Hôm nay,  

Chú Cuội Thời Nay

20/09/202013:27:00(Xem: 5878)

cuoi 1.jpg

 

  Nhân dịp lễ trung thu sắp đến xin kể câu chuyện “Chú Cuội Ngồi Gốc Cây Đa” đã được một cô giáo ở trường tiểu học kể cho đám học trò nghe cách đây hơn nửa thế kỷ. Ngày xa xưa đó tại một làng quê có một chàng trai trẻ, mồ côi cha lẫn mẹ, sống đơn độc trong ngôi nhà nhỏ lợp lá. Dân trong làng không biết tên chàng trai, nhưng gọi hắn là Cuội. Từ nhỏ cho đến lớn Cuội là một đứa trẻ láu lỉnh, lừa đảo, nghịch ngợm, thường phá làng phá xóm, như giết chó trộm gà, bẻ cây vặt lá, gây sự với mọi người, nhất là Cuội ăn gian nói dối không ai bằng. Riết rồi dân trong làng không ai muốn chơi với Cuội. Kế bên nhà Cuội có một một cây đa và người ta thường thấy Cuội ngồi buồn thiu dưới tàng cây đó. Một hôm trong đầu Cuội tóe ra ý nghĩ, và để rồi trong đêm tối dân trong làng đang say sưa yên ngủ sau một ngày làm việc đồng áng mệt nhọc, bỗng nghe tiếng Cuội la thất thanh:

  “Nhà cháy, nhà cháy, bà con láng giềng ơi!”

Đang mơ mơ màng màng trong giấc nồng, mọi người giật mình tỉnh giấc khi nghe hai tiếng “Nhà Cháy”, vội vã chạy ra, trên tay cầm chậu nước để tạt vào đám lửa. Nhưng không có nhà nào cháy cả, mọi người chỉ thấy nụ cười hăng hắc, khoái chí trên môi Cuội. Ai cũng tức giận Cuội và thầm rủa Cuội là đồ dối trá, lừa đảo. Rồi cách khoảng một thời gian không lâu Cuội lại tái diễn màn “Nhà Cháy” giống như trước, dân làng bị phá giấc ngủ, nhảy nhanh ra khỏi giường, trên tay cầm chậu nước bước ra chữa cháy. Một lần nữa Cuội mỉm cười đắc thắng vì đã lừa gạt dân làng, chẳng có một ngôi nhà nào cháy, mà chỉ cháy ầm ĩ sự giận dữ trong lòng dân trước sự gian manh và lừa dối của Cuội. Nhưng trời bất dung gian, trong đêm rằm trăng tròn, nhà Cuội bỗng bốc cháy. Cuội hớt hải chạy ra khỏi nhà và la lớn cầu cứu:

“ Nhà tôi cháy, nhà tôi cháy. Xin bà con giúp cho”!

Nghe tiếng la inh ỏi cầu cứu của Cuội, dân trong làng vẫn bất động nằm im trên giường và ngủ tiếp, không ai muốn bị Cuội lừa phỉnh mãi. Vì thế ngôi nhà Cuội bị cháy tan tành, rồi cháy lan ra đến cây đa. Gió chợt thổi mạnh và thổi bay gốc cây đa, Cuội sợ hãi mất cây đa thì ai làm bạn với Cuội, nên vội ôm chặt cây đa và cây đa bay thẳng lên cung trăng vào ngày rằm trăng tròn.

     Kể xong câu truyện trên, cô giáo tiểu học mới kết luận: “Các trò sau nầy lớn lên đừng nên bắt  chước tính nói láo của Cuội nhé, bởi vì không một người nào tin tưởng lời nói của những người nói láo”.

     Trong Phật Học Phổ Thông của Hòa Thượng Thiện Hoa đã ghi: “Ngũ giới là năm điều ngăn cấm mà Phật đã chế ra, để ngăn những tưởng niệm ác, nói năng chẳng lành, hành động bất chính. Năm điều răn ấy là: 

       - Không được giết hại 

       - Không được trộm cướp 

       - Không được tà dâm 

       - Không được nói dối 

       - Không được uống ruợu

 

      Chúng ta thường thấy có nhiều bài kinh về thiện ác, về sự lừa đảo và nói dối trong Đại Tạng King của Nam tông Nikaya do Hòa Thượng Minh Châu dịch và trong các bộ A Hàm của Bắc tông do thầy Tuệ Sỹ dịch.

