Hôm nay,  

Quê Mẹ Mùa Nước Lũ

20/10/202015:22:00(Xem: 6127)
Que me mua nuoc lu_Hình Doãn Quang
Quê mẹ mùa nước lũ.(hình của Doãn Quang)

Năm 1944, nhạc sĩ Châu Kỳ đang sinh hoạt văn nghệ ở đất Bắc thì được tin quê nhà ở Huế bị bão lụt. Khi ông trở về quê mẹ tại huyện Quảng Điền, làng Thanh Hà thì mẹ của ông và những người thân yêu khác đã mất trong cơn bão lũ. Cuối năm đó, bao nhiêu nỗi buồn thương của người con mất mẹ chứng kiến cảnh làng quê tiêu điều được ông viết lại trong ca khúc đầu tay. Bài hát "Trở về" chất chứa lời tự sự đau buốt tâm can của nhạc sĩ sau lần trở về quê không thể nào quên, và đó cũng là niềm thương nhớ của bao nhiêu người con miền Trung khắp nơi hướng lòng về quê xa khi hay tin đất mẹ chìm trong nước lũ:


"Nơi xưa, ôi giờ đây nát tan 

Đò vắng không người sang 

Thôn xóm trông điêu tàn 

Xa xa, nghe tiếng chim kêu đàn 

Nghe suối reo bên ngàn 

Dường như oán như than"

(“Trở về” - cố nhạc sĩ Châu Kỳ)


Miền Trung với hai mùa mưa nắng dãi dầu trên vùng đất eo hẹp gần như năm nào cũng hứng chịu sự thử thách của thiên tai. Người dân miền Trung chịu thương chịu khó cứ thế trải qua hết cái nắng gắt của những ngày tháng hạ rồi tới những cơn mưa dầm dề lạnh tê tái. Mấy ngày qua nghe tin nước lụt ngập tràn miền Trung, tôi cứ cố "giả lơ" vì biết mình không thể cầm lòng được khi đối diện thêm lần nữa cảnh hoang tàn mùa lụt lội. Tôi xem lướt qua những hình ảnh nước ngập nhiều nơi ở miền Trung trong tâm trạng bất lực vì những điều tôi mong và muốn cho quê hương vẫn còn xa quá trong tầm với của tay mình. 


Mẹ tôi gửi vào phone của tôi một vài tấm hình nhận được từ quê nhà. Một chú bò được đưa lên đứng chơ vơ trên nóc nhà. Một cậu bé ôm thùng mì gói vào lòng. Một người đàn ông đầu đội ba cái thùng giấy (có lẽ là chứa thực phẩm) với hai cánh tay giơ cao ôm chặt đang lội trong nước ngập ngang lồng ngực. Một chiếc ghe chở mấy thùng cơm với muối mè được những vị ni sư vừa lội vừa đẩy theo dòng nước bạc ngập dưới vai đi vào tận khu xóm nhỏ để cứu đói cho người dân bị mắc kẹt trong cơn lũ dữ. Khu vực thành phố Huế ở hai bên bờ sông Hương thơ mộng ngày nào giờ chỉ là một màn nước úa màu kham khổ. 


Từ trang Facebook cá nhân của một vị bác sĩ, tôi nhìn thấy tấm hình một người chồng vái lạy đất trời trong cơn tuyệt vọng vì người vợ mang thai sắp sanh bị nước lũ cuốn trôi. Tâm trí tôi lơ ngơ trong giây lát vì không biết mình có thể làm gì?! Tôi xin mẹ tôi là thôi không gửi thêm hình về lũ lụt vào điện thoại của mình như là cách chạy trốn ký ức tuổi thơ có nhiều lần trải qua lũ lụt. Tuy tôi không phải chịu sự đau đớn do mất người thân trong thiên tai, khắp người tôi đã ngấm đủ cái lạnh tê tái ở miền Trung vào mùa mưa lũ để bây giờ dù bầu trời Cali có ấm áp đến mức nào thì lòng tôi vẫn cứ âm ỉ cái lạnh đầy thương nhớ tràn về từ quê mẹ xa xôi. Tôi ứa nước mắt khi thấy tấm hình vị sư nữ đeo mắt kiếng ôm chặt cây cột (có lẽ là cột chùa) để không bị dòng nước lũ bạc màu ngập gần đến vai cuốn đi.  



