Hôm nay,  

Còn Đâu Ngày Tháng Cũ

09/04/202118:50:00(Xem: 5311)

Đao Như                                                            

                                                              

Anh Nhất

Mau quá anh nhỉ! Mới đó đã hai mươi chín năm. Không ngờ đi ăn cưới người cháu vợ ở Cali, gặp lại anh ở phố Bolsa sau gần ba mươi năm. Nhớ ngày nào bốn anh em: Ngọc, Nhất, Tâm, Thể, coi như tứ trụ vây quanh người anh đầu đàn, anh Lê Văn. Ngày 30/4/75 anh ấy quyết tâm ở lại. Anh Lê Văn chịu đựng quá nhiều, chuyên chính vô sản tước đoạt anh thảm thiết. Biết bao mất mát. Năm 98 tôi về thăm nhà và ghé thăm anh ấy, sau bao nhiêu năm trăn trỡ, đầu anh Lê Văn bạc trắng. Lúc đó anh đúng 71 tuổi. Nụ cười vẫn trên môi. Anh cho tôi hay cách đó hơn một năm anh vừa thoát qua cơn máu nhồi cơ tim. Anh vẫn nhắc đến tụi mình và vẫn còn lo lắng cho chúng ta như thuở nào:

    “Ngọc và Tâm ở Pháp, còn ‘toi’ và Nhất ở Mỹ, sống cách nhau xa quá liệu có liên lạc với nhau chặt chẽ thường xuyên không? Đời sống anh em mỗi ngày một khá hơn chứ”?

    Anh Nhất, anh biết không? Tôi đành nói dối: Thời đại bây giờ mà anh, có cách nhau những hành tinh đi nữa chỉ cần nhấc điện thoại là nghe được tiếng nói của nhau, hay lên mạng điện thư cho nhau là biết nhau ra sao rồi…

    Như anh biết, thật ra cuộc sống tị nạn có nhiều ràng buộc, nhầm lẫn. Kẻ đến trước, người tới sau, gặp nhau cũng khó khăn. Đôi khi gặp nhau lại không nhìn ra nhau. Nhưng khi nghe tôi nói thế, anh ấy rất mừng và tự hào có những đàn em như tụi mình.

    Nhắc lại chuyện xưa, đôi khi khiến chúng ta ngậm ngùi. Tôi mường tượng lại những lúc riêng tư anh Văn thường nhắc nhở: ‘moi’ trông cậy vào bác sĩ Ngọc coi giùm Y tế của Vùng, dược sĩ Nhất coi về thuốc men và tiếp liệu, bác sĩ Tâm thì giao hẳn cho anh ấy lo Y tế tỉnh, còn ‘toi’, tức là tôi, thì lo chăm sóc Trường Cán Sự Điều Dưỡng. Trường còn non trẻ như đứa trẻ 2 tuổi mới biết đi lững chững. Còn ‘moi’, tức là anh ấy, rán trụ trì làm giám đốc bịnh viện thêm vài năm nữa cho tròn tình nghĩa. ‘Moi’ già, mỏi gối chùng chân. Chắc một vài năm tới cũng phải rủ áo từ quan. Cũng các anh em thôi. Không ai đâu, các anh em sẽ tiếp tục thế ‘moi’. Điều này ‘moi’ đã làm việc với anh Trần Minh ở trên Bộ. Bốn anh em đoàn kết lại với nhau, phối trí lại nhân viên, bồi dưỡng cán bộ, tu chỉnh phát triển cơ sở. Nhớ phục vụ đất nước là trên hết…

    Những gì chúng ta làm với anh Văn trước 75, nói là chuyện gì ghê gớm lắm, to tát lắm quả nhiên là không phải. Chuyện của một nhóm người, của một vài người cùng chung lý tưởng như chúng ta, đã cố gắng thực hiện lý tưởng của mình trong mịt mù của bom đạn thuở đó đều bé nhỏ cả so với cả nước. Chúng ta lớn lên trong chiến tranh, trực tiếp tham dự vào cuộc chiến. Mỗi thời đại có mẫu người riêng của nó. Trong chiến tranh con người là nạn nhân và cũng là chứng nhân của cái chết thê lương, trong chiến hào, ngoài mặt trận, trong tù ngục, hay giữa thành phố, dưới gầm cầu. Con người trong chiến tranh có cả tình yêu lẫn hận thù, sự sống và cái chết. Ấy thế mà chúng ta vẫn hiên ngang sống, nhiệt tình chung quanh anh Văn. Tôi đôi khi thì về trường Y Saigon tìm gặp giáo sư Lichtenberger hay bác sĩ Nguyễn Thị Minh Châu xin từng mẩu mô, mẩu tế bào li ti về để dạy sinh thiết và cơ thể bịnh lý ở trường; khi thì tôi đến Quân Y Viên Phan Thanh Giản để tìm gặp các anh Nghiêm, Anh Đặng, Anh Trần, Anh Nguyễn…xin các anh ấy cho các các em học sinh, cho nhà trường mươi, mười lăm giờ mỗi niên khóa về Ngoại khoa, Nội khoa, Phụ khoa, Sinh lý, Bịnh lý, Hoá học v.v…Còn anh, lúc ấy với chiếc Ford Bronco của Vùng, như con thoi anh lên  xuống Sài gòn tất bật, đến từng viện bào chế xin từng viên thuốc để đấp vào cái lỗ trống khổng lồ gây ra bởi chiến tranh. Mặc dầu lúc ấy đường lên xuống Saigon-Cần Thơ, ụ, mô, mìn nổ và người chết là chuyện thường. Bây giờ ngồi hâm nóng kí ức của mình trong thời điểm ấy, những việc làm đó đối với chúng ta, không hẳn là niềm tự hào, nhưng cũng không phải là những gì dễ xoá mờ qua năm tháng.