  Trong Tương Ưng Bộ kinh phần Bát Chánh Đạo, chánh ngữ được định nghĩa là từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác và từ bỏ nói lời phù phiếm. Chúng ta cũng biết lời Phật dạy trong thập nghiệp lớn của con người, có 4 nghiệp từ miệng gây ra: nói dối; nói lời ác ý; nói lời hai lưỡi và nói lời thêu dệt.

  Còn trong Tăng Chi Bộ kinh, Đức Phật giảng 5 yếu tố của một lời nói thiện lành như sau:

"Thành tựu năm chi phần, này các Tỳ-khưu, các lời là thiện thuyết, không phải ác thuyết, không có phạm tội và không bị những bậc Hiền trí chỉ trích. Thế nào là năm? Nói đúng thời, nói đúng sự thật, nói lời nhu hòa, nói lời lợi ích, nói với từ tâm".

  Hòa Thượng Tuyên Hóa cũng đã đặt ra sáu tông chỉ cho người phật tử muốn tu đạo. Đó là không tranh, không tham, không mong cầu, không ích kỷ, không tư lợi và không nói dối.

  Trong Trung Bộ Kinh số 61 Kinh Giáo Giới La Hầu La của Hòa Thượng Minh Châu, Đức Thế Tôn đã dạy La Hầu La về sự nói dối. Lý do Đức Thế Tôn nói bài kinh nầy bởi vì lúc ấy La Hầu La là đứa bé mới lên 7 tuổi và thường nói dối. Vì vậy sau một ngày đi thiền hành trở về tịnh xá, Đức Thế Tôn bảo La Hầu La mang chậu nước cho Ngài rửa chân. Sau khi rửa chân xong, Đức Thế Tôn chỉ chậu nước, rồi hỏi La Hầu La:

“ La Hầu La, nước trong chậu uống được không?”

“ Bạch Thế Tôn, nước trong chậu không thể uống được”

“ La Hầu La, nói ta nghe tại sao nước trong chậu không thể uống được?”

“ Bạch Thế Tôn, bởi nước trong chậu đã dơ bẩn rồi”

Lúc ấy Đức Thế Tôn mới nghiêm mặt nói:

“ Miệng con hay nói láo cũng dơ bẩn như nước trong chậu nầy vậy. Không ai tin lời con nói, cũng như không ai muốn uống thứ nước bẩn đục nầy ”

Sau đó Đức Thế Tôn chỉ chậu nước rồi hỏi La Hầu La:

“ Con có thể đựng cơm trong chậu nầy mà ăn được không?”

“ Bạch Thế Tôn, con không thể ăn cơm đựng trong chậu nước nầy, bởi vì cái chậu nầy đã dơ bẩn rồi”

    Nghe La Hầu La trả lời như thế, Đức Thế Tôn nghiêm trang dạy đứa con:

“ Cũng vậy, một người hay nói lời dối trá cũng vô ích như cái chậu nước nầy vậy. Không ai muốn gần gũi, kết bạn với một kẻ thường nói láo, lừa đảo mọi người”

Nói xong Đức Thế Tôn cất giọng hỏi La Hầu La:

“ Con có cảm thấy tiếc nuối nếu cái chậu nước nầy bị bể đi hay không?”

“ Dạ thưa không”

“ Nói ta nghe tại sao?”

“ Bạch Thế Tôn, bởi vì cái chậu nầy đã nhơ nhớp, dơ bẩn rồi”

Nghe đứa con yêu quí trả lời như thế, bằng giọng cứng rắn Đức Thế Tôn răn dạy La Hầu La:

“ Không ai thương tiếc cái chậu bể nát nầy, cũng như không ai kính trọng và yêu mến một kẻ thường hay nói láo”.

 

  Cũng trong Tăng Chi Bộ kinh Đức Thế Tôn nói có ba hạng người có mặt và xuất hiện ở đời.

1 - Hạng người nói như PHÂN. Đó là hạng người nói không đúng sự thật, thường nói dối trá, nói hai lưỡi, nói thêu dệt, nói ác ngữ, khiến bẩn tai người nghe. 

