Hôm nay,  

20 Năm, Hai Vụ Án

13/02/202110:41:00(Xem: 4296)
Hai cựu tổng thống Bill Clinton và Barack Obama có những điểm khá giống nhau về gia cảnh, tài năng và đường công danh. Clinton mất cha trong bụng mẹ và Obama thiếu cha từ lúc lên ba, cả hai sống với mẹ và ông bà ngoại từ nhỏ rồi được theo học những trường luật danh giá nhất nước Mỹ. Là các luật sư tài ba, thay vì có thể làm cho những hãng luật danh tiếng hay gia nhập công quyền với lắm cơ hội thăng tiến xa hơn, họ lại chọn về nguyên quán để phục vụ cộng đồng và dạy học.
Arkansas là đất của Cộng Hòa, khó có thể bảo rằng Bill Clinton về để nhắm việc trở thành thống đốc hay tổng thống từ đây. Cũng vậy, Obama chọn quay về làm nhà hoạt động cộng đồng, giúp đỡ những người nghèo sống khu nhà ổ chuột tại Chicago, chẳng phải sự chọn lựa nếu nhắm đến đường công danh.
Nhưng tài năng, lý tưởng cùng mọi chuyện dẫn dắt, họ trở thành tổng thống. Hai nhiệm kỳ và được xem là đầy thành công. Cứ xem lại các số liệu, biểu đồ phát triển kinh tế từ các cơ quan chính phủ trong giai đoạn cả hai làm tổng thống, thay vì chỉ dựa vào lòng yêu thích cá nhân, sẽ thấy đây là dữ liệu chứ không phải nhận xét. Tăng trưởng GDP và tỉ lệ việc làm được tạo ra trong nhiệm kỳ tổng thống của cả hai đều rất cao khi so sánh trong vài chục năm qua, cho dù họ phải gánh chịu và vực dậy từ các cuộc suy thoái nặng nề của những người tiền nhiệm. TT Bill Clinton là người rời nhiệm sở với mức thậm dư kinh tế trong vài chục năm qua.
Nhắc đôi điều về tổng thống Bill Clinton và Barack Obama để thấy rằng, cả hai đã phải cố gắng tột bực để đạt được thành tựu như vậy. Họ đã phải đối diện với một lưỡng viện nằm trong tay đảng Cộng Hòa lúc nhậm chức và bị từ chối hầu hết đường lối nghị sự. Gói cứu trợ kinh tế đầu tiên của cả hai đều bị Quốc Hội đảng Cộng Hòa kiểm soát bác bỏ. Với riêng TT Bill Clinton, ông còn bị đưa ra luận tội truất phế về một scandal ái tình mà giới lãnh đạo Châu Âu và thế giới đã cười ngạo Mỹ lúc bấy giờ.
Tuần này sẽ kết thúc tuần đầu tiên phiên tòa Thượng Viện luận tội xét xử Donald Trump cũng trùng vào ngày chấm dứt cuộc luận tội truất phế TT Clinton tại Thượng Viện vào ngày 12 tháng 2 năm 1999, một phiên tòa luận tội kéo dài gần hai tháng. 45 trên 55 Thượng Nghị Sĩ đảng Cộng Hòa bỏ phiếu truất phế TT Clinton tội man khai và 50 trên 55 TNS bỏ phiếu tội cản trở công lý lúc bấy giờ. Hầu hết TNS Cộng Hòa, có những người vẫn còn đương nhiệm hiện nay đã bỏ phiếu truất phế TT Bill Clinton với vụ vụng trộm ái tình cùng cô sinh viên Monica Lewinsky.
Sau hơn 20 năm, cũng con số chừng đó TNS Cộng Hòa, 44 vị đã bỏ phiếu chống lại cuộc luận tội Donald Trump với lý do không hợp hiến. Hợp hiến hay vi hiến đã có các tranh luận từ giới học thuật cho đến những luật sư, cựu thẩm phán, công tố viên thâm niên của Mỹ lên tiếng, chỉ biết rằng phiên tòa đã chính thức được xem là hợp hiến để tiếp tục xét xử từ đầu tuần qua.
Và ắt sẽ nhanh chóng kết thúc. Vì đây là một vụ xét xử đã có trước kết quả cho dù chứng cứ, luận cứ của bên công tố đưa ra có thuyết phục hay rõ ràng như thế nào. Cho dù các luật sư bào chữa đưa ra những tranh cãi qua loa, vô lý đến khó tin. Như trong ngày bào chữa của mình, các luật sư của Donald Trump đã cho trình chiếu đoạn phim các chính khách Dân Chủ cũng sử dụng chữ "chiến đấu" (fight) trong các diễn văn chứ không chỉ với Trump. Họ không phân biệt sự hô hào "fight" cho cá nhân Donald Trump nhằm xách động bạo lực, tấn công vào định chế dân chủ, vào hiến pháp khác xa cái "fight" tranh đấu trước bất công xã hội, trước dịch bịnh, trước đói nghèo. Họ biết bào chữa như thế nào thì cũng đã có các TNS Cộng Hòa sẳn sàng bảo vệ Donald Trump. Dẫu sao thì vụ xét xử cũng cần thiết vì cho người dân thấy được nhiều tình tiết quan trọng của vụ phiến loạn, những thái độ và hành xử của các chính khách như thế nào.
Hơn 20 năm, hai vụ án, những chính khách đảng Cộng Hòa đã dồn phiếu để truất phế hay bảo vệ người tổng thống bị luận tội hoàn toàn trái ngược. Nó ít nhiều cho thấy chân dung đảng phái nền chính trị Hoa Kỳ. Hoặc trở thành một chính khách chính trực, hoặc là chính khách đảng Cộng Hòa. Rất khó khăn và hiếm hoi để cả hai là một nếu còn muốn tiếp tục nắm giữ quyền lực.
02/2021
Nhã Duy

