Hôm nay,  

Thầy…! Trong Ký Ức Của Con

14/06/202115:19:00(Xem: 6377)
Thay Dong Chon
Nhất Tâm Đảnh Lễ Tự Lâm Tế Chánh Tông Tứ Thập Tam Thế, Bình An Đường Thượng, Húy thượng ĐỒNG hạ CHƠN, Hiệu Minh Chiếu, Tự Thông Thiện Hòa Thượng Ân Sư Giác Linh.



Nước Úc đã bước vào tiết Thu, khí trời lạnh, những chiếc lá đang đổi sang màu, cơn mưa đầu mùa làm lòng người se lại. Nhận tin báo từ quê nhà Thầy đã viên tịch, lòng con đau nhói vì không về được để đảnh lễ Kim Quan nhục thân Thầy, thọ tang Ân Sư Giáo Dưỡng. Nơi phương trời viễn xứ, con hướng về ngôi Chùa Bình An, Giác Linh Đài tâm tang thọ phục.


Nhất Tâm Đảnh Lễ Tự Lâm Tế Chánh Tông Tứ Thập Tam Thế, Bình An Đường Thượng, Húy thượng ĐỒNG hạ CHƠN, Hiệu Minh Chiếu, Tự Thông Thiện Hòa Thượng Ân Sư Giác Linh.


Ngày…tháng…năm 1986.


Đàn Giới Sa Di tổ chức tại Tổ Đình Thiên Bình sau ba ngày kết thúc, con về lại bổn tự Chùa Giác Hoàng đảnh lễ Bổn Sư, và sau đó xin được về Chùa Bình An nương nơi Thầy học kinh luật. Ngày ấy, đất nước Việt Nam trong thời kỳ bao cấp… việc đi lại khó khăn, luật tạm trú rất là nghiêm khắc. Thầy không quan ngại mọi việc, chấp nhận chúng con về chùa nương tựa tham học kinh điển. Thời đó; việc dạy và học kinh luật bằng phương thức gia giáo, mỗi người một quyển, không bảng phấn, không bút mực, Thầy dạy tới đâu chúng con dò theo tới đó, rồi mỗi người thuật lại theo ngữ nghĩa Thầy đã truyền đạt. Giờ học đầu tiên của ngày đầu, Thầy dạy cho chúng con là Sa Di Luật Giải, một bộ luật hầu hết những chú sa di đều phải học. Phương thức dạy của Thầy, tạo ra một sinh động trong tâm thức học trò bằng cách giải nghĩa tường tận, qua những câu chuyện duyên khởi ý nghĩa cụ thể của giới. Trong ý niệm ngày đầu trong con thật là vui sướng, vì: được học, được ở, được ăn và được sống an bình chung nhiều huynh đệ với nhau trong tình thương của Thầy. Niềm vui ấy chưa tận hưởng trọn vẹn, mười giờ tối hôm sau công an đến kiểm tra hộ khẩu, ngay trong đêm đó, chúng con phải khăn gói ra đi về lại bổn tự. Đảnh lễ Thầy, dắt xe đạp đi, Thầy tiễn chân chúng con ra khỏi cổng chùa, Thầy không cần được nổi lòng… và Thầy bậc khóc òa thốt lên tiếng than lớn “chán đời! thầy tu mà tu học cũng không được”. Chúng con lặng lẽ dắt xe đi, Thầy âm thầm đứng đó trong bóng tối mờ mịt, khuất dần trong bóng đêm …


Ngày…tháng…năm 1988.


Thời gian thắm thoát trôi qua, những quy định của những định chế xã hội cũng được nới lỏng, việc tạm trú, tạm vắng dễ dàng hơn, chúng con trở lại nương nơi Thầy học đạo. Lần này huynh đệ đồng lớp của chúng con về học đông hơn: Vạn Đức từ Kontum, Nhuận Toàn từ chùa Thiên Trúc, Đồng Phước từ chùa Gia Khánh, Đồng Hiện từ chùa Bạch Sa và Giác Tín từ chùa Giác Hoàng. Những năm tháng dư vọng của sự nối tiếp thời kỳ bao cấp chấm dứt, cuộc sống tu sĩ trong chốn thiền môn không sao không khỏi sự thiếu thốn. Năm huynh đệ chúng con và ba vị đệ tử của Thầy là: Giác Hiệp, Giác Quảng, Giác Hiển cùng Thầy Thị Quả, Thầy Đồng Văn sau khi tốt nghiệp khóa 1 Trường Cao Cấp Phật Học Cơ Sở II tại thành phố Hồ Chí Minh trở về tổng cộng mười người. 


