Hôm nay,  

Quê Mẹ Mùa Nước Lũ

20/10/202015:22:00(Xem: 6150)
Que me mua nuoc lu_Hình Doãn Quang
Quê mẹ mùa nước lũ.(hình của Doãn Quang)

Năm 1944, nhạc sĩ Châu Kỳ đang sinh hoạt văn nghệ ở đất Bắc thì được tin quê nhà ở Huế bị bão lụt. Khi ông trở về quê mẹ tại huyện Quảng Điền, làng Thanh Hà thì mẹ của ông và những người thân yêu khác đã mất trong cơn bão lũ. Cuối năm đó, bao nhiêu nỗi buồn thương của người con mất mẹ chứng kiến cảnh làng quê tiêu điều được ông viết lại trong ca khúc đầu tay. Bài hát "Trở về" chất chứa lời tự sự đau buốt tâm can của nhạc sĩ sau lần trở về quê không thể nào quên, và đó cũng là niềm thương nhớ của bao nhiêu người con miền Trung khắp nơi hướng lòng về quê xa khi hay tin đất mẹ chìm trong nước lũ:


"Nơi xưa, ôi giờ đây nát tan 

Đò vắng không người sang 

Thôn xóm trông điêu tàn 

Xa xa, nghe tiếng chim kêu đàn 

Nghe suối reo bên ngàn 

Dường như oán như than"

(“Trở về” - cố nhạc sĩ Châu Kỳ)


Miền Trung với hai mùa mưa nắng dãi dầu trên vùng đất eo hẹp gần như năm nào cũng hứng chịu sự thử thách của thiên tai. Người dân miền Trung chịu thương chịu khó cứ thế trải qua hết cái nắng gắt của những ngày tháng hạ rồi tới những cơn mưa dầm dề lạnh tê tái. Mấy ngày qua nghe tin nước lụt ngập tràn miền Trung, tôi cứ cố "giả lơ" vì biết mình không thể cầm lòng được khi đối diện thêm lần nữa cảnh hoang tàn mùa lụt lội. Tôi xem lướt qua những hình ảnh nước ngập nhiều nơi ở miền Trung trong tâm trạng bất lực vì những điều tôi mong và muốn cho quê hương vẫn còn xa quá trong tầm với của tay mình. 


Mẹ tôi gửi vào phone của tôi một vài tấm hình nhận được từ quê nhà. Một chú bò được đưa lên đứng chơ vơ trên nóc nhà. Một cậu bé ôm thùng mì gói vào lòng. Một người đàn ông đầu đội ba cái thùng giấy (có lẽ là chứa thực phẩm) với hai cánh tay giơ cao ôm chặt đang lội trong nước ngập ngang lồng ngực. Một chiếc ghe chở mấy thùng cơm với muối mè được những vị ni sư vừa lội vừa đẩy theo dòng nước bạc ngập dưới vai đi vào tận khu xóm nhỏ để cứu đói cho người dân bị mắc kẹt trong cơn lũ dữ. Khu vực thành phố Huế ở hai bên bờ sông Hương thơ mộng ngày nào giờ chỉ là một màn nước úa màu kham khổ. 


Từ trang Facebook cá nhân của một vị bác sĩ, tôi nhìn thấy tấm hình một người chồng vái lạy đất trời trong cơn tuyệt vọng vì người vợ mang thai sắp sanh bị nước lũ cuốn trôi. Tâm trí tôi lơ ngơ trong giây lát vì không biết mình có thể làm gì?! Tôi xin mẹ tôi là thôi không gửi thêm hình về lũ lụt vào điện thoại của mình như là cách chạy trốn ký ức tuổi thơ có nhiều lần trải qua lũ lụt. Tuy tôi không phải chịu sự đau đớn do mất người thân trong thiên tai, khắp người tôi đã ngấm đủ cái lạnh tê tái ở miền Trung vào mùa mưa lũ để bây giờ dù bầu trời Cali có ấm áp đến mức nào thì lòng tôi vẫn cứ âm ỉ cái lạnh đầy thương nhớ tràn về từ quê mẹ xa xôi. Tôi ứa nước mắt khi thấy tấm hình vị sư nữ đeo mắt kiếng ôm chặt cây cột (có lẽ là cột chùa) để không bị dòng nước lũ bạc màu ngập gần đến vai cuốn đi.  