       

    Những gì phải đến đã đến. Ngày 30/4/75, như chúng ta ước đoán. Anh Văn quyết tâm ở lại. Còn tôi không có khả năng tài chánh để ra đi. Các anh biết rõ điều này. Chính trước mặt chúng ta trước 30/4/75 anh Văn cũng khuyên anh em còn trẻ nên đi đi. Còn anh Văn, anh ấy bảo anh già rồi, đã trót nhận nhiều hàm ân của tổ quốc, anh không thể nào bỏ chạy để lại sau lưng hàng ngàn bệnh nhân đau yếu nghèo khó, một bịnh viện rách nát mà anh làm giám đốc gần 20 năm. Anh cũng không thể nào bỏ chạy để lại một khối nhân viên họ đã gắn bó với anh trong nhiều năm khói lửa. Anh Lê Văn đã ôm lấy tinh thần trách nhiệm cao anh đã trả một giá quá đắt khi anh phải đối diện với sự thật. Chuyên Chinh Vô Sản đã tước đoạt tài sản và quyền lợi của anh một cách đầy hận thù giai cấp. 

    Chúng tôi những người ở lại sau ngày 30/4/75 nhận những tai họa ngay trước mắt. Cộng sản trở tay quá sớm. Họ coi tất cả những người bên này vĩ tuyến 17 là kẻ thù cần phải triệt hạ hay cải tạo. Họ làm hoàn toàn trái ngược những gì họ nói trước khi họ chiếm trọn miền Nam. Ngay trong 24 giờ đầu, tất cả anh em bác sĩ ở lại đều được lệnh tập trung đi tù cải tạo. Chỉ có bác sĩ Lương Khai, Nguyễn Quốc và tôi không bị gọi tập trung đi tù cải tạo, vì chúng tôi thuộc thành phần trẻ, không có trong quân ngũ, không dính dáng đến chính trị. Nhưng bác sĩ Lương Khai và Nguyễn Quốc thuộc sản phụ khoa. Như vậy khoa ngoại có hơn 10 bác sĩ phẩu thuật, bây giờ chỉ còn có mình tôi…Đầu ngành khoa ngoại của bịnh viện Thủ Khoa Nghĩa sau 30/4/75 là một bác sĩ cách mạng Nguyễn văn Ngôn thường gọi là Út Ngôn. Út Ngôn là bác sĩ của ‘R’, gốc người Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long, nguyên là lính của ‘Tiểu đoàn 307’, tập kết ra bắc năm 1954, tốt nghiệp y khoa Hà nội, hệ chính qui, chuyên về sọ não. Đó là những gì Út Ngôn tự giới thiệu trong buổi giao ban đầu tiên của khoa ngoại trong ngày tiếp quản. Trong buổi giao ban này anh cũng ‘tố’cha anh là một tên đại điền chủ khoa cử, có nhiều vợ. Anh ta là con của bà ‘vợ thứ’. Mẹ anh là chị ruột của một bác sĩ tiết niệu. Vì hổ thẹn với thành phần giai cấp gia đình, anh tự giác ngộ, đi theo cách mạng lúc 16 tuổi. Lúc đầu chưa có kinh nghiệm với họ, tôi cứ tưởng anh ấy là tên cộng sản nghiệt ngã, ác ôn sớm đầu tối đánh, phản lại cha mẹ giòng họ và gia đình. Nhưng tôi lầm. Sau này tôi mới hiểu, sở dĩ Út Ngôn nói nhiều như vậy không ngoài mục đích anh cho chúng ta thầy anh cũng thoát thai từ ‘gêne’ khá tốt: trí thức tư sản.

    Đến ngày mùng 5 tháng 5, năm ngày sau ngày tiếp quản, Ủy Ban Quân Quảng quyết định chuyển qua bịnh viện dân y Thủ Khoa Nghĩa tất cả gần 3 trăm thương bịnh binh quân đội Việt Nam Cộng Hòa đang điều trị bên quân y viện Phan Thanh Giản. Thế là khoa ngoại phải nhận tất cả thương bịnh binh của ta, quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng khoa ngoại chúng tôi đâu có đủ bịnh phòng tiếp nhận anh em. Bác sĩ chỉ có một mình tôi. Phần lớn bác sĩ Út Ngôn coi về chính trị, tôi coi về chuyên môn. Chúng tôi chỉ có 24 giờ để sửa soạn tiếp nhận thương bịnh binh của ta.

    Anh Nhất, anh có biết gần 300 bịnh binh của ta di chuyển qua tôi như thế nào không? Chỉ có mươi mười lăm người chuyển qua tôi bằng vài chuyến ambulances, vì họ suy kiệt nặng quá. Như anh biết Viên Dân Y Thủ Khoa Nghĩa và Viện Quân Y Phan Thanh Giản có chung một bức tường. Nơi bức tường ấy có một cửa thông qua hai bịnh viện. Thường thì cửa này khóa chặt, Viện Quân y giữ chìa khóa. Biết thế các thương bịnh binh ta yêu cầu cách mạng mở cửa và anh em tự di chuyển qua tôi. Nhiều người cứ từng cặp dìu nhau đi qua cửa ải. Có anh mù cổng anh cụt hết hai chân. Họ đùm túm dắt díu nhau qua gặp tôi. Có anh em mừng, có người gần như muốn khóc khi tôi đến nâng dìu họ lên giường bịnh. Có anh mừng quá la lớn: “Gặp được phe ta rồi. Mấy ngày rồi thiếu thuốc men bác sĩ ơi. Cơm nước toàn do vợ nuôi. Nếu không có gia đình ở đây thì ăn cơm ‘chỉa’ với anh em”. 

     Ủy ban quân quản và Thành đội thành phố ra lịnh chúng tôi không được giử anh em thương bịnh binh ta trong viện quá 10 ngày. Tôi thầm kín huy động tất cả nguồn nhân lực và thuốc men còn lại của ta đổ dồn hết vào việc điều trị cho anh em. Cũng may vào thời điểm đó, còn quá sớm Cách mạng chưa kịp để mắt đến, kiểm kê hay kế hoạch phân phối kho thuốc của Vùng mà anh để lại. Trong thời gian này tôi có dịp đi qua thăm Quân y viện của bộ đội cách mạng. Tôi cũng đi ngang qua cái cửa ải đó để ký giấy tờ thâu nhận các anh em thương bịnh binh ta. Tôi mục kích cả một sự đau lòng: quân đội cách mạng thiếu hụt thuốc men, băng bó và lều trại bê bối. Sau cuộc chiến chúng ta mới có đủ thì giờ và cơ hội nhìn thấy vết thương đang chảy máu của nhau…


       Trong chiến tranh không có kẻ chiến thắng, chỉ có nạn nhân chiến tranh. Chiến tranh gây ra nghèo đói, đổ nát, lạc hậu, ngộ nhận, hận thù phi lý. Niềm kiêu hãnh lớn của anh em chúng ta và cả nước hôm nay là chúng ta cố gắng đoàn kết với nhau, đứng lên từ đổ nát của chiến tranh, bảo vệ hòa bình, phục hồi kinh tế, cũng cố độc lập thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, xây dựng lại lòng tin yêu nhau, xóa bỏ những nhầm lẫn gây ra do cuộc chiến quá dài. Nhưng đó không phải là chuyện dễ làm. Có nhiều âm mưu, gọng kềm quốc tế, ngăn cách và bủa vây dân tộc ta trong thời hậu chiến. Tội ác lớn nhất của mọi thời đại là những kẻ xuyên tạc lịch sử chỉ vì lơi ích riêng quốc gia của họ, cho đảng phái, cho chủ nghĩa của họ. Phải không anh?


