Hôm nay,  

Đăng Cáo Phó

13/10/202009:03:00(Xem: 7201)
 
Tran Van Giang 
 
 
Tôi đã vào tuổi thất tuần, về hưu đã vài năm. Thỉnh thoảng trong giờ nhàn rỗi, vẫn giở vài trang báo Việt Ngữ ra đọc cho qua ngày tháng.  Tôi để ý đã có một sự thay đổi lớn trong sở thích của cá nhân tôi.  Đó là:  Tôi không còn quan tâm nhiều về lập trường chính trị của đảng Cộng hòa, Dân chủ, vấn đề tranh cãi “Phá Thai” hay phong trào “Black Lives Matters…”  ngay cả tình hình kinh tế thị trường chứng khoán trồi sụt (“tiền liền khúc ruột!”) mà tôi lại thích đọc, và đọc rất kỹ các trang Cáo phó của các báo Việt Ngữ (!) 
 
Nhà báo Bùi Bảo Trúc lúc còn sinh tiền đã viết đại khái là ông ta thích đọc trang Cáo phó “vì vui thấy mình còn sống (chưa chết!)…”  Riêng tôi, trang Cáo phó trên báo, nếu đọc cho kỹ, sẽ thấy rất nhiều đều thú vị có thể học hỏi được; để rồi khi hữu sự, cứ như thế mà làm theo y chang (“cóp-pi” nguyên con !?); hay cũng để tránh “không nên làm tương tự như vậy” vì  coi có vẻ “ốt dột” lắm (!)…  
 
Ngay khi có người thân qua đời, người trong gia đình gần như, không thể tránh được, phải tìm cách thông báo cho mọi người thân nhân và bằng hữu biết ngay.  Trước đây, khi còn ở Việt Nam, vấn đề thông báo này không phức tạp cho lắm; đôi khi chẳng cần phải đi đăng Cáo phó trên báo làm gì cho tốn tiền; chỉ cần cử một người trong gia đình đi vòng vòng thông báo trong một buổi là xem như tạm đủ.  Bây giờ sống ở nước ngoài, thân nhân và bạn hữu chúng ta chỉ có một số ít ở gần kề, còn phần lớn ở rải rác các thành phố khác trên nước Mỹ; đôi khi ở trên khắp năm Châu…  Việc đăng Cáo phó trên báo in hay báo “online” là cách thông báo hữu hiệu mau chóng và chính xác.  Nhiều người cũng dùng cách thông báo trên các trang mạng xã hội (Social media); tuy nhiên Cáo phó trên báo in vẫn được coi là “chính thức, đứng đắn, và long trọng” hơn. 
 
Các chi tiết cơ bản thường thấy được thông báo trên Cáo Phó của người Việt (không nhất thiết phải theo cùng 1 thứ tự) như sau : 
 
  • Tên, tên Thánh/Pháp danh (nếu có). 
  • Ngày và nơi sinh, ngày và nơi tạ thế, tuổi thọ. 
  • Liên hệ giữa người quá cố và người (hay gia đình) đứng thông báo. 
  • Các chi tiết về nhà Quàn, ngày giờ và nơi chốn chương trình phát tang, đọc kinh, thăm viếng và an táng. 
  • Một danh sách thành viên gia đình người quá cố, thường nằm ở phần cuối Cáo phó. 
 
Các chi tiết Cáo phó này, tôi đọc nhiều lần trên các báo mới chính là vấn đề tôi muốn nêu ra trong bài viết ngắn này.  
 
Văn hóa Tây phương và cổ truyền Việt Nam có nhiều khác biệt trên phương diện tang sự… Về sự chết, người Tây phương có vẻ thông thoáng hơn vì họ sống thực tế, tích cực (positive) và ít dị đoan cho nên không họ chẳng cần kiêng cử chi cả.  Trong các Cáo phó họ còn viết lên những lời bông đùa, khôi hài về người chết cũng như người sống trong gia đình.  Họ coi tang sự như một ngày “Chúc tụng sự sống (celebration of life)” thay vì là “Sự chấm dứt của một đời sống (end of one life).”   Nhiều người Tây phương còn ngang nhiên can đảm viết Cáo phó cho chính mình khi vẩn còn sống thở mạnh giỏi.  Kinh thật!!! 
 
Văn hóa Việt Nam (và cả Trung hoa) để ý đến nhiều điều húy kỵ; thường không dám nhìn thẳng vào sự chết; và phải nói là chúng ta gần như không có cái văn hóa viết Cáo phó.  Cáo phó của người Việt chỉ đơn thuần là loại văn chương / công thức ứng dụng (loại “điền vào chỗ trống cho hợp nghĩa!”) thông thường; không dám đi vào các ngoại lệ vì sợ công chúng (người bên ngoài) cho là phạm thượng (?) dám giởn mặt người qua cố, làm mất vẻ trang nghiêm của tang lễ v..v.. 
 