Nước lũ hung hãn tràn vào miền Trung cuốn đi từ cây cỏ, nhà cửa cùng sanh mạng con người và loài vật. Năm nào cũng vậy, cứ có mưa lũ là có nhiều người bị đói, bị lạnh, có nhiều gia đình mất người thân và bạn hữu, và có thêm nhiều câu chuyện buồn không dễ gì quên. Đã là thiên tai thì không sao tránh khỏi, nhưng vẫn còn nhiều điều đáng ra nhà nước Việt Nam có thể làm được để tránh bớt mất mát đau lòng mỗi lần có lụt bão xảy ra thì những điều đó vẫn chưa được làm!? Có kể hết ra thì cũng chưa biết khi nào mới có cách giải quyết rốt ráo và thấu đáo vì người dân. Tôi chưa bao giờ làm chính trị và cũng không có ý định phê phán chính quyền hiện nay tại Việt Nam bởi vì tôi tin là bất cứ ai dù có quyền lực, địa vị hay danh vọng tột bực trong bất cứ một xã hội hay dưới một thể chế nào thì khi nhắm mắt xuôi tay, tất cả cũng chỉ như nắm cát chảy tuột khỏi lòng bàn tay cứng lạnh. Vậy thì mỗi người đang làm lãnh đạo nhà nước, khi còn tại thế nơi cõi tạm với dòng máu Việt Nam đang nuôi nấng trái tim mang hình hài đất mẹ, xin hãy nghĩ đến và thương lấy nhiều hơn người dân vô tội phải chịu nhiều thiệt thòi khắc nghiệt do thiên tai gây ra không chỉ ở miền Trung mà còn nhiều vùng miền khác trên cả nước.  


Trong hoạn nạn tình người càng thêm ấm áp. Có rất nhiều những tấm lòng ở khắp nơi trong nước và nhiều đồng hương ở các nước khác đang làm những việc khác nhau để giúp đỡ người dân miền Trung đang gặp thiếu thốn, khó khăn và mất mát. Tôi được biết một vài người quen đang nhiệt tình đóng góp và kêu gọi sự ủng hộ từ nhiều người chung quanh để gửi về quê nhà như là lời động viên tinh thần dành cho người dân có cuộc sống bị ảnh hưởng trong mùa lũ ở miền Trung.


Khi được nghe mẹ tôi kể về buổi lễ cầu nguyện bình an cho miền Trung của các vị tu sĩ, tôi nhớ ra, bên cạnh ý niệm hưởng ứng lời kêu gọi đóng góp từ các anh chị đang làm những việc thiện nguyện, mình còn có thể góp thêm lời cầu nguyện. Xin cho người dân miền Trung được chân cứng đá mềm sau mùa nước lũ và xin cho những nỗi đau sớm được nguôi ngoai nơi đất mẹ nghẹn ngào…


Tâm Nguyên

(tháng 10/2020) 