    Tôi nhớ lại một tối thứ bảy, cuối tháng 12, năm 74, lúc ấy Cần thơ trời se lạnh. Bác sĩ Trần Nghiệp tổ chức một bữa tiệc tại nhà hàng Hậu giang có mời vợ chồng tôi. Rất ngạc nhiên buổi tiệc được tổ chức trên lầu 2, trong một phòng rộng kín đáo khá đặc biệt. Chúng tôi hôm ấy gặp toàn các anh bác sĩ đầu ngành của Viện Quân Y của Quân đoàn 4. Các anh toàn người Bắc. Chỉ có tôi là người Ninh thuận. Sau vài tuần rượu bác sĩ Trần Nghiệp đi thẳng vào mục đích của buổi tiệc. Anh nói ngắn, gọn:

- Như chúng ta đã biết, hòa ưồc Paris đã ký kết hồi 23/1/1973: Mỹ rút quân trong danh dự. Việt cộng không ngừng vi phạm điều lệ của hiệp ước. Người Mỹ cứ dửng dung. Điều đó có nghĩa là số phận miền Nam đã được tính sổ. Vấn đề là thời gian thôi. Tôi tin cũng không lâu lắm, không quá sáu tháng tới. Vậy ta phải quyết định tương lai của chúng tan ngay từ bây giờ.

    Mọi người im lặng. Các bà há hốc nhìn chồng. Không khí nặng nề. Có tiếng ai thở dài. Bác sĩ Trần Văn vụt hỏi:

 - Vậy! Tam-thập-lục-kế, tôi xin hỏi anh Nghịêp, anh tính cho anh em kế nào? Phải chăng dĩ-đào-vi-thượng? 

    Bác sĩ Trần Văn hy vọng câu hỏi của mình mang một ít khôi hài sẽ làm cho anh em thoải mái và bớt căng thẳng. Không ngờ sau câu hỏi của anh, áp xuất trong phòng họp tăng lên nghiêm trọng. Bác sĩ Trần Nghịêp liền đứng dậy:

- Xin lỗi không ngờ tôi đã làm phiền các anh chị. Tôi cứ tưởng mình thật tình với anh em…

Có người cắt ngang lời bác sĩ Nghịêp và nói:

- Được Anh Nghiệp giúp đỡ như thế này thì quí hóa quá rồi, phúc đức lắm rồi. Vậy chúng ta cùng bàn tính ngay hôm nay và phải dứt khoát kế hoạch thôi.

- Xin thưa các anh chị, bác sĩ Trần Nghịệp nói tiếp, tình trạng đất nước bi đát như các anh đã biết đấy. Nếu anh chị nào muốn ra đi thì xin cho chúng tôi biết ngay hôm nay, để lo sắp xếp cho anh chị và nhờ thế phút chót chúng ta bay đi dễ dàng hơn. Nguyên tắc của người Mỹ: first come, first serve. Ai đến trước, đi trước!

 Buổi tiệc hôm ấy có tất cả 13 cặp vợ chồng. Tất cả lần lượt ghi danh di tản. Đến lượt vợ chồng tôi, tôi nói:

- Cám ơn các anh. Tôi không thể dứt khoát đi hay ở trong lúc này được vì chúng tôi còn cần xin ý kiến của thân sinh của tôi ở tận Phanrang. Vậy xin cám ơn các anh chị, phần chúng tôi xin để dịp khác.

 Nói đến đây tôi nghe vợ tôi sẻ kêu:

- Anh ơi! Đầu bà gục trên vai tôi.

Còn tôi sau khi nói, tôi ngồi như chết lịm. Bác sỹ Trần Nghịệp sửng sốt nhìn tôi. Tôi với anh Nghịệp rất thân như anh từng biết, có gì khó khăn trong nghề nghiệp hay biết được những gì mới trong y học, trong phẫu thuật, chúng tôi thường gặp nhau cùng san sẻ, cùng tìm hiểu và học hỏi. Anh không ngờ hôm nay tôi lại nói như vậy. Thật sự tôi không biết anh đang nghĩ gì về tôi. Tình bạn, tình đồng nghiệp gắn bó với nhau trong mấy năm qua thật sụ đối với tôi quan trọng hơn vấn đề quyết định đi hay ở hôm nay. Mất anh Nghịệp là một mất mát lớn cho tôi. Nhưng biết làm sao bây giờ. Khuya hôm ấy trên đường về vợ tôi than phiền: 

- Anh thật thà quá! Các anh em ai cũng quí anh. Giờ chót anh thiếu tế nhị, làm anh em ai cũng giận. Em lo quá. Mình khó gặp được một người bạn tốt như anh Nghịệp trong tương lai lắm anh.

    Anh Nhất, sở dĩ tôi dong dài với anh như vậy, là muốn anh biết việc di tản của các anh em được chuẩn bị từ nhiều tháng trước. Anh cũng thấy đó, không ai bỏ rơi tôi cả, ở lại là việc tự nguyện của tôi. 

