Hôm nay,  

Đông Du

01/09/202300:00:00(Xem: 9344)

tuong nang tien


Theo Bách Khoa Toàn Thư Wikipedia:
   
Phong trào Đông Du là một phong trào cách mạng ở
Việt Nam đầu thế kỷ 20. Phong trào có mục đích kêu gọi thanh niên Việt Nam ra nước ngoài (Nhật Bản) học tập, chuẩn bị lực lượng chờ thời cơ cho việc giành lại độc lập cho nước nhà…
   
Ngày 20
tháng Giêng năm Ất Tỵ (1905), Phan Bội Châu, Đặng Tử Kính, Tăng Bạt Hổ (một thành viên cũ của phong trào Cần vương, làm người dẫn đường) xuống tàu thủy tại Hải Phòng, theo đường biển bí mật sang Quảng Đông, Hồng Kông, Thượng Hải rồi đi tới Hoành Tân (Yokohama) thuộc Nhật Bản…”
   
“Để làm tan rã phong trào Đông Du, Pháp còn ký với
Nhật hiệp ước vào tháng 9 năm 1908. Theo đó, Pháp cho Nhật vào Việt Nam mua bán; đổi lại, Nhật sẽ không cho các nhà cách mạng và lưu học sinh Việt Nam ở Nhật nữa.
   
Như vậy (là) kể như xong!
   
Tới cuối thế kỷ, cũng từ Hải Phòng, Việt Nam lại phát động một phong trào Đông Du khác, ngó bộ rầm rộ và khí thế hơn nhiều. Đợt này thì Bách Khoa Toàn Thư Wikipedia (Hà Nội) chưa kịp cập nhật, tôi cũng chỉ biết được (phần nào) là nhờ nghe qua nhà văn Bùi Ngọc Tấn.
   
Ông kể lại mẩu chuyện nhỏ của một vị bác sĩ, một ông công nhân và một chàng thủy thủ – cả ba đều là nhân viên thuộc công ty Liên Hợp Hải Sản Biển Đông – và chuyến Đông Du ngắn ngủi của họ (vào năm 1990) khi Nhà Nước Việt Nam vừa quyết định mở cửa ra với thế giới bên ngoài:
   
“Ngày thứ ba ở Nhật là chủ nhật rồi. Các cửa hàng Ô sa ka vẫn đóng cửa. Không mua được gì. Leo lên boong đứng vơ vẩn, gặp Đay to sù như một con gấu nhô từ cầu thang lên cùng với một thuỷ thủ.
   
“Sáng nay trực à, bác sĩ ?”
   
“Không. Các ông đi đâu đấy?”
   
“Lên phố xem có cái gì không ? Nằm mốc ở tầu làm gì.”
   
“Chờ tí. Tôi đi với.”
   
Bá chạy vội về buồng khoác cái túi giả da toòng teng một bên vai chạy ra... Ba người đi. Đi xem phố xá, xem người Nhật sống như thế nào. Và cũng cầu may, biết đâu mua được thứ gì đó. Gọi là lang thang nhưng đâu phải vô mục đích. Và vẫn cứ dán mắt vào các nhà hai bên phố.
Người ta cũng mở cửa đấy nhưng không bán hàng. Và nhà nào cũng có một túi ni lông đen để ở lòng đường sát với vỉa hè. Túi đựng rác. Bá tò mò nhìn trước nhìn sau không có ai ngoài hai người bạn, cúi xuống mở một túi ra xem: Ba chiếc cốc pha lê cực đẹp. Có chân, hoa văn vàng óng, và những mảnh vỡ của chiếc cốc thứ tư. Rác là như vậy đấy. Anh nhặt ba chiếc cốc đút vào chiếc túi tuỳ thân, mặc cho hai người bạn đồng hành chế giễu:
   
“Thưa bác sĩ, sao bác sĩ mất vệ sinh thế. Nhặt ở túi rác đem về uống.”
   
Bá cười:
   
“Đẹp thế mà chỉ vỡ một chiếc họ đã vất đi thì phí quá. Đem về bày tủ li.”
   
Đúng là vậy. Anh không tham. Chỉ thấy không thể để ba chiếc ly pha lê nằm trong đống rác. Một sự lãng phí chẳng thể nào tha thứ.
   
Bỗng nhiên hiện ra trước mắt ba người một bãi rác khổng lồ. Tủ đứng, tủ nằm. Xa lông. Máy giặt. Nồi cơm điện cũ. Rồi ghế xoay. Bá ngồi ngay lên chiếc ghế xoay. Xoay một vòng. Bốn bánh xe dưới chân đưa anh đi một quãng. Chà chà. Thật mê ly. Có cái ghế xoay này đặt trong nhà ngồi thư giãn, xem sách, đọc báo hay nghe nhạc thật tuyệt vời. Bảo đảm cả thành phố không ai có.
   
