Hôm nay,  

Hoài Niệm Vu Lan

20/09/202013:50:00(Xem: 6164)
vu-lan-pghh-1
(Hình tài liệu Viêt Báo.)



Mỗi độ thu sang, lá vàng lá úa xác xao rụng rơi trong gió, như âm vang ai oán của điệu vãn than cuối cùng, đang cuốn trôi vào định luật vô thường của vũ trụ, rồi hóa kiếp về cùng cát bụi, đắm chìm trong sương khói của thời gian…

Tôi chợt nhớ mùa Vu Lan đang đến, vội cài lên ngực áo đóa hồng trắng, nghe lòng tê tái một niềm đau. Nhìn cánh hoa tang bất hạnh đã gắn liền trên ngực áo của tôi, của những người con, những chúng sanh vì nghiệp nặng phước mỏng, đã sớm vắng bóng mẹ hiền... để rồi cả một đời còn lại sẽ phải lang thang lạc lõng khắp hang cùng, ngõ hẹp, để tìm bóng dáng của tình thâm, dù vẫn biết rằng: sự hiện hữu của Tổ Tiên tôi, của ông bà tôi và cả cha mẹ tôi nữa, vốn dĩ luân lưu trong huyết thống… Chính cội nguồn thương yêu thiết tha đó vẫn luôn nhắc nhở chúng ta công lao tạo dựng nên “thân mạng” cho những người con được sanh ra trên cõi đời nầy, điều mà đã in sâu trong tâm thức của chúng ta. Đó là một ý nghĩa nhân văn sâu sắc nằm trong một truyền thống biết yêu thương và mang ơn Tổ Tiên ông bà cha mẹ của mình. Đó là ân đầu tiên trong bốn trọng ân mà  Đức Tôn Sư đã ân cần nhắc nhở chúng ta như:

“Ta sanh ra cõi đời được có hình-hài để hoạt động từ thuở bé cho đến lúc trưởng thành, đủ trí khôn ngoan, trong khoảng bao nhiêu năm trường ấy, cha mẹ ta chịu biết bao khổ nhọc; nhưng sanh ra cha mẹ là nhờ có tổ-tiên, nên khi biết ơn cha mẹ, cũng có bổn phận phải biết ơn tổ-tiên nữa.

Muốn đền ơn cha mẹ, lúc cha mẹ còn đang sanh tiền, có dạy ta những điều hay lẽ phải ta rán chăm-chỉ nghe lời, chớ nên xao-lãng làm phiền lòng cha mẹ. Nếu cha mẹ có làm điều gì lầm lẫn trái với nhân-đạo, ta rán hết sức tìm cách khuyên-lơn ngăn-cản. Chẳng thế, ta cần phải lo nuôi dưỡng báo đền, lo cho cha mẹ khỏi đói rách, khỏi-bệnh hoạn ốm đau, gây sự hòa-hảo trong đệ huynh, tạo hạnh-phúc cho gia-đình, cho cha mẹ vui lòng thỏa-mãn. Rán cầu cho cha mẹ được hưởng điều phước thọ. Lúc cha mẹ quá vãng, hãy tu cầu cho linh hồn được siêu-thăng nơi miền Phật cảnh, thoát đọa trầm-luân.

Còn đền ơn tổ-tiên, là đừng làm điều gì tồi tệ, điếm nhục tông môn, nếu tổ-tiên có làm điều gì sai lầm, gieo họa đau thương lại cho con cháu, ta phải quyết chí tu cầu và hy-sinh đời ta làm điều đạo-nghĩa, rửa nhục tổ-đường”.

Ân dầy nghĩa nặng của cha mẹ có thể kết thành những dòng thơ mật ngọt, tuyệt tác, cao vời nhất. Hạnh hiếu được coi là một đức tính cao đẹp nhất, được đề cao nhiều nhất mà bút mực không sao nói hết cái trọng ân của cha mẹ.

Chúng ta, phải hiểu ơn công lao bể trời của đấng sanh thành để chúng ta biết gần gũi yêu thương, chăm sóc ngay mẹ cha khi còn sanh tiền. Đừng chần chờ vì vô thường sẽ đến trong phút giây, đừng để hối tiếc, đừng để một ngày mai bóng tối bao trùm mà hạnh hiếu ta chưa kịp đáp đền. Đức Tôn Sư cũng thường nhắc nhở trong Sấm Thi Quyển Ba:

“Nếu ai biết chữ tu trì,
Cha mẹ còn sống vậy thời cho ăn.
Không làm để ở lung lăng,
Chưởi cha mắng mẹ lăng xăng thiếu gì.
Ở cho biết nhượng biết tùy,
Vui lòng cha mẹ vậy thời mới ngoan”.