     

     Dưới mắt người cộng sản, lúc ấy, tôi là bác sĩ ngụy và cũng là bác sĩ phẫu thuật duy nhất còn sót lại. Nghĩa là tôi là kẻ chậm chân không chạy kịp. Bịnh phòng đầy ấp bịnh nhân, bịnh cấp cứu nhiều quá, phần nhiều là tai nạn lao động nhất là nông dân. Sau 30/4/75 hòa bình trở lại vĩnh viễn trên đất nước. Ai cũng chăm lo vun xới lại ruộng vườn, cày sâu cuốc bẩm tăng gia sản xuất. Nói nghe văn chương vậy chứ thật sự lúc đó ai cũng đói. Họ đâu có biết dưới lớp đất chôn sâu dưới chân họ là bãi mìn đủ loại, đủ cỡ, mang nhiều danh tánh khác nhau: mìn nhái, mìn cóc, mìn râu, mìn rùa, mìn kíp…Một mặt trận mới vừa bung ra sau ngày thống nhất đất nước, mặt trận lao động sản xuất. Đó là cuộc chiến bi thương của thời hậu chiền. Cuộc chiến giữa nông dân đối đầu với những cốt mìn tự động, âm mưu thâm độc của kẻ xâm lăn.. Từ đồng bằng miền Trung đến đồng bằng Sông Hậu và khắp cả núi rừng Trường sơn đều là những bãi mìn. Có anh nông dân nạn nhân của mìn, vì đau đớn quá anh la lớn tại phóng cấp cứu khoa ngoại: “Tất cả mìn nhỏ này đều từ máy bay thả xuống, chun vào đất nằm chờ…chúng tôi biết hết chớ, nhưng phải đổi bát máu lấy bát cơm.”! 

  Câu nói này xem như điệp khúc bi tráng sau chiến tranh. Tôi cảm thấy không ân hận khi quyết định ở lại để có cơ hội chia sẻ với đồng bào, với bịnh nhân những năm tháng bi tráng ấy của cả nước trong thời hậu chiến.

 

   Út Ngôn hiểu biết về chuyên môn quá yếu trong 2 năm đầu tiếp quản, nên công tác phẫu thuật của anh bị giới hạn. Theo nguyên tắc tôi là bác sĩ Ngụy không được mổ ‘cán cao’, nhưng cấp cứu tôi cũng phải mổ. Út Ngôn đứng bên cạnh tôi phụ mổ đồng thời để học hỏi, bác sĩ Y Vụ đứng sau lưng tôi theo dõi. Bác sĩ Y Vụ lúc ấy là Hoàng quang Ánh đâu biết gì về chuyên môn, ông ta gốc người Nghệ an, bác sĩ bổ túc, bác-sĩ-đi-chân-đất. Ông ấy từ Cựu chiến binh Điên Biên mà đi lên. Họ thủ thế với mình kỹ quá. Không tin mình về chính trị, nhưng họ phải sử dụng mình trong chuyên môn. Làm việc gì mình cũng phải ngó trước ngó sau, phải hỏi ý kiến thủ trưởng. Thủ trưởng của tôi lại là Út Ngôn. Mình cũng khổ mà Cách mạng cũng khổ. Cộng sản thường rêu rao: “trước mặt thầy thuốc tất cả mọi người đều bình đẳng”. Không đâu anh. Cộng sản là chế độ có nhiều giai cấp. Cán bộ thì có: Sơ, Trung, Cao. Ăn uống thì cũng có: Tiểu táo, Trung táo, Đại táo…Khi nằm viện thì chế độ bịnh phòng cũng khác. Trong cuộc sống hằng ngày cũng vậy, chế độ sinh hoạt rất khác nhau: kẻ thì hưởng thụ theo khả năng (khả năng làm việc, chứ không phải khả năng hưởng thụ), người thì hưởng thụ theo nhu cầu (họ cần gì thì có cái đó cho họ). Ngày xưa ở những năm 50 ở thế hệ của chúng ta các anh em đọc “Les Nouvelles Classes” của Djlas. Lúc đó anh em chúng ta có người còn ngờ ngợ. Sau nam 75 giáp mặt với thực tế, nghĩ mà thương Djlas bị Tito vùi dập…


    Bác sĩ Nguyễn Văn Ty, Đầu ngành Ngoại Tim mạch của bịnh viện Việt Đức tại Hà nội, nguyên Trung tá bác sĩ tham chiến chiến trường Điện Biên, tháng 10 năm 1976 ông đi tham quan các bịnh viện ở các tỉnh phía Nam. Không hiểu vô tình hay cố ý, vừa ghè thăm ban lãnh đạo bịnh viện, bác sỹ Nguyễn Văn Ty liền xuống thăm phòng phẩu thuật. Bác sĩ Ty, gặp tôi trước cửa phòng Cấp Cứu Hồi Sinh của khoa ngoại, anh gọi tên tôi trong giọng thân mật như đã quen than nhau lâu lắm:

- Anh Thể đó hả! Tôi đến gặp anh đây. Anh vẫn bình thường chứ? Tôi là bác sĩ Ty, bác sĩ đầu ngành ngọai tim mạch ở bịnh viện Việt Đức, Hà nội. Gớm! Cái anh này trẻ thật. Trẻ quá đi thôi. Quí hóa quá. 

   Thú thật tôi hòan toàn bị động trước lời lẽ chân thật và đầy thương yêu của anh ấy. Còn anh ấy đang có ý nhìn chung quanh. Tôi nghĩ là anh đang quan sát phòng cấp cứu của tôi. Tôi ấp úng nói:

- Thưa anh…

Tôi chưa kịp nói tiếp, anh liền phác tay:

- Phòng cấp cứu hồi sinh tổ chức khéo quá, bề thế mà không kềnh càng, trang bị tối tân.

Sau khi trao đổi với tôi một vài ý kiến về chuyên môn trong phòng hồi sinh, anh nắm lấy cánh tay tôi, chúng tôi cùng ra ngoài. Anh nói:

- Ở đây mát quá anh nhỉ! Nhờ sông Bassac rộng. Anh rán làm việc. Người ta sẽ tin mình. Năm năm người ta không tin mình thì mười năm. Mười năm người ta không tin mình thì hai mươi năm, ba mươi năm người cũng phải tin mình. Như tôi bây giờ vậy, anh thấy chưa? Nói xong trán anh đượm mồ hôi, anh xoắn tay áo lên tận khuỷu. Tôi thoáng thấy một khỏang tím bầm như xuất huyết dưới da nơi khuỷu tay anh. Tôi nắm khuỷu tay anh tôi hỏi:

- Sao vậy anh?

Anh cười. Anh phủ tay áo lại. Anh nói:

- Cách đây năm hôm, trước khi đi thăm quan các bịnh viện thuộc các tỉnh phía Nam, tôi bán nửa lít máu để lấy tiền bồi dưỡng cho cậu con trai tôi luyện thi vào trườngY Hà nội.  