Nước lũ hung hãn tràn vào miền Trung cuốn đi từ cây cỏ, nhà cửa cùng sanh mạng con người và loài vật. Năm nào cũng vậy, cứ có mưa lũ là có nhiều người bị đói, bị lạnh, có nhiều gia đình mất người thân và bạn hữu, và có thêm nhiều câu chuyện buồn không dễ gì quên. Đã là thiên tai thì không sao tránh khỏi, nhưng vẫn còn nhiều điều đáng ra nhà nước Việt Nam có thể làm được để tránh bớt mất mát đau lòng mỗi lần có lụt bão xảy ra thì những điều đó vẫn chưa được làm!? Có kể hết ra thì cũng chưa biết khi nào mới có cách giải quyết rốt ráo và thấu đáo vì người dân. Tôi chưa bao giờ làm chính trị và cũng không có ý định phê phán chính quyền hiện nay tại Việt Nam bởi vì tôi tin là bất cứ ai dù có quyền lực, địa vị hay danh vọng tột bực trong bất cứ một xã hội hay dưới một thể chế nào thì khi nhắm mắt xuôi tay, tất cả cũng chỉ như nắm cát chảy tuột khỏi lòng bàn tay cứng lạnh. Vậy thì mỗi người đang làm lãnh đạo nhà nước, khi còn tại thế nơi cõi tạm với dòng máu Việt Nam đang nuôi nấng trái tim mang hình hài đất mẹ, xin hãy nghĩ đến và thương lấy nhiều hơn người dân vô tội phải chịu nhiều thiệt thòi khắc nghiệt do thiên tai gây ra không chỉ ở miền Trung mà còn nhiều vùng miền khác trên cả nước.  


Trong hoạn nạn tình người càng thêm ấm áp. Có rất nhiều những tấm lòng ở khắp nơi trong nước và nhiều đồng hương ở các nước khác đang làm những việc khác nhau để giúp đỡ người dân miền Trung đang gặp thiếu thốn, khó khăn và mất mát. Tôi được biết một vài người quen đang nhiệt tình đóng góp và kêu gọi sự ủng hộ từ nhiều người chung quanh để gửi về quê nhà như là lời động viên tinh thần dành cho người dân có cuộc sống bị ảnh hưởng trong mùa lũ ở miền Trung.


Khi được nghe mẹ tôi kể về buổi lễ cầu nguyện bình an cho miền Trung của các vị tu sĩ, tôi nhớ ra, bên cạnh ý niệm hưởng ứng lời kêu gọi đóng góp từ các anh chị đang làm những việc thiện nguyện, mình còn có thể góp thêm lời cầu nguyện. Xin cho người dân miền Trung được chân cứng đá mềm sau mùa nước lũ và xin cho những nỗi đau sớm được nguôi ngoai nơi đất mẹ nghẹn ngào…


Tâm Nguyên

(tháng 10/2020) 