Mặc dù người Việt vẫn theo công thức và thông lệ, nhưng qua sự quan sát, tôi thấy có nhiều thông lệ lại đi “quá đà” (excessive); Chẳng hạn như các chức vụ, tước vị, bằng cấp của người chết cũng như thành viên gia đình (còn sống) được liệt kê loạn xạ, một cách không cần thiết….  Danh sách số thân nhân của người quá cố đôi khi dài hơn 2 phần 3 trang Cáo phó (gồm cả vợ lớn, vợ bé, con, cháu, chắt, con dâu, con rể, con nuôi, anh chị em, chú bác, thông gia, hàng xóm…) Đôi khi các chi tiết loại “quá đà” này gây sự hiều lầm (với ác ý!?) là khoe khoang, nổ sảng quá trớn; không ai có đủ thời giờ kiểm chứng sự trung thực các đề mục được liệt kê dài dòng trong Cáo Phó (!?) 
 
Lời cuối 
 
Tóm lại, người Việt dường như thiếu hẳn một “Văn hóa Viết Cáo phó” (?).  Để phát huy sự phong phú và thông thoáng của Văn hóa Tang sự Việt Nam, tôi tiện đây đề nghị các tờ báo Việt Ngữ lớn ở hải ngoại, ngoài các cuốc thi đua đã có sẵn như  “Viết Về Văn Hóa Nước Mỹ,”  “Sự Duyên Dáng của Văn Hóa Việt Nam…”  nên thêm vào đó cuộc thi đua “Viết Cáo phó” cho trọn vẹn. 
 
Để kết thúc, tôi mạo muội dùng lời của ông Yogi Berra (1925-2015), một cầu thủ và cũng là Huấn Luyện Viên nổi tiếng của đội bóng “Baseball” New York Yankees như sau: 
 
“Bạn nhớ luôn luôn phải đi dự đám tang của người khác nhé; nếu không người khác sẽ không đi dự đám tang của bạn.” 
(Always go to other people's funerals; otherwise they won't go to yours). 
 
Thân mến, 
 
 
Trần Văn Giang 
Orange County 
Ngày 12 tháng 10 năm 2020. 

