Hôm nay,  

Đăng Cáo Phó

13/10/202009:03:00(Xem: 7217)
 
Tran Van Giang 
 
 
Tôi đã vào tuổi thất tuần, về hưu đã vài năm. Thỉnh thoảng trong giờ nhàn rỗi, vẫn giở vài trang báo Việt Ngữ ra đọc cho qua ngày tháng.  Tôi để ý đã có một sự thay đổi lớn trong sở thích của cá nhân tôi.  Đó là:  Tôi không còn quan tâm nhiều về lập trường chính trị của đảng Cộng hòa, Dân chủ, vấn đề tranh cãi “Phá Thai” hay phong trào “Black Lives Matters…”  ngay cả tình hình kinh tế thị trường chứng khoán trồi sụt (“tiền liền khúc ruột!”) mà tôi lại thích đọc, và đọc rất kỹ các trang Cáo phó của các báo Việt Ngữ (!) 
 
Nhà báo Bùi Bảo Trúc lúc còn sinh tiền đã viết đại khái là ông ta thích đọc trang Cáo phó “vì vui thấy mình còn sống (chưa chết!)…”  Riêng tôi, trang Cáo phó trên báo, nếu đọc cho kỹ, sẽ thấy rất nhiều đều thú vị có thể học hỏi được; để rồi khi hữu sự, cứ như thế mà làm theo y chang (“cóp-pi” nguyên con !?); hay cũng để tránh “không nên làm tương tự như vậy” vì  coi có vẻ “ốt dột” lắm (!)…  
 
Ngay khi có người thân qua đời, người trong gia đình gần như, không thể tránh được, phải tìm cách thông báo cho mọi người thân nhân và bằng hữu biết ngay.  Trước đây, khi còn ở Việt Nam, vấn đề thông báo này không phức tạp cho lắm; đôi khi chẳng cần phải đi đăng Cáo phó trên báo làm gì cho tốn tiền; chỉ cần cử một người trong gia đình đi vòng vòng thông báo trong một buổi là xem như tạm đủ.  Bây giờ sống ở nước ngoài, thân nhân và bạn hữu chúng ta chỉ có một số ít ở gần kề, còn phần lớn ở rải rác các thành phố khác trên nước Mỹ; đôi khi ở trên khắp năm Châu…  Việc đăng Cáo phó trên báo in hay báo “online” là cách thông báo hữu hiệu mau chóng và chính xác.  Nhiều người cũng dùng cách thông báo trên các trang mạng xã hội (Social media); tuy nhiên Cáo phó trên báo in vẫn được coi là “chính thức, đứng đắn, và long trọng” hơn. 
 
Các chi tiết cơ bản thường thấy được thông báo trên Cáo Phó của người Việt (không nhất thiết phải theo cùng 1 thứ tự) như sau : 
 
  • Tên, tên Thánh/Pháp danh (nếu có). 
  • Ngày và nơi sinh, ngày và nơi tạ thế, tuổi thọ. 
  • Liên hệ giữa người quá cố và người (hay gia đình) đứng thông báo. 
  • Các chi tiết về nhà Quàn, ngày giờ và nơi chốn chương trình phát tang, đọc kinh, thăm viếng và an táng. 
  • Một danh sách thành viên gia đình người quá cố, thường nằm ở phần cuối Cáo phó. 
 
Các chi tiết Cáo phó này, tôi đọc nhiều lần trên các báo mới chính là vấn đề tôi muốn nêu ra trong bài viết ngắn này.  
 
Văn hóa Tây phương và cổ truyền Việt Nam có nhiều khác biệt trên phương diện tang sự… Về sự chết, người Tây phương có vẻ thông thoáng hơn vì họ sống thực tế, tích cực (positive) và ít dị đoan cho nên không họ chẳng cần kiêng cử chi cả.  Trong các Cáo phó họ còn viết lên những lời bông đùa, khôi hài về người chết cũng như người sống trong gia đình.  Họ coi tang sự như một ngày “Chúc tụng sự sống (celebration of life)” thay vì là “Sự chấm dứt của một đời sống (end of one life).”   Nhiều người Tây phương còn ngang nhiên can đảm viết Cáo phó cho chính mình khi vẩn còn sống thở mạnh giỏi.  Kinh thật!!! 
 