Năm huynh đệ chúng con cùng học bộ Sa Di Luật Giải; Vạn Đức, Nhuận Toàn, Đồng Phước tiếp nhận sự truyền đạt của Thầy nhanh hơn, con thì chậm, nhưng Thầy vẫn ôn tồn, từ hòa dạy để con theo kịp huynh đệ, cùng nhau học. Lâu lâu Thầy vui, đùa với anh em chúng con vài câu trong lúc học mệt mỏi “thằng Giác Tín sinh năm  Mậu Thân pháp danh của nó Vạn Phước, Vạn Phước Phu Nhân Chi Thần, nó học chậm nhưng mà chắc” Thầy vừa nói vừa cười hì hì...xong bộ Sa Di Luật Giải tiếp theo là những bộ kinh như: Nhị Khóa Hiệp Giải, Di Đà Sớ Sao…trình độ nội điển và hán ngữ không đồng với nhau nên việc dạy của Thầy không khỏi vất vả. Thầy vẫn vui vẻ, kiên nhẫn dạy chúng con với tất cả tận tâm chứa đựng tình cảm Thầy Trò. 


Chùa Bình An thời đó; nghèo! ruộng đất không nhiều. Huynh đệ chúng con không về nương ở tu học, mùa lúa thu hoạch đủ Thầy và đệ tử sống giáp năm. Nghèo khổ thì có nghèo khổ, vì sau cuộc chiến Nam Bắc phân tranh kết thúc 1975, đến thời kỳ bao cấp. Cuộc diện chính trị Việt Nam khép kín, đất nước nghèo, người dân khổ, đời sống tu học của người tu sỹ Phật giáo gặp nhiều gian nan. Nhưng vui cũng có vui vì ý nghĩa “Lợi Hòa Đồng Quân” trong Lục Hòa Thầy luôn dạy chúng con bằng thân giáo. Bữa cơm thường nhật ngày đó rất là đạm bạc, phần ăn của Thầy không khác phần ăn của chúng con, cũng cơm và tô rau muống, nấu canh không giống canh, um không giống um, nghĩa là lấy cái chấm tương, lấy nước làm canh, hôm nào có thí chủ phát tâm về chùa nấu, hôm đó coi như là được ăn giỗ. Cuộc sống bình dị của Thầy thật đơn giản, không câu nợ, không cầu kỳ, không khó tánh nhưng không dễ dãi. Thỉnh thoảng Thầy gọi chúng con lên uống trà cũng là lúc Thầy dạy Thiền Môn Quy Củ. Đôi khi Thầy cũng đem vài chuyện thế sự Thầy gặp phải ra kể làm luân khởi tư lương cho đời sống tu tập, có chuyện ngang trái Thầy lại thở dài bằng hai chữ “CHÁN ĐỜI”. 


Vườn chùa cũng không rộng lắm, có vài khoảng đất trống có thể trồng trọt được, những giờ rảnh rổi, Thầy cùng chúng con ra vườn cuốc đất trồng rau. Mùa hè oai bức của xứ Miền Trung Bình Định, chùa có năm mười cây dừa, Thầy bảo chúng con leo lên hái xuống uống cho khỏe. Thầy Vạn Đức nói “cái dụ này con chịu thua”  Thầy vừa nói và cười trong niềm vui đùa “Mầy con ngựa mà trèo gì, ở đây tới bốn con khỉ (Giác Hiệp, Giác Quảng, Giác Tín, Đồng Phước) lo gì không ai trèo” tất cả đều cười oài lên.  Ngoài thời gian Thầy dạy cho chúng con học, Thầy còn nhận lời thỉnh giáo giới cho chư Ni ở chùa Tâm Ấn, dạy luật cho quý chú tại chùa Long Khánh và vài nơi khác. Phượng tiện cá nhân đi lại trong xã huyện, duy nhất phần nhiều trong chốn thiền môn thời đó là chiếc xe đạp, Thầy đạp đi dạy, đi ứng phó pháp sự, Thầy đi xin gạo về để chúng con có cơm mà ăn. Những hình ảnh khả kính đó vẫn in trong tâm trí khi có dịp kể về Thầy. 


Ngày...tháng...năm 1989.