   Nghe nói thế, tôi há hốc nhìn anh. Anh lại phác tay:

- Có gì đâu! Rồi anh sẽ cũng như tôi!

   Anh trông có vẻ vội vã. Hình như anh đang phát hiện một điều gì. Anh nói:

- À, tôi đi thôi. Mai sẽ gặp lại anh để thăm khoa phòng khoa ngoại.

   Anh bắt tay tôi. Anh đi nhanh. Anh nói ngoái lại:

- Anh còn trẻ chán. Không có gì là muộn đối với anh cả.

Tôi quay lai, vào phòng cấp cứu hồi sinh, tôi thoáng bắt gặp ánh mắt của bác sĩ Nguyễn Văn Xuyền ẩn sau tấm cửa ‘porte battante’ anh vừa theo dõi câu chuyện chúng tôi. Bác sĩ Xuyền vào khoảng 30, 35 tuổi, bác sĩ bổ túc, chuyên về Nội khoa, người Bắc, cán bộ chi viện cho Miền Nam Việt Nam từ Hà Nội.  Anh là lãnh đạo tổ chức Thanh Niên của bịnh viện. Anh ca bài “Hà nội- Niềm Tin vC Hy vọng” khá hay.

      Suốt ngày hôm đó tôi suy nghĩ mãi về bác sĩ Ty. Anh là ai? Cộng sản khó lường quá!  Không ai giới thiệu anh cho tôi cả. Ban lãnh đạo bịnh viện không hề nói tôi được phép tiếp xúc với anh. Theo điều lệ đảng ủy và ban lãnh đạo bịnh viện dành riêng cho tôi: khi những người ngoại quốc như nhân viên của tổ chức Liên Hiệp Quốc hay nhân viên phái đoàn ngoại quốc như phái đoàn Quakers của Mỹ chẳng hạn, và có điều lạ hơn nữa ngay cả với các bác sĩ hay giáo sư Trường Y Hà nội, hay các bác sĩ đầu ngành của bịnh viện thuộc các tỉnh phía Bắc (ngoài Bắc), muốn tiếp xúc với tôi, hay tôi muốn tiếp xúc với họ, phải được sự đồng ý hay giới thiệu của ban lãnh đạo bịnh viện hay của đảng ủy. Tiếp xúc với họ tôi chỉ trao đổi bằng tiếng Việt, nếu với người nước ngoài thì luôn luôn có thông dịch viên do Cách mạng cung cấp. Tuyệt đối không được nói chuyện với bác sĩ ngoài Bắc bằng tiếng Pháp. Để tiện việc, nhiều khi có người ngoại quốc hay người lạ đến, tôi được yêu cầu ở nhà. Vào những lúc ấy, nếu có cấp cứu, hay phẫu thuật gặp khó khăn, Cách mạng cho xe ambulance đến nhà rước. Vào bịnh viện tôi đi thẳng vào phòng phẫu thuật, xử trí phẫu thuật, ổn định tình trạng bịnh nhân, sau đó có xe ambulance đưa tôi thẳng về nhà...Có điều lạ, khi đi thăm khoa phòng với bác sĩ giám đốc hay với Út Ngôn, bác sỹ Ty tỏ ra mình có quyền uy. Ông ta khuyên họ làm điều này, chỉ cho họ làm điều nọ. Các anh đều tuân thủ nghe theo. Các anh ấy khi nói chuyện với bác sĩ Ty, khi thì thưa anh, khi thì thưa giáo sư. Còn đảng ủy, xem mặt họ thì biết, không mấy phấn khởi khi nói chuyện với bác sĩ Nguyễn Văn Ty..

    Sáng hôm sau, tôi vừa ra khỏi phòng giao ban, gặp ngay bác sĩ Ty, tôi vẫn lặng thinh, chỉ bắt tay chào anh ấy. Chúng tôi bước vội xuống thăm khoa phòng khoa ngoại. Khi đến trại 15 là Trại Xương dành cho Chấn thương và Chỉnh trực, một trại cũ kỷ, lợp bằng ‘tôn’, vòm cong, han rỉ. Trại này được xây dựng từ năm 1953. Và tôi cũng cho bác sỹ Ty biết trước 75 tôi là Bác sĩ trưởng trại này và tôi cũng là bác sĩ đầu ngành phẫu thuật Chấn thương và Chỉnh trực của bịnh viện. 

    Đứng trước bác sĩ Lương Định, nữ bác sĩ vừa chi viện từ Hà nội, bác sĩ Ty lên tiếng phê phán:

- Bọn Ngụy tệ thật, dư tiền mua bom đạn, đánh phá Cách mạng, gây thương tích không biết bao nhiêu người mà vẫn để ‘Trại Xương’, một trại chứa toàn nạn nhân của bom đạn tồi tệ như thế này. Nó vẫn để như vậy trong mấy mươi năm qua.  

 - Thưa anh, tôi nói, sau 30 /4/ 75 tôi có mạnh dạn đề nghị xin xây lại trại mới, mà gần 2 năm rồi đấy anh…

    Bác sĩ Ty lặng thinh, kéo tôi lên thăm phòng phẩu thuật. Dọc hành lang, bác sĩ Ty nói vừa đủ cho tôi nghe:

- Đừng có lắm đề nghị, còn nhiều khó khăn lắm…đừng để ai hiểu lầm mình…

Phải nói là Bác sĩ Ty choáng ngộp khi bước vào phòng phẩu thuật và phòng tiếp liệu của chúng tôi. Anh mở mắt nhìn gần 20 bộ đại phẫu tiên tiến dành cho: Tim mạch, Tổng quát, Chấn thương, Sọ não, lồng ngực, Tiết niệu, Phụ khoa.v.v…Anh mân mê từng bộ phận của bộ đại phẩu Tim mạch mà tôi mở cho anh ấy xem. Anh nâng niu từng vascular clamp làm bằng plastic mềm, anh nói với giọng thiết tha:

- ‘Các mẩu này’, khi ta có nó mà dùng nó thì tuyệt vời, hầu như không gây tổn thương cho thành động mạch.