Có lẽ cả Trung Cộng lẫn Hoa Kỳ đều không mong muốn việc khơi mào cho một cuộc xung đột vũ trang, nhưng trước thái độ xác quyết của tổng thống Joe Biden, Trung Cộng hiểu rằng họ đang đối đầu với một đối thủ nguy hiểm gấp bội lần so với những năm qua.
Với chế độ độc đảng toàn trị hiện hành, với bộ máy tam trùng hiện tại, với văn hoá tham nhũng hiện nay, và với chủ trương cấm tự do báo chí cố hữu … thì chuyện sống được bằng lương mãi mãi chỉ là một kỳ vọng xa vời. Vô phương thực hiện!
Hội nghị Paris là một quá trình đàm phán giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt kể từ ngày 13 tháng 5 năm 1968, sau ngày 25 tháng 1 năm 1969 có thêm Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam (MTGPMN) tham gia. Ngoài 202 phiên họp chính thức của bốn bên, còn có thêm 24 cuộc mật đàm khác giữa Henry Kissinger và Lê Đức Thọ, Xuân Thủy. Cuối cùng, hội nghị kết thúc sau bốn năm chín tháng và bốn bên chính thức ký kết Hiệp định Paris để chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam vào ngày 27 tháng 1 năm 1973.
Ngày 30 tháng Tư năm 1975 khép lại trang sử Việt của hai lực lượng dân tộc đối đầu nhau trong thế tương tranh quốc tế giữa tư bản và cộng sản. Thế tương tranh này kéo dài từ tranh chấp giữa hai triết thuyết xuất phát từ phương Tây – Duy Tâm và Duy Vật, đã làm nước ta tan nát. Việt Nam trở thành lò lửa kinh hoàng, anh em một bọc chém giết nhau trong thế cuộc đảo điên cạnh tranh quốc tế.
Galang là tên một đảo nhỏ thuộc tỉnh Riau của Indonesia đã được chính phủ nước này cho Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp quốc sử dụng trong nhiều năm để người tị nạn Đông Dương tạm trú, trong khi chờ đợi được định cư ở một nước thứ ba. Trong vòng 17 năm, kể từ khi mở ra năm 1979 cho đến lúc đóng cửa vào năm 1996, Galang đã là nơi dừng chân của hơn 200 nghìn người tị nạn, hầu hết là thuyền nhân vượt biển từ Việt Nam và một số người Cam Bốt.
Hình ảnh thay cho ngàn lời nói, ghi nhận rõ "sự hấp hối" của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, ghi lại cảnh hỗn loạn, sự hoảng hốt, nỗi lo sợ của dân chúng lũ lượt rời nơi đang sinh sống, đã bỏ nhà cửa trốn chạy trước khi VC tràn vào thành phố
Chúng ta liệu có thể đóng vai trò giúp đỡ những người nhập cư và tị nạn trong tương lai như là người Mỹ đã từng làm cho chúng ta không? Theo lời của Emma Lazarus, liệu chúng ta có nâng “... ngọn đèn bên cạnh cánh cửa vàng” cho “... kẻ bão táp, người vô gia cư ... người mệt mỏi, người nghèo khổ” không? Đối với chúng tôi, trong ngày 30 tháng 4 này, không có câu hỏi nào có ý nghĩa và tính quan trọng hơn câu hỏi này.
Khách đến Việt Nam ngày nay thấy nhiều nhà cao cửa rộng, xe chạy chật đường hơn xưa. Nhưng đa số người Việt Nam có vẻ không có cái nhu cầu dân chủ của người Myanmar hay người Hồng Kông. Hay là họ có, nhưng 20 năm chiến tranh đã làm họ mệt mỏi, xuôi xị chấp nhận chút đầy đủ vật chất, nhắm mắt với tương lai? Và Đảng Cộng sản Việt Nam có thể hy vọng người Việt sẽ ngoan ngoãn như người dân Bắc Hàn, không cần dự phần tự quyết cho tương lai của mình và con cháu mình?
Ngày 30/4 năm thứ 46 sau 1975 đặt ra câu hỏi: Còn bao nhiêu năm nữa thì người Việt Nam ở hai đầu chiến tuyến trong chiến tranh mới “hòa giải, hòa hợp” được với nhau để thành “Một Người Việt Nam”? Hỏi chơi vậy thôi chứ cứ như tình hình bây giờ thì còn mút mùa lệ thủy. Nhưng tại sao?
30 tháng Tư. Đó là ngày nhắc nhở chúng ta cần có dự tính cho tương lai. Vào năm 1975, ai có thể ngờ rằng sẽ có gần 2 triệu người Việt tại Hoa Kỳ nuôi dưỡng cuộc sống có ý nghĩa và đóng góp một cách đáng kể cho xã hội? Ai ngờ được rằng hiện đã có thế hệ người Mỹ gốc Việt thứ ba, thứ tư?
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.