Lực lượng “ăn cháo đá bát” rất đông và lan nhanh như bệnh dịch, nhưng chưa bao giờ được công khai cho dân biết để dân bàn, dân kiểm tra. Ngược lại, dân lại là nạn nhân của đám ong nuôi trong tay áo từ bao năm nay. Chúng nằm trong ngành Tuyên giáo, trước đây gọi là Ban Tư tưởng-Văn hóa Trung ương và Ban Khoa giáo Trung ương. Sau lưng đảng còn có đội ngũ chuyên nghề nói thuê và viết mướn gồm Báo cáo viên và Dư luận viên được trả lương bằng tiền thuế của dân.
Vào sáng ngày 1 tháng 5-1975 Trung tá bác sĩ Hoàng Như Tùng, nguyên chỉ huy trưởng Quân Y viện Phan Thanh Giản - Cần Thơ, mặc đồ dân sự, trong tư thế quân phong, đưa tay lên chào vĩnh biêt Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lênh Quân Đoàn IV, Quân Khu IV, Vùng 4 Chiến Thuật, trước sự kinh ngạc của một nhóm sĩ quan cấp cao của bộ đội cộng sản vì sự dũng cảm của bác sĩ Trung Tá Hoàng Như Tùng. Một sĩ quan của bộ đội cộng sản mang quân hàm thiếu tá tiến đến và yêu cầu bác sĩ Hoàng Như Tùng nhận diện Tướng Nguyễn Khoa Nam.
Sách này sẽ được ghi theo hình thức biên niên sử, về các sự kiện từ ngày 8/5/1963 cho tới vài ngày sau cuộc chính biến 1/11/1963, nhìn từ phía chính phủ Hoa Kỳ. Phần lược sử viết theo nhiều tài liệu, trong đó phần chính là dựa vào tài liệu Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ “Foreign Relations of the United States 1961-1963”, một số tài liệu CIA lưu giữ ở Bộ Ngoại Giao, và một phần trong sách “The Pentagon Papers” của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, ấn bản Gravel Edition (Boston: Beacon Press, 1971). Vì giờ tại Việt Nam và Hoa Kỳ cách biệt nhau, cho nên đôi khi ghi ngày sai biệt nhau một ngày.
Tôi là anh trưởng trong gia đình, với 9 đứa em cả trai lẫn gái, nên trách nhiệm thật khó khăn, từ nhân cách cho đến cuộc sống. Nhưng may mắn tôi gặp được những người anh ngoài xã hội để noi gương và học hỏi. Một trong số những nhân vật hiếm hoi đó, chính là anh Nguyễn Văn Tánh, người mà tôi đã có cơ hội được tiếp tay hỗ trợ và đồng hành cùng anh trong suốt 20 cuộc Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế Liên Hiệp Quốc tại thành phố New York từ 20 năm qua.
Tôi tha phương cầu thực gần như trọn kiếp (và may mắn lạc bước đến những nơi không thiếu bơ thừa sữa cặn) nên bất ngờ nhìn thấy mảnh đời cùng quẫn thì không khỏi chạnh lòng. Nghe tiếng mời chào khẩn thiết, nhìn những khuôn mặt khẩn cầu của đồng bào mình mà muốn ứa nước mắt.
Các định kiến tai hại đối với các phụ nữ Á Châu trong văn hóa đại chúng của Mỹ đã có từ ít nhất thế kỷ thứ 19. Từ đó, các nhà truyền giáo và binh sĩ Mỹ tại Á Châu đã xem phụ nữ mà họ gặp đó như là ngoại lai và dễ tùng phục. Các định kiến này đã ảnh hưởng luật di trú đầu tiên của Hoa Kỳ dựa vào chủng tộc, Đạo Luật 1875 Page Act, ngăn cản các phụ nữ Trung Quốc vào Hoa Kỳ. Giả thuyết chính thức là rằng, ngoại trừ được chứng minh ngược lại, các phụ nữ TQ tìm cách vào Hoa Kỳ đã thiếu tư cách đạo đức và là những gái mại dâm. Trên thực tế, nhiều người là vợ tìm cách đoàn tụ với những ông chồng là những người đã đến Hoa Kỳ trước đó. Khoảng cùng thời gian đó, các phụ nữ TQ tại San Francisco cũng bị làm dê tế thần bởi các viên chức y tế địa phương là những người sợ rằng họ sẽ lây truyền các bịnh lây lan qua đường tình dục cho các đàn ông da trắng, là những người sau đó sẽ lây lan cho các bà vợ của họ. Vào giữa thế kỷ 20, các căn cứ chiến tranh và quân sự của Hoa Kỳ tại TQ, Nhật, Phi Luật Tân,
Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Bá Thanh, Nguyễn Thiện Nhân, Nguyễn Hòa Bình, Nguyễn Xuân Phúc … quả đúng là những kẻ thuộc giới ăn trên ngồi trốc. Họ là những hạt giống đỏ được gieo trồng từ miền Bắc, và đã ươm mầm thành cây. Loại cây này, học giả Phan Khôi gọi một cách lịch sự là cây Cộng Sản. Còn dân gian thì gọi là cây cứt lợn!
Nếu đảng đủ can đảm và ông Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng còn đủ bản lĩnh của một Lãnh đạo gương mẫu trong công tác phòng, chống tham nhũng thì hãy công khai cho dân biết Tổ chức Thanh niên của đảng đã làm được những gì cho dân cho nước trong 90 năm qua. Hay ngót 7 triệu Đoàn viên TNCS chẳng làm được trò trống gì, ngoải vai trò tay sai đã tuyệt đối trung thành với đảng và với chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh?
Adam Smith và Karl Marx cùng được gọi chung là kinh tế cổ điển (classical economy) tức là lao động (labour) tạo ra giá trị (value.) Khác ở chổ Smith quan niệm thị trường tự do giúp mọi người hưởng thụ giá trị lao động còn Karl Marx lên án giá trị lao động của công nhân bị tư bản bóc lột. Vào đầu thế kỷ thứ 20 xuất hiện một cách nhìn mới là giá trị (value) do nơi tiện ích (utility) thay vì từ lao động (labour). Thí dụ một người đang khát uống ly nước đầu thì thật ngon, ly thứ nhì vừa vừa còn ly thứ ba đầy bụng nuốt không vô, tức là giá trị của mỗi ly nước giảm khi nhu cầu tiện ích hạ thấp. Quan điểm này gọi là Giá Trị Biên Tế hay Marginal Value.
Cùng với tác phẩm của Dương Thu Hương-"Những Thiên Đường Mù", Trần Mạnh Hão-"Ly Thân", Bảo Ninh-"Nỗi buồn Chiến tranh", Phạm Thị Hoài-"Thiên sứ", "Tướng về hưu"của Nguyễn Huy Thiệp đã tạo nên dòng văn học phản kháng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.