Giáo hội xin tán thán tinh thần hộ đạo và tu đạo của quí Thiện nam Tín nữ trong hoàn cảnh tai ương đầy kinh hãi hiện nay. Tất cả năng lực và công đức lớn lao này của người đệ tử, chúng con xin dâng lên cúng dường đức Thế Tôn trong ngày Đản sinh. Hàng trăm ngàn trái tim, hàng vạn ngàn bàn tay siết chặt giữa những thương đau tràn ngập của nhân loại, chúng con nguyện quán chiếu thật sâu sự khổ nạn hiện nay để kiên nhẫn mà vượt qua.
Có lẽ cả Trung Cộng lẫn Hoa Kỳ đều không mong muốn việc khơi mào cho một cuộc xung đột vũ trang, nhưng trước thái độ xác quyết của tổng thống Joe Biden, Trung Cộng hiểu rằng họ đang đối đầu với một đối thủ nguy hiểm gấp bội lần so với những năm qua.
Với chế độ độc đảng toàn trị hiện hành, với bộ máy tam trùng hiện tại, với văn hoá tham nhũng hiện nay, và với chủ trương cấm tự do báo chí cố hữu … thì chuyện sống được bằng lương mãi mãi chỉ là một kỳ vọng xa vời. Vô phương thực hiện!
Hội nghị Paris là một quá trình đàm phán giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt kể từ ngày 13 tháng 5 năm 1968, sau ngày 25 tháng 1 năm 1969 có thêm Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam (MTGPMN) tham gia. Ngoài 202 phiên họp chính thức của bốn bên, còn có thêm 24 cuộc mật đàm khác giữa Henry Kissinger và Lê Đức Thọ, Xuân Thủy. Cuối cùng, hội nghị kết thúc sau bốn năm chín tháng và bốn bên chính thức ký kết Hiệp định Paris để chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam vào ngày 27 tháng 1 năm 1973.
Ngày 30 tháng Tư năm 1975 khép lại trang sử Việt của hai lực lượng dân tộc đối đầu nhau trong thế tương tranh quốc tế giữa tư bản và cộng sản. Thế tương tranh này kéo dài từ tranh chấp giữa hai triết thuyết xuất phát từ phương Tây – Duy Tâm và Duy Vật, đã làm nước ta tan nát. Việt Nam trở thành lò lửa kinh hoàng, anh em một bọc chém giết nhau trong thế cuộc đảo điên cạnh tranh quốc tế.
Galang là tên một đảo nhỏ thuộc tỉnh Riau của Indonesia đã được chính phủ nước này cho Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp quốc sử dụng trong nhiều năm để người tị nạn Đông Dương tạm trú, trong khi chờ đợi được định cư ở một nước thứ ba. Trong vòng 17 năm, kể từ khi mở ra năm 1979 cho đến lúc đóng cửa vào năm 1996, Galang đã là nơi dừng chân của hơn 200 nghìn người tị nạn, hầu hết là thuyền nhân vượt biển từ Việt Nam và một số người Cam Bốt.
Hình ảnh thay cho ngàn lời nói, ghi nhận rõ "sự hấp hối" của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, ghi lại cảnh hỗn loạn, sự hoảng hốt, nỗi lo sợ của dân chúng lũ lượt rời nơi đang sinh sống, đã bỏ nhà cửa trốn chạy trước khi VC tràn vào thành phố
Chúng ta liệu có thể đóng vai trò giúp đỡ những người nhập cư và tị nạn trong tương lai như là người Mỹ đã từng làm cho chúng ta không? Theo lời của Emma Lazarus, liệu chúng ta có nâng “... ngọn đèn bên cạnh cánh cửa vàng” cho “... kẻ bão táp, người vô gia cư ... người mệt mỏi, người nghèo khổ” không? Đối với chúng tôi, trong ngày 30 tháng 4 này, không có câu hỏi nào có ý nghĩa và tính quan trọng hơn câu hỏi này.
Khách đến Việt Nam ngày nay thấy nhiều nhà cao cửa rộng, xe chạy chật đường hơn xưa. Nhưng đa số người Việt Nam có vẻ không có cái nhu cầu dân chủ của người Myanmar hay người Hồng Kông. Hay là họ có, nhưng 20 năm chiến tranh đã làm họ mệt mỏi, xuôi xị chấp nhận chút đầy đủ vật chất, nhắm mắt với tương lai? Và Đảng Cộng sản Việt Nam có thể hy vọng người Việt sẽ ngoan ngoãn như người dân Bắc Hàn, không cần dự phần tự quyết cho tương lai của mình và con cháu mình?
Ngày 30/4 năm thứ 46 sau 1975 đặt ra câu hỏi: Còn bao nhiêu năm nữa thì người Việt Nam ở hai đầu chiến tuyến trong chiến tranh mới “hòa giải, hòa hợp” được với nhau để thành “Một Người Việt Nam”? Hỏi chơi vậy thôi chứ cứ như tình hình bây giờ thì còn mút mùa lệ thủy. Nhưng tại sao?
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.