Lực lượng “ăn cháo đá bát” rất đông và lan nhanh như bệnh dịch, nhưng chưa bao giờ được công khai cho dân biết để dân bàn, dân kiểm tra. Ngược lại, dân lại là nạn nhân của đám ong nuôi trong tay áo từ bao năm nay. Chúng nằm trong ngành Tuyên giáo, trước đây gọi là Ban Tư tưởng-Văn hóa Trung ương và Ban Khoa giáo Trung ương. Sau lưng đảng còn có đội ngũ chuyên nghề nói thuê và viết mướn gồm Báo cáo viên và Dư luận viên được trả lương bằng tiền thuế của dân.
Vào sáng ngày 1 tháng 5-1975 Trung tá bác sĩ Hoàng Như Tùng, nguyên chỉ huy trưởng Quân Y viện Phan Thanh Giản - Cần Thơ, mặc đồ dân sự, trong tư thế quân phong, đưa tay lên chào vĩnh biêt Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lênh Quân Đoàn IV, Quân Khu IV, Vùng 4 Chiến Thuật, trước sự kinh ngạc của một nhóm sĩ quan cấp cao của bộ đội cộng sản vì sự dũng cảm của bác sĩ Trung Tá Hoàng Như Tùng. Một sĩ quan của bộ đội cộng sản mang quân hàm thiếu tá tiến đến và yêu cầu bác sĩ Hoàng Như Tùng nhận diện Tướng Nguyễn Khoa Nam.
Sách này sẽ được ghi theo hình thức biên niên sử, về các sự kiện từ ngày 8/5/1963 cho tới vài ngày sau cuộc chính biến 1/11/1963, nhìn từ phía chính phủ Hoa Kỳ. Phần lược sử viết theo nhiều tài liệu, trong đó phần chính là dựa vào tài liệu Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ “Foreign Relations of the United States 1961-1963”, một số tài liệu CIA lưu giữ ở Bộ Ngoại Giao, và một phần trong sách “The Pentagon Papers” của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, ấn bản Gravel Edition (Boston: Beacon Press, 1971). Vì giờ tại Việt Nam và Hoa Kỳ cách biệt nhau, cho nên đôi khi ghi ngày sai biệt nhau một ngày.
Tôi là anh trưởng trong gia đình, với 9 đứa em cả trai lẫn gái, nên trách nhiệm thật khó khăn, từ nhân cách cho đến cuộc sống. Nhưng may mắn tôi gặp được những người anh ngoài xã hội để noi gương và học hỏi. Một trong số những nhân vật hiếm hoi đó, chính là anh Nguyễn Văn Tánh, người mà tôi đã có cơ hội được tiếp tay hỗ trợ và đồng hành cùng anh trong suốt 20 cuộc Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế Liên Hiệp Quốc tại thành phố New York từ 20 năm qua.
Tôi tha phương cầu thực gần như trọn kiếp (và may mắn lạc bước đến những nơi không thiếu bơ thừa sữa cặn) nên bất ngờ nhìn thấy mảnh đời cùng quẫn thì không khỏi chạnh lòng. Nghe tiếng mời chào khẩn thiết, nhìn những khuôn mặt khẩn cầu của đồng bào mình mà muốn ứa nước mắt.
Các định kiến tai hại đối với các phụ nữ Á Châu trong văn hóa đại chúng của Mỹ đã có từ ít nhất thế kỷ thứ 19. Từ đó, các nhà truyền giáo và binh sĩ Mỹ tại Á Châu đã xem phụ nữ mà họ gặp đó như là ngoại lai và dễ tùng phục. Các định kiến này đã ảnh hưởng luật di trú đầu tiên của Hoa Kỳ dựa vào chủng tộc, Đạo Luật 1875 Page Act, ngăn cản các phụ nữ Trung Quốc vào Hoa Kỳ. Giả thuyết chính thức là rằng, ngoại trừ được chứng minh ngược lại, các phụ nữ TQ tìm cách vào Hoa Kỳ đã thiếu tư cách đạo đức và là những gái mại dâm. Trên thực tế, nhiều người là vợ tìm cách đoàn tụ với những ông chồng là những người đã đến Hoa Kỳ trước đó. Khoảng cùng thời gian đó, các phụ nữ TQ tại San Francisco cũng bị làm dê tế thần bởi các viên chức y tế địa phương là những người sợ rằng họ sẽ lây truyền các bịnh lây lan qua đường tình dục cho các đàn ông da trắng, là những người sau đó sẽ lây lan cho các bà vợ của họ. Vào giữa thế kỷ 20, các căn cứ chiến tranh và quân sự của Hoa Kỳ tại TQ, Nhật, Phi Luật Tân,
Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Bá Thanh, Nguyễn Thiện Nhân, Nguyễn Hòa Bình, Nguyễn Xuân Phúc … quả đúng là những kẻ thuộc giới ăn trên ngồi trốc. Họ là những hạt giống đỏ được gieo trồng từ miền Bắc, và đã ươm mầm thành cây. Loại cây này, học giả Phan Khôi gọi một cách lịch sự là cây Cộng Sản. Còn dân gian thì gọi là cây cứt lợn!
Nếu đảng đủ can đảm và ông Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng còn đủ bản lĩnh của một Lãnh đạo gương mẫu trong công tác phòng, chống tham nhũng thì hãy công khai cho dân biết Tổ chức Thanh niên của đảng đã làm được những gì cho dân cho nước trong 90 năm qua. Hay ngót 7 triệu Đoàn viên TNCS chẳng làm được trò trống gì, ngoải vai trò tay sai đã tuyệt đối trung thành với đảng và với chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh?
Adam Smith và Karl Marx cùng được gọi chung là kinh tế cổ điển (classical economy) tức là lao động (labour) tạo ra giá trị (value.) Khác ở chổ Smith quan niệm thị trường tự do giúp mọi người hưởng thụ giá trị lao động còn Karl Marx lên án giá trị lao động của công nhân bị tư bản bóc lột. Vào đầu thế kỷ thứ 20 xuất hiện một cách nhìn mới là giá trị (value) do nơi tiện ích (utility) thay vì từ lao động (labour). Thí dụ một người đang khát uống ly nước đầu thì thật ngon, ly thứ nhì vừa vừa còn ly thứ ba đầy bụng nuốt không vô, tức là giá trị của mỗi ly nước giảm khi nhu cầu tiện ích hạ thấp. Quan điểm này gọi là Giá Trị Biên Tế hay Marginal Value.
Cùng với tác phẩm của Dương Thu Hương-"Những Thiên Đường Mù", Trần Mạnh Hão-"Ly Thân", Bảo Ninh-"Nỗi buồn Chiến tranh", Phạm Thị Hoài-"Thiên sứ", "Tướng về hưu"của Nguyễn Huy Thiệp đã tạo nên dòng văn học phản kháng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.