Đang thả tâm hồn bay bổng, nhìn theo Đay và Niệm đi sâu hơn nữa vào bãi rác, bỗng nghe tiếng reo, anh giật mình đứng lên bước nhanh về phía họ: Một đống quạt bàn hiện ra trước mắt.

Cái nào cũng còn nguyên bảo hiểm, cánh, cả giây và phích điện dù có chiếc bảo hiểm đã rỉ và bầu thì đã tróc sơn. Chỉ nhìn nét mặt họ, anh cũng biết anh không có phần ở đống quạt cũ này. Vì lúc họ tìm ra, anh không có mặt, anh còn đang đu đưa với chiếc ghế xoay. Cái ghế xoay chết tiệt! Đay cùng anh thuỷ thủ nhặt quạt bàn xếp thành một hàng rồi tìm ra một chiếc gậy gỗ xâu gần chục chiếc quạt lại.
   
Thật sung sướng khi nghe Niệm nói: “Phần ông Bá một chiếc, thôi, cứ xâu cả vào đây, khiêng về tầu, ông ấy lấy sau.”
   
Thật là một tấm lòng vàng…
   
Khiêng vác trên vỉa hè, gặp người Nhật và cả những người mắt xanh mũi lõ sải bộ trên hè, không ai bảo ai cả ba đều cúi gầm mặt. Niệm kêu to, trấn an bạn và cũng là để trấn an chính mình:
   
– Làm đéo gì mà xấu hổ. Họ biết mình là ai.
   
Rồi trừng mắt hỏi Bá:
   
– Ông là người nước nào. Tôi là người Ma lai xi a. Quốc tịch Ma lai xi a chính hiệu.
   
Đay cười nhạt:
   
– Thôi. Cứ nói Căm pu chia cho xong. Dân Mã lai nó đếch thèm những thứ này đâu. Sang đây mới thấy mình là cuối hạng người. Có phải không bác sĩ ?
   
Bá gật đầu:
   
– Đúng là cuối hạng người…
   
Ấy thế mà khi về đến Việt Nam chúng mình lại là nhất. Chúng mình là đầu hạng người. Ai nhìn chúng mình cũng nể. Ai cũng thèm được như chúng mình. Chúng mình chon von chót vót…

Khi anh có quyết định xuống tầu vận tải nước ngoài, dù vẫn còn ở trên bờ, dù anh vẫn y xì là anh, chẳng có tí gì thay đổi, anh đã thấy mọi người nhìn anh bằng con mắt khác rồi, anh đã là một con người khác, chính anh cũng cảm thấy mình đã là một con người khác (và vợ anh càng khác nữa).
   
Ngay chuyến này thôi, với những ngày vắng mặt ở Việt Nam để đi sang nước Nhật này, trở về với mấy món hàng cũ trong tay, anh thực sự ở một mặt bằng khác, một nấc thang giá trị khác, một tầng lớp khác, một tầm cao khác. Đúng. Chỉ cần vắng mặt ở Việt Nam ít ngày thôi rồi trở về, anh đã là một con người khác”
(Bùi Ngọc Tấn. Biển Và Chim Bói Cá. Hội Nhà Văn. Hà Nội: 2008, 458 – 461).
   
Cuộc Đông Du thứ hai, xem ra, quá khoẻ khi so với chuyến đi hồi đầu thế kỷ. Lần này, chả ai phải đi chui nữa. Dân Việt đường đường chính chính dong thuyền qua đến xứ người. Họ đi từ một đất nước Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc, và được trang bị bởi Chủ Nghĩa Bách Chiến Bách Thắng Vô Địch Muôn Năm nên chả còn phải cần cầu viện ai hay cầu học (thêm) điều gì nữa ráo.

Chỉ cần đi ra nước ngoài vài hôm, rồi “trở về với mấy món hàng cũ trong tay” là nghiễm nhiên đã “thực sự ở một mặt bằng khác, một nấc thang giá trị khác, một tầng lớp khác, một tầm cao khác.”
   
Đúng là một phép lạ!
   
Phép lạ này cũng đã được ông (cựu) chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết phát biểu tại Đại Hội Việt Kiều, vào hôm 22 tháng 11 năm 2009 (“Chưa bao giờ mình lại cất cao tiếng nói như thế … và vị thế của mình bây giờ cũng ngang hàng với người ta, nói năng cũng đúng mức, đàng hoàng.”) và đã được ông TBT kiêm CTN Nguyễn Phú Trọng ân cần nhắc lại vào hôm 26/01/2017: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay.”
   
Trước đó, ý tưởng lạc quan tương tự cũng đã được tiến sĩ Phạm Duy Nghĩa diễn đạt cách khác (bóng bẩy và thâm thúy hơn) là “bay cùng đàn sếu,” khi ông đề cập đến chuyến công du của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, tại Nhật Bản, hồi năm 2006, với rất nhiều hy vọng và tin tưởng: “… về một nước Việt Nam sải cánh bay cùng các quốc gia đồng văn.”
   