   Tôi thật sự vô cùng cảm kích trước sự bày tỏ chân thành của bác sĩ Ty. Tôi cho anh xem một thùng gần một thước khối chứa toàn những mẩu nhân tạo của hệ thống tim mạch (cardiovascular prothesis). Anh đứng ngơ ngẩn, nhìn ngấm, ve vuốt, mân mê từng động mạch thận, động mạch háng, cross aorta v.v…Anh ấy nói: 

- Ở bịnh viện Việt Đức chúng tôi có một số, rất ít, quí lắm, quà tặng của Cộng Hòa Dân Chủ Đức. Chỉ có anh Tùng và tôi mới dùng các món này, nhưng cũng gần hết rồi, hiện chúng tôi chỉ còn vài ba mẩu.

    Nghe bác sĩ Ty nói tôi thật sự xúc động. Tôi bèn lấy một hộp vuông vức mỗi bề 3 tấc, và tôi hỏi bác sĩ Ty là anh muốn cái nào tôi sẽ cho anh cái đó. Tôi sẽ cho anh anh đúng một hộp đầy, 27 tấc khối để cho anh mang về Bịnh viện Việt Đức cho anh và thầy Tùng dùng.  

     Bác sỹ Ty xoe tròn đôi mắt nhìn tôi. Anh lúng túng:

- Như vậy là một thùng 27 tấc khối có nhiều lắm không anh? Bác sĩ Ty thật tình hỏi tôi.

- Thưa anh, tụi này có cả thùng một thước khối như vậy mà ít có dịp dùng vì đội phẩu thuật tim mạch của chúng tôi một phần ở lại đi học tập cải tạo, một phần di tản qua Pháp như bác sĩ Phạm Vĩnh đã trở lại bịnh viện của đai học Montpellier.

    Tôi nhờ cô điều dưỡng thân tín nhất của tôi giúp bác sĩ Ty lựa và gói cho anh ấy một thùng thật tươm tất. Xong tất cả, anh đứng mân mê cái thùng, anh nâng nó lên, anh đỡ nó xuống, nó rất nhẹ vào khoảng một kilo ngoài. Tôi rất ngạc nhiên anh không dám mang về. Anh gửi lại phòng tiếp liệu.  Anh nói:

- Cái này không thể để ở ngoài tối nay được. Tôi xin gửi lại đây, sáng mai tôi đến lấy và lên máy bay về luôn…Anh nhìn tôi một chập, rồi nói giọng rất khẻ:

 - Đó là tài sản của quốc gia!

Ngày hôm sau, lúc 8 giờ sáng tôi bước vào phòng mổ, tôi nghe bác sĩ Út Ngôn khiển trách cô điều dưỡng phòng mổ thân tín của tôi. Út Ngôn thì lớn tiếng, cô ấy thì khóc sướt mướt. Chợt thấy tôi bước vào, bác sĩ Út Ngôn gọi:

- Này Anh! Út Ngôn vừa chỉ vào cái hộp tôi biếu cho bác sĩ Ty, vừa nói:

- Những cái gì ta có hôm nay trong phòng tiếp liệu này, đều là từ máu xương của cách mạng. Biết bao hy sinh chúng ta mới tước đoạt từ tay kẻ thù những gì ta có hôm nay. Không một ai có quyền coi như của riêng tư mà tự ý chia chác hay biếu xén cho ai cả!...

    Tôi biết Út Ngôn đang giận. Mặt anh ấy tái tím. Tôi biết tôi có lỗi là tôi không xin ý kiến của anh trước khi tôi tiếp xúc với bác sĩ Ty. Không! Không phải như vậy. Tôi hoàn toàn sai. Cơ bản vấn đề là ở chỗ khác. Bác sĩ Út Ngôn, không bao giờ gọi tôi bằng anh. Anh lớn hơn tôi 6 tuổi. Thường anh gọi tôi bằng em trong những lúc riêng tư. Trước mặt mọi người anh gọi tôi bằng bác sĩ cũng như anh gọi tất cả các bác sĩ của chế độ cũ. Nhưng hôm nay Út Ngôn gọi tôi như vậy, có nghĩa là anh đấu tranh quyết liệt. Thú thật tôi rất e dè. Tôi nói:

- Thưa anh không có gì đâu, chỉ vài ba cái mẩu nhân tạo về các bộ phận tim mạch. Thưa anh, vốn dĩ Bác sĩ Ty cũng là thầy giáo của anh tại trường Y Hà nội. Tôi có lỗi là tôi không xin ý kiến của anh. Tôi vô cùng hồi hận về thiếu sót đó…

- Vấn đề không phải là anh có lỗi hay không có lỗi và cũng phải là bác sỹ Ty là thầy của tôi hay không phải là thầy của tôi.

    Tôi thật thà bảo:

- Chúng ta không cho thầy Ty hôm nay, mai mốt Trung ương vào kiểm kê. Ta đâu có thể ôm chặc mãi cho ta được. Trung ương sẽ phải phân phối có thể bổ sung cho các bịnh viện thuộc các tỉnh phía Bắc, nhất là các bịnh viện thuộc Trường Y Hà nội. Điều đó cũng đúng thôi vì họ đang thiếu trầm trọng.

- Thiếu? Thì ai cũng thiếu cả. Ta có được là vì ta đổ máu mới có. Máu của dân miền Nam không chia chác biếu xén cho ai cả. Chừng nào Trung ương vào kiểm kê thì sẽ hay. Lúc ấy chúng ta sẽ có kế hoạch…

    Tới đây tôi thấy rất khó mà thương lượng với bác sĩ Út Ngôn trong tình thế như thế này. Tôi bước vội ra ngoài để xem bác sĩ Ty đến chưa. Tôi gặp phải bác sĩ Lương Định đang chạy vội đến tôi. Với giọng thản nhiên, chị nói vừa đủ cho tôi nghe:

- Bác sĩ Ty cám ơn bác sĩ rất nhiều. Thôi, cái hộp đó rắc rối lắm. Bác sĩ xử trí với Út Ngôn cho khéo, đừng để xảy ra những ‘lôi thôi’ cho bác sĩ.  Bác sĩ Ty xin lỗi bác sĩ, không gặp được bác sĩ vì sợ trễ máy bay…

    Rồi bác sĩ Lương Định đứng sát vào tôi, chị ấy khẻ nói:

- Làm gì anh ấy quát tháo quá quắt vậy! Không cho bác sĩ Ty hôm nay, sau này Trung ương vào kiểm kê đâu cũng vào đấy.


