xin tán thán tinh thần hộ đạo và tu đạo của quí Thiện nam Tín nữ trong hoàn cảnh tai ương đầy kinh hãi hiện nay. Tất cả năng lực và công đức lớn lao này của người đệ tử, chúng con xin dâng lên cúng dường đức Thế Tôn trong ngày Đản sinh. Hàng trăm ngàn trái tim, hàng vạn ngàn bàn tay siết chặt giữa những thương đau tràn ngập của nhân loại, chúng con nguyện quán chiếu thật sâu sự khổ nạn hiện nay để kiên nhẫn mà vượt qua.
Có lẽ cả Trung Cộng lẫn Hoa Kỳ đều không mong muốn việc khơi mào cho một cuộc xung đột vũ trang, nhưng trước thái độ xác quyết của tổng thống Joe Biden, Trung Cộng hiểu rằng họ đang đối đầu với một đối thủ nguy hiểm gấp bội lần so với những năm qua.
Với chế độ độc đảng toàn trị hiện hành, với bộ máy tam trùng hiện tại, với văn hoá tham nhũng hiện nay, và với chủ trương cấm tự do báo chí cố hữu … thì chuyện sống được bằng lương mãi mãi chỉ là một kỳ vọng xa vời. Vô phương thực hiện!
Hội nghị Paris là một quá trình đàm phán giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt kể từ ngày 13 tháng 5 năm 1968, sau ngày 25 tháng 1 năm 1969 có thêm Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam (MTGPMN) tham gia. Ngoài 202 phiên họp chính thức của bốn bên, còn có thêm 24 cuộc mật đàm khác giữa Henry Kissinger và Lê Đức Thọ, Xuân Thủy. Cuối cùng, hội nghị kết thúc sau bốn năm chín tháng và bốn bên chính thức ký kết Hiệp định Paris để chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam vào ngày 27 tháng 1 năm 1973.
Ngày 30 tháng Tư năm 1975 khép lại trang sử Việt của hai lực lượng dân tộc đối đầu nhau trong thế tương tranh quốc tế giữa tư bản và cộng sản. Thế tương tranh này kéo dài từ tranh chấp giữa hai triết thuyết xuất phát từ phương Tây – Duy Tâm và Duy Vật, đã làm nước ta tan nát. Việt Nam trở thành lò lửa kinh hoàng, anh em một bọc chém giết nhau trong thế cuộc đảo điên cạnh tranh quốc tế.
Galang là tên một đảo nhỏ thuộc tỉnh Riau của Indonesia đã được chính phủ nước này cho Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp quốc sử dụng trong nhiều năm để người tị nạn Đông Dương tạm trú, trong khi chờ đợi được định cư ở một nước thứ ba. Trong vòng 17 năm, kể từ khi mở ra năm 1979 cho đến lúc đóng cửa vào năm 1996, Galang đã là nơi dừng chân của hơn 200 nghìn người tị nạn, hầu hết là thuyền nhân vượt biển từ Việt Nam và một số người Cam Bốt.
Hình ảnh thay cho ngàn lời nói, ghi nhận rõ "sự hấp hối" của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, ghi lại cảnh hỗn loạn, sự hoảng hốt, nỗi lo sợ của dân chúng lũ lượt rời nơi đang sinh sống, đã bỏ nhà cửa trốn chạy trước khi VC tràn vào thành phố
Chúng ta liệu có thể đóng vai trò giúp đỡ những người nhập cư và tị nạn trong tương lai như là người Mỹ đã từng làm cho chúng ta không? Theo lời của Emma Lazarus, liệu chúng ta có nâng “... ngọn đèn bên cạnh cánh cửa vàng” cho “... kẻ bão táp, người vô gia cư ... người mệt mỏi, người nghèo khổ” không? Đối với chúng tôi, trong ngày 30 tháng 4 này, không có câu hỏi nào có ý nghĩa và tính quan trọng hơn câu hỏi này.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.