Sự hy vọng, và tin tưởng này (e) khó có thể trở thành tựu dưới chế độ hiện hành. Làm sao chúng ta có thể “bay cùng đàn sếu” khi người dân Việt vẫn còn cúi mặt xuống những bãi rác và quí vị lãnh đạo thì túi đã nặng chặt Mỹ Kim mà mắt vẫn cứ láo liên hăm hở cố… kiếm thêm chút nữa!
 
– Tưởng Năng Tiến

Kandy là một thành phố cổ, là nơi có chiếc răng xá lợi Phật an vị trong một cái tháp vàng tôn thờ tại chùa Kandy. Chùa nằm trong cung điện hoàng gia của cựu Vương quốc Kandy, đây là ngôi đại già lam được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới, là thành phố hành hương rất nổi tiếng của Phật giáo. Mổi năm có triệu du khách từ khắp nơi trên thế giới đến viếng.
Sri Lanka (Tích Lan) là một đảo quốc nhỏ. Dân số khoảng 21 triệu. Thủ Đô của Sri Lanka là thành phố Colombo. Phật giáo được truyền đến Sri Lanka từ thế kỷ thứ III trước Tây Lịch, Trong suốt 2,000 năm Phật giáo được xem là Quốc Giáo.Phật Giáo Sri Lanka ngày nay là Phật Giáo Theravada. Bất hạnh thay đến năm 1983 thì sanh ra nội chiến, kéo dài cho đến năm 2009 mới chấm dứt. Suốt 25 năm nội chiến người ta ước đoán có hơn 100,000 người đã chết. Hòa bình vãn hồi, nhờ Trung Quốc viện trợ mạnh mẽ, họ xây dựng hạ từng cơ sở, phát triển đường xá, khách du lịch ồ ạt đến Sri Lanka.
Điều 9 của HĐ Paris 1973: Chính phủ Hoa Kỳ và Chính phủ Việt-nam Dân chủ Cộng hòa cam kết tôn trọng...a) Quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam là thiêng liêng bất khả xâm phạm và phải được các nước tôn trọng. b) Nhân dân miền Nam Việt Nam tự quyết định tương lai chính trị miền Nam thông qua tổng tuyển cử thực sự tự do và dân chủ có giám sát quốc tế.
Đã có nhiều bằng chứng cho thấy là nền văn học Việt nam với nguồn gốc xa gần đang bị chế độ chính trị làm cho biến dạng hoặc mai một. Những tác phẩm văn học giá trị một thời đều bị coi là có tính cách phong kiến hoặc tư bản đồi trụy, cấm phổ biến. Nhưng lại nẩy sinh những loạt văn chương một chiều để nhất thời tuyên truyền tôn xưng chủ thuyết độc đoán, phục vụ chế độ.
Các giáo hữu Tin lành, thường dùng văn kiện suy nghĩ và sanh hoạt chánh là cuốn Thánh Kinh Bible, và lời dạy bốn sách giảng Tin lành – Évangiles, của bốn tông đồ của Jêsus. Do đó, sanh hoạt tại các Nhà Thờ đến từ Phong trào Cải cách của thế kỷ thứ 16 đều được chuyển qua Việt ngữ dưới tên gọi dịch dưới tên các Nhà Thờ Tin lành
Đâu là hướng đi của Phật Giáo Việt Nam tại Mỹ? Trả lời đầy đủ cho câu hỏi trên cần đến công phu nghiên cứu của nhiều người. Vì thế, bài viết này xin được xem là suy nghĩ và gợi ý của một cá nhân.
Thật là một đặc ân được có mặt trong diễn đàn ngoại giao kinh doanh và khoa học và những người vì các vấn đề thế giới đã tập trung khá nhiều năm để thảo luận làm thế nào chúng ta có thể tiến tới sự thịnh vượng và hòa bình.
Trong lời thưa cuốn Thiền Tập Trong Đời Thường tác giả còn mong sách sẽ giúp độc giả cảm thọ hạnh phúc hơn và tự chữa trị nhiều bệnh tâm thân. Thiền không những đã vuợt không gian, thời gian mà còn vuợt cả đạo giáo và thể chế.
vào Thiên niên kỷ Thứ Ba của toàn cầu hoá, để thấy rằng biên giới chánh trị giữa các quốc gia chỉ là một làn ranh ảo. Không hề có biên giới trong toàn hệ sinh thái Sông Mekong. Mekong không chỉ là mạch sống của hai dân tộc Việt Khmer mà còn là sợi dây nối kết
Một nghiên cứu mới đây do Mayo Clinic và American Medical Association thực hiện và công bố trên Archive of Internal Medecil ngày 20 tháng 8 năm 2012 cho hay cứ hai y sĩ thì một người than bị kiệt sức vì việc làm của mình. Tỷ lệ này cao hơn so với các nghề nghiệp khác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.