     Có lẽ đó là sự khác biệt nhỏ nhoi giữa tôi và bác sỹ Ut Ngôn. Sau đó chúng tôi làm việc mỗi ngày một gần gũi nhau hơn. Có lúc anh bẻ đôi củ khoai lang luộc chưa kịp bốc vỏ chia cho nhau bỏ vào mồm ngấu nghiến. Chúng tôi vừa ngoàm ngàm khoai vừa bàn tính vừ xử trí phẫu thuật và hậu phẫu của một cas nào đó đang trong tình trạng cấp cứu. Thú thật ngoại trừ với thầy tôi, các vị giáo sư trường Y Sài gòn và các bạn bè nội trú cũ của tôi, tôi chưa làm việc với ai mà gần gũi thân thiết và kính trọng lẫn nhau như tôi làm việc với bác sĩ Út Ngôn. Qua mắt tôi, Út Ngôn là một bác sĩ cầu tiến, giàu lòng nhân đạo và yêu nước.

      Tình thế càng khó khăn bấy nhiêu, tôi và bác sĩ Út Ngôn càng làm việc khắng khít với nhau bấy nhiêu. Có lúc anh em thật gần gũi. Những lúc đó, anh có nói những câu xa gần, đại khái là tay nghề của anh bây giờ khá vững nhờ những năm làm việc chung với nhau. Anh không bao giờ quên những chặng đường ấy. Nói xong anh vội bước đi, để mặc tôi ngơ ngác với câu nói của anh. Tôi suy nghĩ mãi về anh như lần đầu tôi gặp bác sĩ Nguyễn Văn Ty. Trong bác sĩ Nguyễn văn Ngôn lại có một bác sĩ Nguyễn Văn Ty. Có phải chăng trong còn người cộng sản, con người quốc gia vẫn còn chôn sâu trong tận cùng tâm hồn họ…

     Chủ nhật cuối tháng hai năm 1979, lúc 2 giờ sáng tôi được điều vào bịnh viện để mổ cấp cứu cho một cán cao, công an biên phòng. Ông ta bị thương trong một cuộc đụng độ với người vượt biên do biệt kích Mỹ tổ chức. Tôi chi nghe nói vậy. Ông ta bị thương rất nặng! Dĩ nhiên có bác sĩ Giám đốc, bác sĩ Út Ngôn đứng bên cạnh tôi trong phòng phẫu thuật. Sau 3 giờ liền can thiệp phẫu thuật tình trạng bịnh nhân được ổn định. Lúc đó 5 giờ sáng. Theo đề nghị của bác sĩ Y vụ, tôi ngủ lại phòng bác sĩ trực thay vì về nhà. Vì mệt, vừa đặt lưng xuống tôi ngủ ngay thẳng giấc đến sáng. Khi thức dậy đã 8 giờ sáng. Tôi làm giường, tháo mùng lật gối. Khi lật gối, tôi giật mình khi thấy một cây súng ngắn đặt dưới gối nằm của tôi. Tôi vô cùng sợ hãi và bối rối khi nghĩ lại đêm qua tôi ngủ gối đầu trên cây súng ngắn mà tôi không hay. Tôi không dám sờ tới nó. Tôi bàng hoàng suy nghĩ. Như thế này thì hết tình hết nghĩa rồi. Tôi không ngờ tôi lại rơi vào hoàn cảnh bức bách như bây giờ. Vấn đề tôi phải ra đi trở thành bức xúc với cách mạng đến thế sao? Tôi muốn biết tại sao như vậy? Sau cây súng ngắn này Cách mạng sẽ vẽ chuyện gì nữa đối với tôi? Với gia đình tôi? Nhìn đồng hồ thấy hơn 8 giờ sáng, tôi bốc điện thoại gọi Mười Nhân, bác sĩ bịnh viện trưởng và cho ông ta hay là có kẻ xấu lận cây súng ngắn dưới gối nằm của tôi tại bịnh viện trong đêm qua. Ông ta trả lời trong một giọng rất bình thường:

- À, cây súng ngắn phải không? Chắc Út Ngôn đêm qua, cùng tôi xuống thăm bác sĩ mổ cấp cứu, anh ấy ghé phòng trực bác sĩ, chính anh ấy làm giường và treo mùng cho bác sĩ nghỉ sau khi mổ cấp cứu. Hình như sau đó anh ấy dấu cây súng dưới gối nằm của bác sĩ. Hồi khuya lúc về anh ấy quên ghé lấy. Bác sĩ cứ gọi cho anh Út Ngôn hay. Anh ấy sẽ đến lấy hay anh ấy cho các em bảo vệ đến lấy. Sau đó tôi gọi bác sĩ Út Ngôn, cũng trong giọng bình thường anh ấy bảo là anh ấy bỏ quên cây súng dưới gối nằm của tôi và anh ấy sẽ bảo các em bảo vệ đến lấy. Cũng như bác sĩ bịnh viện trưởng bác sĩ Út Ngôn không một lời xin lỗi tôi.

    Chuyện cây súng ngắn bỏ quên dưới gối nằm của tôi như một quả lựu đạn nổ tung trong bịnh viện, mặc dầu tôi muốn giữ kín chuyện đó, tôi không muốn gây ra tư tưởng hoang mang của các nhân viên trong bịnh viện. Thật tình mà nói lúc nào tôi cũng quí anh Út Ngôn. Tôi thật sự cảm động khi nghe bác sĩ bịnh viện trưởng cho tôi hay là chính anh Út Ngô giăng mùng làm giường cho tôi ngủ đêm hôm đó. Có điều lạ là người bung tin cây súng bỏ quên dưới gối nằm của tôi lại là một bác sĩ Cách mạng, bác sĩ Xuyền, bác sĩ bổ túc, chuyên về nội thương, chi viện từ Hà nội, lãnh đạo thanh niên trong bịnh viện từ năm 1975! Thật sự, từ đầu năm 78 những lúc rỗi rảnh và hình như chiều nào anh cũng có những lúc rỗi rảnh đó, bác sĩ Xuyền thường lội qua khoa ngoại, tìm gặp anh em bác sĩ chính quyền cũ còn được lưu dụng, anh cứ nói xa gần là khuyến khích chúng tôi bỏ nước ra đi: “Các anh ở lại làm gì? Ai tin các anh mà các anh ở lại? Không lẽ các anh quyết tâm ở lại chờ ăn độn với chúng tôi?”.  Khi nói về sự tích cây súng bỏ quên dưới gối nằm của tôi, bác sĩ Xuyền bao giờ cũng chua thêm: “Tôi như bác sĩ Thể tôi đi thôi! Bạn bè đi hết, hà cớ gì bác sĩ Thể ở lại một mình?”