Và hơn hai ngàn năm trước, thời Đức Phật còn tại thế, trong một lần du hành Ngài gặp một đống xương khô, Ngài liền dừng lại đảnh lễ. Ngài Anan liền hỏi Phật vì sao mà phải lễ bái đống xương khô, Đức Phật dạy rằng: “Đống xương khô này hoặc Tổ Tiên đời trước, hoặc là cha mẹ nhiều đời của ta nên ta phải chí tâm kính lễ”.

Đức Phật cũng dạy ân đức cha mẹ khó đền đáp dù các con có báo hiếu bằng cách cắt thịt da dâng cho cha mẹ lúc cha mẹ đói khát cũng như dù có đốt thân cúng dường chư Phật cũng không đáp được công ơn cha mẹ.

Ngoài việc giữ tròn chữ hiếu với cha mẹ Đức Phật cũng dạy: Vì bổn phận làm con, chúng ta cũng phải biết khuyến khích cha mẹ thực hành thiện pháp. Chúng ta cũng cần làm các việc có lợi ích cho mọi người như bố thí và luôn thể hiện để quảng bá tư tưởng hiếu đạo đến mọi người, để luôn nhớ chữ hiếu trong Đạo Phật vô cùng quan trọng. Đạo Phật cũng được gọi là Đạo Hiếu, để biết rằng: Có gì sung sướng bằng, khi chúng ta còn mang trên ngực áo cánh hoa hồng thắm. Sự hiện hữu của cha mẹ trong gia đình khác nào sự hiện hữu của thiên thần, còn cha còn mẹ là còn thiên đường của cuộc đời, còn được lẽ sống ngày mai vì: “Trên vạn nẻo đường khó khăn về bến giác cha mẹ là vì sao sáng của vũ trụ bao la để hướng dẫn đời chúng ta ở con đường thiện lành mà hạnh hiếu là hạnh đầu tiên để chúng sanh lần bước vào cõi Phật”.

vu-lan-pghh2
(Hình tài liệu Viêt Báo.)



Hiếu là gốc là bước đầu căn bản để hành xử đạo nhân, đạo làm người và lòng yêu thương kính trọng ông bà cha mẹ lẫn đồng bào dân tộc. Ai mà không làm được những điều căn bản đó thì sẽ không phải là người tốt trong xã hội được. Chúng ta đã thấm nhuần căn bản giáo lý của nhà Phật, nên chúng ta phải thông hiểu cái đạo lý nầy:“Tột cùng thiện là hiếu, tột cùng ác là bất hiếu”.


Muốn đạt được tâm Phật không gì hơn gìn tâm hiếu. Chúng ta hãy chiêm ngưỡng nét đẹp tươi thắm của một đóa hồng nhung, mùi hương nồng nàn từ đấng sanh thành đã khó nhọc một quãng đời dài lao lý mà họ đã ban tặng cho chúng ta. Chúng ta đang hạnh phúc vì trên cõi vô thường thế gian vẫn còn có cha mẹ để mà phụng dưỡng, đền đáp phần nào công lao biển trời, sung sướng vì trên ngực áo của ta luôn có cánh hồng nhung, một đóa hồng duyên nghiệp mà chúng ta đã tác tạo nhiều đời kiếp.

Bông hồng cài áo là một phong tục đẹp và cao quí mà Thiền sư Thích Nhất Hạnh đề xướng, chọn hoa hồng làm biểu tượng cho lễ Vu Lan, lễ mẹ hằng năm của nhà Phật, và viết ấn phẩm “Bông Hồng Cài Áo” vào tháng 8 năm 1962 vào mùa Vu Lan với mục đích để nhắc nhở cho con cháu chúng ta nhớ tới công ơn dưỡng dục sinh thành của cha mẹ, ông bà, Tổ Tiên, mặt khác cũng nhắc cho chúng ta nhớ ơn những đóng góp to lớn của những anh hùng dân tộc, những người có công với đất nước. Đồng thời giúp chúng ta tiếp cận được những ý nghĩa giáo dục đầy nhân bản của văn hóa nhân dân, đó là “Uống nước phải nhớ nguồn”, nhắc nhở mỗi con người của chúng ta bài học sâu sắc về chữ hiếu thiêng liêng và trọng trách của một người con. Chính vì vậy mà người tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo cũng không bao giờ quên được lời vàng ngọc của Tôn Sư trong quyển sấm thi bài Giải Thoát Cửu Huyền:


“Rán tu đắc đạo cứu Cửu Huyền,
Thoát chốn mê đồ đến cảnh Tiên.
Ngõ đáp ơn dày công sáng tạo,
Cho ta hình vóc học cơ huyền”.
Và hơn thế nữa người tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo cũng nằm lòng ghi nhớ để sớm ngày ân cần tu tập, thực thi lời giáo huấn của Ngài trong Quyển Ba của Sấm Giảng Thi Văn:
“Tu cầu cứu vớt Tổ Tông,
Với cho bá tánh máu hồng bớt rơi.
Tu cầu cha mẹ thảnh thơi,
Quốc vương thủy thổ chiều mơi phản hồi”.