Văn hóa Việt Nam (và cả Trung hoa) để ý đến nhiều điều húy kỵ; thường không dám nhìn thẳng vào sự chết; và phải nói là chúng ta gần như không có cái văn hóa viết Cáo phó.  Cáo phó của người Việt chỉ đơn thuần là loại văn chương / công thức ứng dụng (loại “điền vào chỗ trống cho hợp nghĩa!”) thông thường; không dám đi vào các ngoại lệ vì sợ công chúng (người bên ngoài) cho là phạm thượng (?) dám giởn mặt người qua cố, làm mất vẻ trang nghiêm của tang lễ v..v.. 
 
Mặc dù người Việt vẫn theo công thức và thông lệ, nhưng qua sự quan sát, tôi thấy có nhiều thông lệ lại đi “quá đà” (excessive); Chẳng hạn như các chức vụ, tước vị, bằng cấp của người chết cũng như thành viên gia đình (còn sống) được liệt kê loạn xạ, một cách không cần thiết….  Danh sách số thân nhân của người quá cố đôi khi dài hơn 2 phần 3 trang Cáo phó (gồm cả vợ lớn, vợ bé, con, cháu, chắt, con dâu, con rể, con nuôi, anh chị em, chú bác, thông gia, hàng xóm…) Đôi khi các chi tiết loại “quá đà” này gây sự hiều lầm (với ác ý!?) là khoe khoang, nổ sảng quá trớn; không ai có đủ thời giờ kiểm chứng sự trung thực các đề mục được liệt kê dài dòng trong Cáo Phó (!?) 
 
Lời cuối 
 
Tóm lại, người Việt dường như thiếu hẳn một “Văn hóa Viết Cáo phó” (?).  Để phát huy sự phong phú và thông thoáng của Văn hóa Tang sự Việt Nam, tôi tiện đây đề nghị các tờ báo Việt Ngữ lớn ở hải ngoại, ngoài các cuốc thi đua đã có sẵn như  “Viết Về Văn Hóa Nước Mỹ,”  “Sự Duyên Dáng của Văn Hóa Việt Nam…”  nên thêm vào đó cuộc thi đua “Viết Cáo phó” cho trọn vẹn. 
 
Để kết thúc, tôi mạo muội dùng lời của ông Yogi Berra (1925-2015), một cầu thủ và cũng là Huấn Luyện Viên nổi tiếng của đội bóng “Baseball” New York Yankees như sau: 
 
“Bạn nhớ luôn luôn phải đi dự đám tang của người khác nhé; nếu không người khác sẽ không đi dự đám tang của bạn.” 
(Always go to other people's funerals; otherwise they won't go to yours). 
 
Thân mến, 
 
 
Trần Văn Giang 
Orange County 
Ngày 12 tháng 10 năm 2020. 