Ngày 7 tháng 11 năm 1981, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam thành lập cho đến năm 1988, Tỉnh Giáo Hội Tỉnh Bình Định chưa mở được đàn giới để những người tu sĩ của tỉnh thọ giới. Năm Mậu Thìn (1988), Cơ duyên đã đến, Tỉnh Giáo Hội ra Thông Tư gởi đi, ngày 6,7,8 tháng 4 năm Kỷ Tỵ, tức vào những ngày 10,11,12 tháng 5 năm 1989, chính thức khai giới trường, chúng con về văn phòng Giáo Hội xin hồ sơ để đăng ký thọ giới. Một tháng trước khi đăng đàn thọ giới, Thầy ôn lại cho chúng con toàn bộ kinh luật đã dạy để chuẩn bị cho ngày khảo hạch và khuyên bảo, quý chú trước thọ đại giới, phải sám hối để tội chướng tiêu trừ, thọ giới mới đắc giới, và không nên đi ra ngoài nếu không có duyên sự chính đáng. Thầy sợ chúng con ra ngoài nhiều, tâm ý sẽ phan duyên với cảnh trần ảnh hưởng cho đạo nghiệp. Ngày giờ đã đến, Thầy không cho tự đạp xe đi đến giới trường, dù chặng đường đó, tuần lễ ba lần hàng đêm, chúng con đạp xe đi đến trường học cấp ba, chương trình bổ túc văn hóa. Thầy thuê một chiếc xe lam ba bánh chở chúng con, biết rằng chùa tiền bạc thiếu thốn. Tâm của Thầy là thế, tình của Thầy dành cho chúng con bao la vô cùng. Thế gian, ngoài Ba Mẹ ra không ai lo con cái như vậy. Trong đạo, ngoài vị Thầy Bổn Sư thế độ nuôi dưỡng, dạy dỗ mong sao đệ tử mình lớn khôn đầy đủ đạo lực, mai sau nối dòng Tổ nghiệp. Nhưng với Thầy, hình ảnh Thầy trong ký ức của con thật sâu đậm, dòng máu đạo nghiệp trong con, cũng là phần nào đó trong dòng máu đạo nghiệp của Thầy. Ngày con trở về thăm lại quê hương đất tổ sau thời gian dài, lưu sống hành đạo nơi xứ người. Thăm chùa, thăm Thầy vào một đêm..! không gian yên tĩnh. Thầy vẫn như ngày nào, giọng nói đó, nét mặt tươi cười một thuở vẫn nguyên ban sơ, tuy thân tứ đại có phần suy kém. Thầy hỏi han về cuộc sống hành đạo của con, và con kể cho Thầy nghe, Thầy vui lắm…thời gian cũng đã về khuya, con xin phép Thầy ra về, Thầy tiễn chân con bên hành lang chùa, trời đổ cơn mưa lớn hạt, con vội vả lên xe, Thầy vẫn đứng đó như hình ảnh ngày nào, xe lăn bánh, cơn mưa như trút nước, xin màn đêm ghi lại giùm tôi bóng hình của Thầy trong tôi hằng luôn tôn kính. 


Melbourne Úc quốc

Chùa Giác Hoàng

Đệ Tử Thích Giác Tín




tại Khách sạn Ala Moana Holtel, Honolulu, Hawaii với sự tham dự hơn 500 chư tôn Giáo Phẩm, chư tôn đức Tăng Ni và Phật tử học viên về từ khắp các Tiểu Bang Hoa Kỳ, Canada, Âu Châu
Chuyến thăm Bắc Hàn của tổng thống Moon Jae-in đã mở ra một trang sử mới cho tương lai của Đại Hàn. Kể từ khi hiệp ước đình chiến được ký kết giữa 2 miền Nam và Bắc Hàn vào năm 1953, ngòi nổ của chiến tranh tưởng chừng có thể bộc phát vào bất cứ lúc nào
«Bài sưu tầm tên gọi, bí danh và bút danh của Hồ Chí Minh qua các thời kỳ» trên trang báo Điện tử của Đảng Cộng sản Việt nam ngày 07-10-2015, từ tên khai sanh Nguyễn Sinh Cung tới tên cuối cùng là Trần Dân Tìên, tự nó có giá trị như một văn kiện chánh thức, vì của đảng cộng sản, xác nhận 175 tên gọi khác nhau đó, thật sự, là tên của một người. Đó là Nguyễn Sinh Cung, Nguyễn Tất Thành, …Hồ chí Minh.
Người ta gọi ngày 30 tháng tư năm 1975 là ngày đứt phim, ngày đổi đời, ngày mất nước, ngày quốc hận. Điều nào cũng đúng. Thân phận của mình mà còn không biết có yên thân không thì còn nghĩ gì tới nghiên cứu. Nghiên cứu làm sao được khi tài liệu không có. Tin tức, số liệu được công bố thì toàn là những bịa đặt
Dạ tiệc gây quỹ lần thứ bẩy ngày 23 tháng 9, từ 5:30 chiều đến 11 giờ tối, tại Rose Center, Westminster -- hơn 93 ngàn bịnh nhân ở những vùng quê hẻo lánh VN đã được hội Project Vietnam khám bịnh, khám mắt, chữa răng, phát mắt kiếng, và thuốc chữa bįnh
tất nhiên, tui cũng vui luôn. Chỉ có điều đáng tiếc, và cũng là chuyện đáng buồn, là riêng ông Trần Đại Quang mới góp có 19 tỷ đồng (cái gông mới ngắn lại được một phân) thôi thì đã chuyển qua từ trần – vào hôm 21 tháng 9 vừa qua
Tôi đến Đền Thánh Đức Mẹ Fatima, vào một sáng tháng Sáu, sau khi viếng thủ phủ Lisbon của Bồ Đào Nha
TRIỂN LÃM - Tờ báo tiếng Việt đầu tiên tại hải ngoại, xuất bản tháng 11 năm 1975 - Tờ báo tiếng Việt đầu tiên tại quận Cam - Cuốn niên giám điện thoại đầu tiên
Xin giới thiệu bài 2 trong tập Thánh Nữ Chân Kinh. Bài nầy có tựa là Đệ Nhị Thánh Mẫu Ca: Cũng như bài trên, đây là lời khuyên dạy đàn bà con gái.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.