Lễ Vu Lan cũng được phát nguồn từ sự tích Tôn Giả Mục Kiền Liên, một trong những đại đệ tử của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.
Vì thương nhớ người mẹ vắng bóng, nên Ngài đã dùng thần thông tìm khắp các cõi. Thấy mẹ đang bị đọa vào cảnh ngạ quỷ, đói khát và bị hành hạ rất là khổ sở. Ngài liền đem cơm dâng cho mẹ. Nhưng, than ôi! Cơm đưa tới miệng thì bị hóa thành lửa. Ngài rất là đau lòng, vội vàng trở về xin gặp Đức Phật và xin với Phật, một cách thức để cứu mẹ. Phật dạy rằng: “Mẹ ông vì nghiệp ác quá nặng, một mình ông không thể cứu được, ông hãy nhờ vào oai lực của các chư tăng mười phương, trong ngày rằm tháng bảy”.
Y lời dạy của Phật, Bồ Tát Mục Kiền Liên đã cứu được mẹ. Phật cũng dạy chúng sanh: “Ai muốn báo hiếu cho cha mẹ cũng cần làm theo cách nầy” và từ đó lễ Vu Lan ra đời.

Rằm tháng bảy âm lịch cũng là ngày “Xá Tội Vong Nhân” mà nhân gian gọi nôm na là ngày cúng thí thực, nên người ta sắm lễ vật và rất nhiều thức ăn, hoa quả để cúng dường các Đại Đức, Chư Tăng, Ni để các ngài nhơn danh Tam Bảo mà cầu nguyện cho Cữu Huyền Thất Tổ, thập loại chúng sanh khỏi bị đọa ở cảnh địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh... đồng thời cũng thí thực cho những vong hồn đang đói khổ, chưa siêu thoát, không nơi nương tựa không người cúng kiến.

Trong dịp nầy hầu hết các chùa cũng như các tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo khắp nơi trên thế giới, trong tinh thần từ bi, và vì muốn cứu vớt mang tha lực đến các chúng sanh trong các cõi…mặt khác cũng trang nghiêm cầu siêu cho cha mẹ tổ tiên nhiều đời, nhiều kiếp được siêu thoát.

Ngày Rằm tháng Bảy cũng còn được gọi là ngày Tự Tứ. Vì thể lòng từ bi, nên tất cả các Tăng Ni phải tu học trong ba tháng an cư kiết hạ, kể từ rằm tháng tư cho đến hết rằm tháng bảy, vì thời tiết ở Ấn Độ xưa, ba tháng nầy mưa liên tục, đất rất là ẩm ướt, các loại côn trùng bò lên đầy đường. Tăng Ni đi khất thực sẽ dẫm đạp lên côn trùng, làm chết hại những chúng sanh nhỏ bé và cũng để tự mình tu học, để thấy những sai trái của mình. Đó là việc làm rất hay và hữu ích cho việc tiến tu. Người lớn thương chỉ lỗi, người nhỏ giác ngộ nhận lỗi và sửa đổi thì mới thành người tốt. Do đó, Đức Phật rất vui, nên ngày Tự Tứ cũng được gọi là ngày Phật hoan hỷ.

Nhân mùa Vu Lan, chúng tôi xin chia sẻ về ý nghĩa, tầm quan trọng của “Chữ Hiếu” trong tinh thần hiếu đạo, nhớ ơn sanh thành trong ý nghĩa “Ân giáo dưỡng một đời nên huệ mạng, nghĩa sanh thành muôn kiếp khó đáp đền”. Tất cả chúng ta được tác thành sinh mạng trên cõi đời nầy bởi tình yêu thiêng liêng của Tổ Tiên cha mẹ, tạo nên nền văn hóa nhân bản đầy tình thương, biết thọ ơn nhau để chan hòa trong tình thương đại chúng, chính những cội rễ văn hóa nhân loài đó đã mang một phương thức đền đáp ân nghĩa sanh thành, dưỡng dục để xây dựng một lối sống cao đẹp ứng xử trong trời đất và trải nghiệm với muôn vàn các mối liên hệ nhau để tồn tại và phát triển và cũng để cùng nhau hướng tâm tu học chuyển hóa thân tâm, thoát khỏi khổ đau.