Giáo hội xin tán thán tinh thần hộ đạo và tu đạo của quí Thiện nam Tín nữ trong hoàn cảnh tai ương đầy kinh hãi hiện nay. Tất cả năng lực và công đức lớn lao này của người đệ tử, chúng con xin dâng lên cúng dường đức Thế Tôn trong ngày Đản sinh. Hàng trăm ngàn trái tim, hàng vạn ngàn bàn tay siết chặt giữa những thương đau tràn ngập của nhân loại, chúng con nguyện quán chiếu thật sâu sự khổ nạn hiện nay để kiên nhẫn mà vượt qua.
Có lẽ cả Trung Cộng lẫn Hoa Kỳ đều không mong muốn việc khơi mào cho một cuộc xung đột vũ trang, nhưng trước thái độ xác quyết của tổng thống Joe Biden, Trung Cộng hiểu rằng họ đang đối đầu với một đối thủ nguy hiểm gấp bội lần so với những năm qua.
Với chế độ độc đảng toàn trị hiện hành, với bộ máy tam trùng hiện tại, với văn hoá tham nhũng hiện nay, và với chủ trương cấm tự do báo chí cố hữu … thì chuyện sống được bằng lương mãi mãi chỉ là một kỳ vọng xa vời. Vô phương thực hiện!
Hội nghị Paris là một quá trình đàm phán giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt kể từ ngày 13 tháng 5 năm 1968, sau ngày 25 tháng 1 năm 1969 có thêm Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam (MTGPMN) tham gia. Ngoài 202 phiên họp chính thức của bốn bên, còn có thêm 24 cuộc mật đàm khác giữa Henry Kissinger và Lê Đức Thọ, Xuân Thủy. Cuối cùng, hội nghị kết thúc sau bốn năm chín tháng và bốn bên chính thức ký kết Hiệp định Paris để chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam vào ngày 27 tháng 1 năm 1973.
Ngày 30 tháng Tư năm 1975 khép lại trang sử Việt của hai lực lượng dân tộc đối đầu nhau trong thế tương tranh quốc tế giữa tư bản và cộng sản. Thế tương tranh này kéo dài từ tranh chấp giữa hai triết thuyết xuất phát từ phương Tây – Duy Tâm và Duy Vật, đã làm nước ta tan nát. Việt Nam trở thành lò lửa kinh hoàng, anh em một bọc chém giết nhau trong thế cuộc đảo điên cạnh tranh quốc tế.
Galang là tên một đảo nhỏ thuộc tỉnh Riau của Indonesia đã được chính phủ nước này cho Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp quốc sử dụng trong nhiều năm để người tị nạn Đông Dương tạm trú, trong khi chờ đợi được định cư ở một nước thứ ba. Trong vòng 17 năm, kể từ khi mở ra năm 1979 cho đến lúc đóng cửa vào năm 1996, Galang đã là nơi dừng chân của hơn 200 nghìn người tị nạn, hầu hết là thuyền nhân vượt biển từ Việt Nam và một số người Cam Bốt.
Hình ảnh thay cho ngàn lời nói, ghi nhận rõ "sự hấp hối" của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, ghi lại cảnh hỗn loạn, sự hoảng hốt, nỗi lo sợ của dân chúng lũ lượt rời nơi đang sinh sống, đã bỏ nhà cửa trốn chạy trước khi VC tràn vào thành phố
Chúng ta liệu có thể đóng vai trò giúp đỡ những người nhập cư và tị nạn trong tương lai như là người Mỹ đã từng làm cho chúng ta không? Theo lời của Emma Lazarus, liệu chúng ta có nâng “... ngọn đèn bên cạnh cánh cửa vàng” cho “... kẻ bão táp, người vô gia cư ... người mệt mỏi, người nghèo khổ” không? Đối với chúng tôi, trong ngày 30 tháng 4 này, không có câu hỏi nào có ý nghĩa và tính quan trọng hơn câu hỏi này.
Khách đến Việt Nam ngày nay thấy nhiều nhà cao cửa rộng, xe chạy chật đường hơn xưa. Nhưng đa số người Việt Nam có vẻ không có cái nhu cầu dân chủ của người Myanmar hay người Hồng Kông. Hay là họ có, nhưng 20 năm chiến tranh đã làm họ mệt mỏi, xuôi xị chấp nhận chút đầy đủ vật chất, nhắm mắt với tương lai? Và Đảng Cộng sản Việt Nam có thể hy vọng người Việt sẽ ngoan ngoãn như người dân Bắc Hàn, không cần dự phần tự quyết cho tương lai của mình và con cháu mình?
Ngày 30/4 năm thứ 46 sau 1975 đặt ra câu hỏi: Còn bao nhiêu năm nữa thì người Việt Nam ở hai đầu chiến tuyến trong chiến tranh mới “hòa giải, hòa hợp” được với nhau để thành “Một Người Việt Nam”? Hỏi chơi vậy thôi chứ cứ như tình hình bây giờ thì còn mút mùa lệ thủy. Nhưng tại sao?
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.