     Tôi đem chuyện cây súng nói cho anh Le Văn hay, anh ấy rất lo cho tôi. Anh Lê Văn khuyên tôi: “cũng không có gì là muộn cả, ‘toi’ còn trẻ hãy lo liệu mà đi thôi. Anh em ai cũng bỏ chạy cả rồi. Và Cách mạng đã quyết tâm như vậy biết làm sao bây giờ! Thôi thì tổ chức đi đi, có thiếu hụt thì ‘moi’ tiếp cho. Anh Nhất, khi nhắc lại giai đoạn này tôi cảm nhận sâu sắc tấm lòng hào hiệp của anh Lê Văn. Anh ấy lúc nào cũng cưu mang chúng ta.


    Anh Nhất khi tôi viết đến những dòng này cả nước Mỹ đang bước vào mùa bầu cử tổng thống 

cho nhiệm kỳ 2004-2008. Tại đại hội của đảng Dân chủ, ứng cử viên sáng giá của đảng Dân chủ          John Kerry, được giới thiệu đến đại hội và những cử tri hâm mộ, ông ta là một con người được đào tạo từ chiến tranh Việt Nam (a man forged in VietNam)! Một người bạn của John Kerry  cũng là cựu chiến binh tại Việt Nam, đã khẳng định tại đại hội: “ Với cựu tổng thống Jimmy Carter nhờ có cánh đồng đậu phọng tại Georgia, với Bill Clinton nhờ có tư tưởng “Người Đến Từ Hy Vọng”, (man from hope), với John Kerry ông sẽ thắng cử nhờ ông có ViệtNam!(he does have VietNam)…Những cuộc vận động tranh cử tổng thống Mỹ từ thời tổng thống Lyndon Johnson, 1964, trong suốt 40 năm qua và nhiều thập niên tới nữa của thế kỷ thứ 21 vẫn khét mùi thuốc súng của chiến tranh Việt Nam.


     Ngày 4/4/79 tôi mang vợ con, rời bỏ tổ quốc. Sau đúng 25 năm sống lưu vong tại Mỹ, bây giờ ngồi viết thư cho anh cũng để hâm nóng lại ký ức của chúng mình, rất thương tiếc còn đâu ngày tháng cũ. Nhìn lại những chặng đường dân tộc, tổ quốc và bản thân chúng ta đã đi qua, tôi nghe rạt rào xót thương mừng tủi, thấy lòng mình kiêu hãnh về lịch sử đấu tranh của giống nòi. Tổ quốc vẫn gần gũi với ta như vú mẹ từ thuở sơ sinh. Anh Lê Văn đã ra đi, nhưng những đóng góp tích cực và cống hiến của chúng ta cho tổ quốc khi anh Le Văn còn sống vẫn còn đó. Hẳn nhiên nó không phải là những gì ghê gớm lắm, to tát lắm, nhưng những cống hiến ấy không thể bị xóa mờ qua năm tháng trong tâm hồn của chúng ta.

  

 Anh Nhất, mình xa nhau lâu quá, thời gian có thể làm tàn phai những gì đáng nhớ giữa chúng ta .Chiến tranh và cuộc sống đã xô giạt chúng ta đến bến bờ xa lạ. Dù sao đi nhữa chúng ta không thẻ nào quên được có một thời chung ta cùng chung lí tưởng.Tôi hy vọng anh đồng ý: Dù cảnh trang lịch sử của đất nước hôm nay tốt hay xấu chúng ta cũng có một phần trách nhiệm với tổ quốc. Phải không anh?....

Vô cùng tha thiết


Đào Như

Oak park, Illinois, USA

Sept/07/04



Trong thực tế, một người tận mắt chứng kiến cảnh chiến xa CS chạy vào dinh Độc Lập ngày 30-4-1975, kể lại đầu đuôi câu chuyện cho người viết bài nầy rất rõ ràng và hoàn toàn khác với sách vở CS đã viết. Đó là giáo sư tiến sĩ Đỗ Văn Thành, hiện nay đang giảng dạy tại đại học Oslo, Na Uy (Norway).
Đến nay, đối với đồng bào ở trong nước và cộng đồng người Việt ở hải ngoại kể từ 30-4-1975, sau 45 năm, những ngày ấy, những năm tháng ấy, không bom đạn trên đầu, nhưng sao trong lòng của mỗi chúng ta cứ lo âu, xao xuyến, sục sôi những chuyển đổi. Không sục sôi chuyển đổi sao được, những tiến bộ Khoa học Công nghệ 4.0, nhất là sự tiến bộ của điện toán, của hệ thống truyền thông, thông tin vượt tất cả mọi kiểm soát, vượt mọi tường lửa, thế giới phô bày trước mắt loài người, trước mặt 90 triệu đồng bào Việt Nam, những cái hay cũng như những cái dỡ của nó một cách phũ phàng.
“Bà X khoảng bốn mươi tuổi, hiện đang sống với chồng và con gái trong một căn nhà do chính họ làm chủ, ở California. Bà nói thông thạo hai thứ tiếng: Anh và Việt. Phục sức giản dị, trông buồn bã và lo lắng, bà X tuy dè dặt nhưng hoàn toàn thành thật khi trả lời mọi câu hỏi được đặt ra. “Bà rời khỏi Việt Nam vào năm 1980, khi còn là một cô bé, cùng với chị và anh rể. Ghe bị cướp ba lần, trong khi lênh đênh trong vịnh Thái Lan. Chị bà X bị hãm hiếp ngay lần thứ nhất. Khi người anh của bà X xông vào cứu vợ, ông bị đập búa vào đầu và xô xuống biển. Lần thứ hai, mọi chuyện diễn tiến cũng gần như lần đầu. Riêng lần cuối, khi bỏ đi, đám hải tặc còn bắt theo theo mấy thiếu nữ trẻ nhất trên thuyền. Chị bà X là một trong những người này.
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.