Nhân mùa báo hiếu, chúng ta hãy cùng nhau thông qua lễ hội Vu Lan để yêu thương nhau, để luôn biết ơn cha mẹ ông bà và luôn hướng về gia đình và hãy luôn nhớ lời dạy vàng ngọc của Đấng Tôn Sư, hầu thấm nhuần bốn đại trọng ân mà Ngài đã ân cần nhắc nhở cho chúng ta, cho tín đồ của Ngài, trong đó có ân đầu tiên mà chúng ta cần phải thực hành, hy sinh gắng gổ mới mong làm tròn bổn phận của người Học Phật Tu Nhân, đó là: “Ân Tổ Tiên Cha Mẹ”. Hãy cùng nhau tạo phúc lành, cùng nhau hưởng hồng ân của đất trời, để được an trú trong miền đất an lạc, Niết Bàn trong cõi trần nầy vậy.

Lê Yến Dung (Vu Lan Tháng 7 Al/2020)

 

Kể trong Đêm nhạc 40 năm quốc tế cứu thuyền nhân Thứ Bảy 20/7/2019 tại Hội Trường Việt Báo, Westminster, Calif. Gia đình Phan Trung Kiên trên một chiếc ghe nhỏ với 24 người trên ghe (trong đó gia đình Kiên gồm 5 cha con) đã rời bãi biển Mỹ Khê (Đà Nẵng) vào khoảng 3 giờ sáng ngày 3 tháng 7 năm 1981
Ông Ross Perot là doanh nhân Mỹ ra tranh cử TT Mỹ như một ứng viên độc lập năm 1992 và năm 1996. Ông là một trong ứng viên độc lập thành công nhất trong lịch sử Hoa kỳ.
Mở đâu cuộc họp, LS Trịnh Hội, giám đốc điều hành của tổ chức VOICE đã trình bầy cũng như phân phát tận tay cho quý vị cử tọa, các tài liệu bao gồm những dữ kiện đòi hỏi, ảnh hưởng trực tiếp đến các chương trình định cư người Việt tỵ nạn
Tôi không có duyên lắm với những người phụ nữ cầm bút, đặc biệt là những cô hay những bà làm thơ, kể cả Bà Huyện Thanh Quan. Vấn đề hoàn toàn chả phải vì lý do cá nhân, hay tư tiêng gì ráo. Điều không may chỉ vì tôi gặp nữ sỹ hơi quá sớm, thế thôi!
Năm Kỷ Mão (1279), sau khi tiêu diệt xong triều đại Nam Tống, nhà Nguyên chuẩn bị mở rộng cuộc xâm lăng sang các nước Đại Việt, Chiêm Thành... Lúc bấy giờ một số tàn quân và dân chúng nước Nam Tống không chịu sống dưới sự cai trị của người Mông Cổ đã theo đường biển chạy ra các nước ngoài xin tị nạn.
Uy Lĩnh xưng danh và kể lại những gian nan từ sau khi rời thành Troa. Trước tiên quân Uy Lĩnh cập bờ biển Thạch Các, tấn ông thành Ích Ma Rốt, qua ngày hôm sau bị dân Si Côn phản công dữ dội phải rút lui. Đoàn thuyền binh bị ngược gió băng qua mũi Ma Lê, sau chín ngày lênh đênh cập vào bến xứ Lô Tô Pha.
Ông Nguyễn Phi Khanh thi đỗ Nhị Giáp Tiến sĩ . Khi Hồ Quí Ly cướp ngôi nhà Trần , ông ra làm quan dưới triều Hồ Hán Thương và được bổ nhiệm chức Hàn Lâm Học sĩ .
muốn nguyện cầu thì phải làm sao, phải tạo nên phước đức rồi từ phước đức này chúng ta hồi hướng đến người thân yêu. Phước đức lớn lao là cúng dường lên Tăng Bảo trong mùa An Cư kiết hạ. Có phước thì mới chia phước cho người khác. Từ ý nghĩa này, người con Phật phát tâm cúng dường chư Tăng cầu phước trong mùa lễ Vu Lan.
Đây là số lượng thơ Nguyễn Lương Nhựt khá nhiều và hiếm đối với một bệnh nhân tâm thần phân liệt làm thơ ở Việt Nam (trường hợp nhà thơ Bùi Giáng và nhà văn Nguiễn Ngu Í thì khác: Hai vị nầy vào bệnh viện tâm thần rất ít, chỉ ở ngoài làm việc, sáng tác, rong chơi...)
cơ thể và đầu óc ông phải chịu đựng những cơn đau đớn hành hạ khốc liệt khi lên cơn, trải qua biết bao năm tháng kéo dài, từ nhẹ đến nặng, từ thuyên giảm tưởng dứt bệnh đến tái phát nặng nề, phải nằm viện tính ra hơn 6 năm trong bệnh viện tâm thần. Người thi sĩ chỉ còn một hy vọng duy nhất và mãnh liệt nhất là “làm thơ” và xem đây là liều thuốc bổ để chữa dứt bệnh tâm thần cho bản thân
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.