2 - Hạng người nói như HOA. Đó là hạng người nói đúng sự thật, không nói dối trá, không nói hai lưỡi, không nói thêu dệt, không nói ác ngữ, khiến ấm lòng người nghe.

3 - Hạng người nói như MẬT. Đó là hạng người không những nói đúng sự thật, không dối trá, không nói hai lưỡi, không nói thêu dệt, không nói ác ngữ, mà còn hay nói những lời lợi ích, nói những lời chính trực, nói những lời từ tâm, nói những lời nhân ái, khiến gieo vào lòng người nghe sự yêu thích, mến mộ và kính trọng.

 

   Qua các bài kinh vừa viện dẫn cho thấy nói dối là một giới luật căn bản mà một người phật tử phải nên nghiêm mật tu trì. Cho nên chúng ta thường nghe nói tu được cái miệng là tu được nửa đời người. Hoặc đã nghe câu “Bệnh tùng khẩu nhập; Họa tùng khẩu xuất”, tức là bị bệnh tật do sự ăn uống không lành mạnh và tai họa ập đến là do lời nói bông lung, dối trá, không thật. Nói dối là nói không đúng sự thật, chuyện có nói không, chuyện không nói có. Sở dĩ một người thường hay nói dối là họ muốn đạt được mục đích hay cứu cánh cho tư lợi riêng; họặc họ lo sợ hậu quả khi nói ra sự thật, người đời thấy được trình độ kém cỏi và ngu ngơ của mình; hoặc họ muốn phóng đại thành tích có được khác với thực tại. Từ lời nói dối ban đầu dẫn đến chuổi dài lời nói dối tiếp theo, để rồi về sau trở thành căn bệnh nói dối đến quen miệng không còn biết xấu hổ khi thốt ra lời dối trá.  

 

    Cách đây không lâu có một bạn đạo gọi phone cho người viết và bảo hãy nhớ bỏ phiếu cho Tông Tông. Dưới đây là mẫu đối thoại ngắn:

- Tông Tông nào? Tông Tông Thiệu hả?

- Tông Tông Thiệu tịch lâu rồi. Tông Tông Chum đó mầy.

- Ồ, chú Cuội của chúng ta!

- Bậy mầy. Cuội gì?

- Thì tục ngữ có câu “nói dối như Cuội” đó mà!

- Tầm bậy, tầm bạ. Tông Tông Chum luôn luôn nói sự thật !!!

- Thiện tai! Thiện tai! 

  Ông bạn đạo nầy hằng ngày tụng kinh, gõ mõ, cuối tuần đến chùa mặc áo tràng làm công quả ghê lắm và thỉnh thoảng lên sân khấu cầm micro nói vài lời tác bạch. Vậy mà ông ta không biết sự phạm giới của người nói dối, nói lời không đúng sự thật. Hay bởi vì cuồng si, mê mờ, che lấp trí tuệ, dù đã biết lời Đức Thế Tôn dạy bảo nhưng không muốn thực hành, cứ khăng khăng chối bỏ sự hiện diện của chú Cuội thời nay! Không biết ngày xưa chú Cuội ngồi bên cây đa đã nói dối bao nhiêu lần, chứ thời nay thống kê đã cho người dân biết rất rõ và chính xác chú Cuội thời nay nói dối hơn 22,000 lần kể từ khi xuất hiện trên chính trường. Theo những bài kinh trên, người hay nói dối là người nói như PHÂN đánh mất lòng tin, sự thiện cảm của người nghe và do đó không được mọi người tin tưởng. Người hay nói dối là một người không biết tàm, không biết quý, tức là không biết hổ thẹn hay xấu hổ là gì trước sự gian dối của mình và do đó mất đi lòng kính trọng của người nghe. Người hay nói dối là một người vị kỷ, chỉ biết nghĩ đến bản thân mình, đến khát vọng riêng tư của mình, chứ chẳng màng đến sự lợi ích chung của tha nhân và do đó người hay nói dối có thể phạm tội xấu ác hòng đạt cho được cứu cánh.        

 

  Là một phật tử tại gia, không thể nào có thiện cảm và ủng hộ Cuội thời nay, một kẻ phạm tội đại vọng ngữ và nói dối kinh niên, nói chi đến việc cuồng si Cuội, thần tượng Cuội và bỏ phiếu cho Cuội như ông bạn đạo trên. Mong rằng chú Cuội thời nay sẽ không “Chó ngáp phải Ruồi” lần nữa !

Thuở xưa Cuội ngồi ôm cây đa

Bây giờ White House Cuội đành rời xa !

  

    Bài viết nầy được giới hạn trong phạm vi đạo pháp, chứ không muốn đề cập hay đá động đến các lãnh vực khác. Xin kết thúc bằng 4 câu kinh Pháp Cú:

Ai vi phạm một pháp

Ai nói lời vọng ngữ

Ai bác bỏ đời sau

Không ác nào không làm



Ngày 20 tháng 9, 2020

Minh Hành

Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
Đúng vậy, sau gần nửa thế kỷ năm nhìn lại vẫn thấy biến cố 30.04.1975 xảy ra quá bất ngờ đối với toàn thể dân VN chúng ta. Bằng chứng hiển nhiên là rất nhiều cấp lãnh đạo VNCH trong chánh quyền và trong quân đội không ngờ được nên đành phải bị bắt đi tù cải tạo cả hàng chục năm để rồi chết dần mòn trong rừng thiêng nước độc. Nói chi đến người dân bình thường thiếu thông tin của cả 2 miền Nam Bắc tất cả không ai cảm thấy hoặc đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Sự thực này chúng ta có thể đọc thấy rõ trên các tài liệu của 2 miền.
Chúng ta chỉ cần vài thập niên để có thể tạo dựng lại một nền kinh tế lành mạnh và hiệu quả nhưng e sẽ mất đến đôi ba thế hệ mới loại bỏ dần được những thói hư (và tật xấu) vừa nêu. Vấn đề không chỉ đòi hỏi thời gian mà còn cần đến sự nhẫn nại, bao dung, thông cảm (lẫn thương cảm) nữa. Nếu không thì dân tộc này vẫn sẽ tiếp tục bước hết từ bi kịch sang bi kịch khác – cho dù chế độ toàn trị và nguy cơ bị trị không còn.
Ôn dịch Vũ Hán gây nên một cơn khủng hoảng chưa từng thấy trong khối các nước nghèo khó khiến 100 quốc gia trong số 189 thành viên IMF hiện đang cầu cứu cơ quan quốc tế này viện trợ khẩn cấp. Tưởng cần nên tìm hiểu bối cảnh của những quốc gia đang phát triển song song với các phân tích về tác động của khủng hoảng.
Đảng Cộng sản Việt Nam đã lộ rõ tâm địa chống dân chủ bằng mọi giá để kéo dài độc tài cai trị, làm giầu bất chính trên lưng người dân nhưng lại ngoan ngoãn cúi đầu trước hành động cướp đất, chiếm Biển Đông của Trung Cộng. Những việc này, tuy không mới, nhưng đã bung ra vào lúc đảng ra sức vận động cán bộ, đảng viên, kể cả cựu lãnh đạo và cựu chiến binh đóng góp ý kiến vào các Dự thảo văn kiện đảng XIII để khoe khoang.
Đại dịch Vũ Hán đang tàn phá Trung Hoa Lục Địa và toàn thể nhân loại. Tuy thế, tai họa này vẫn không giảm thiểu tham vọng bá quyền xâm lược của đảng CSTQ đối với Việt Nam qua các hoạt động tập trận, xâm phạm lãnh hải và vùng kinh tế cũng như hiếp đáp gây thiệt hại cho ngư dân Việt Nam.
Tôi (trộm) nghe nói rằng quân tử ba ngày mà không đọc sách thì diện mạo dơ dáng, và trò chuyện khó nghe. Tôi vốn bẩm sinh mặt mũi không mấy dễ coi, và chuyện trò vô cùng nhạt nhẽo nên (lắm khi) đến vài ba năm cũng chả nhìn đến một cuốn sách nào mà vẫn cứ sống phây phây – chả có (trăng) sao gì ráo trọi.
Sau ngày 30-4-1975 Bắc Việt Nam (NVN) chủ trương tiêu diệt triệt để tiềm lực NVN về nhân lực, về kinh tế và về văn hóa nhằm củng cố việc cưỡng chiếm Nam Việt Nam (NVN) và chận đứng Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) có thể hồi sinh ở NVN.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.