Hôm nay,  

Chúng bắt để làm gì?

06/03/202409:18:00(Xem: 3577)
Chính luận

phson

Trong tháng Hai vừa qua, cái chết đau thương, lẫm liệt của nhà đối kháng người Nga Alexei Navalny trong tù đã gây sầu thảm, phẫn nộ cho toàn cộng đồng tiến bộ nhân loại. Đối với người Việt Nam tiến bộ, nỗi đau lại càng sâu thêm khi trong ngày cuối cùng của tháng Hai, ngày 29, nhà cầm quyền độc tài Hà Nội bắt đi cùng lúc hai nhà đấu tranh kiên cường. Làn sóng truy lùng, bắt bớ có tính càn quét những cá nhân có tư tưởng chống đối chế độ độc tài đã diễn ra từ nhiều năm qua. Song, vụ bắt bớ ngày 29 tại Hà Nội có thể đã gây ra một cảm giác bi quan trong dư luận, rằng đây là những người đấu tranh cuối cùng.
    Phải chăng thế giới dân chủ, như nhiều người nghĩ, đang suy thoái và có khả năng bị thất bại trước các lực lượng độc tài, phản dân chủ?
    Phải chăng công cuộc đấu tranh giải cộng, cứu nước của người Việt Nam đang bị đè nát, lâm vào ngõ cụt?
    Để trả lời cho câu hỏi đầu, có lẽ nhiều độc giả sẽ khẳng định ngay: đúng thế, thế giới dân chủ đang thoái trào. Nhưng một nghiên cứu nghiêm túc có tính khoa học của giới học giả chính trị mới đây đã chứng minh điều ngược lại: Chế độ dân chủ không hề thoái trào mà còn tỏ ra rất bền bỉ, dẻo dai trước các tấn công, thách thức của các cá nhân, lực lượng phi dân chủ.
    Đó là kết luận của hai học giả, Steven Levitsky, Giáo sư Đại Học Harvard, Lukan A. Way, Giáo sư Đại Học Toronto, trong một nghiên cứu, Democracy's Surprising Resilience,  được giới thiệu và tóm tắt rõ ràng với các con số, chứng minh cụ thể trên tạp chí chuyên nghành về dân chủ, Journal of Democracy số tháng Mười năm 2023.
    Về câu hỏi thứ hai liên quan tới Việt Nam, người viết cũng có suy nghĩ lạc quan và tích cực tương tự như bản nghiên cứu vừa đề cập về tình hình dân chủ trên toàn thế giới.
    Lý do nào có thể đưa đến sự lạc quan trước tình trạng chính quyền độc tài gia tăng bắt bớ như đã và đang diễn ra tại Việt Nam?
    Ở đây, người viết xin đưa ra hai lý do.
    Thứ nhất, sự gia tăng bắt bớ cả về số lượng lẫn mở rộng phạm vi bắt bớ sang nhiều lĩnh vực dường như không liên quan trực tiếp tới chính trị, như các nhà hoạt động môi trường, các nhà nghiên cứu chính sách thân chính quyền, là dấu hiệu khách quan cho thấy tư tưởng bất mãn, chống đối chế độ độc tài đã thâm nhập sâu hơn và phát triển rộng hơn trong xã hội. Nếu so với số cá nhân bị bắt trong cuộc khủng bố vào đầu những năm 2000, phong trào chống đối ngày nay đã mạnh lên và lan tỏa gấp nhiều lần. Bài viết này không đủ khả năng để liệt kê hết những gương mặt chống đối nổi bật hiện nay. Số cá nhân bị chính quyền bắt luôn luôn chỉ là một phần nhỏ của cả khối người có cùng khát vọng, tư tưởng. Do đó, sự tiếp tục bắt bớ hay gia tăng bắt bớ còn cho thấy sự bế tắc, cùng quẫn của kẻ cai trị. Chúng muốn bắt để khủng bố dân chúng nhằm dập tắt sự chống đối ngay từ trong tư tưởng. Nhưng kết quả lại là điều ngược lại.
    Thứ hai, nói về truyền thống của người Việt Nam, chúng ta phải thừa nhận trong suốt hàng trăm hoặc nhiều ngàn năm tồn tại, ngoại trừ 20 năm Việt Nam Cộng Hòa, người Việt Nam chỉ biết chống người cai trị ngoại tộc (bất kể xấu, tốt) nhưng không hề biết đấu tranh, chống đối, phòng ngừa sự cai trị độc đoán, tàn ác của những kẻ nội tộc. Với một lịch sử như thế, những phong trào hay những cá nhân độc lập có tư tưởng chống đối chế độ độc tài cộng sản Việt Nam là một sự tiếp nối rất quí giá nhưng cũng vô cùng gian khó. Quí giá là bởi chúng ta có quá ít kinh nghiệm đấu tranh, chống đối kiểu này. Gian khó là vì những người đấu tranh vừa đồng thời phải đối mặt với một chế độ tàn ác, xảo quyệt vừa đồng thời phải chấp nhận sự cô độc do khối quần chúng rộng lớn không có truyền thống lịch sử chống độc tài nội tộc. Song, chính những yếu tố này lại chứng tỏ sức sống mãnh liệt, bền bỉ, quả cảm không thể dập tắt của những người Việt Nam có tư tưởng chống chế độ độc tài nội tộc do Đảng Cộng Sản Việt Nam duy trì.
    Trước khi kết thúc, người viết xin thuật lại câu chuyện của hai người đã bị nhà cầm quyền Hà Nội bắt và giam cầm trong những bối cảnh đen tối, khép kín gấp vạn lần hôm nay.
    Luật sư Trần Danh San (1937-2013), một trí thức Việt Nam Cộng Hòa, bị chính quyền cộng sản bắt năm 1977 sau khi ông có những hoạt động công khai chống đối sự độc tài, tàn ác của chính quyền. Trong tù, Luật sư Trần Danh San không chỉ vẫn giữ tư tưởng chống đối mà còn tổ chức làm báo truyền bá tư tưởng chống đối. Nhà cầm quyền đã dùng nhiều thủ đoạn dã man, hèn hạ hòng khuất phục ông. Các bạn tù kể rằng : « Sau những trận đòn chạm tới điểm chết, sau những tháng kiên giam nơi hầm tối của anh, viên cán bộ trưởng trại Phan Đăng Lưu có câu hỏi: Anh có ngừng chống đối không? Trần Danh San trả lời chắc chắn: Chống đối là điều tất nhiên! »
    Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện (1939-2012), sinh ra và lớn lên trên miền Bắc « xã hội chủ nghĩa », đã phải đi tù nhiều lần tổng cộng 27 năm vì có tư tưởng bất ưng, tố cáo bản chất độc tài, bất nhân của chế độ Hồ Chí Minh. Trong suốt 27 năm tù ròng rã, Nguyễn Chí Thiện không bao giờ được xã hội biết đến, chứ đừng nói nhắc đến. Thế nhưng, Nguyễn Chí Thiện vẫn có niềm tin như thế này:

Trong bóng đêm đè nghẹt
Phục sẵn một mặt trời
Trong đau khổ không lời
Phục sẵn toàn sấm sét
Trong lớp người đói rét
Phục sẵn những đoàn quân
Khi vận nước xoay vần
Tất cả thành nguyên tử.
(1976)

Hai nhân vật vừa kể, và rất nhiều người đáng kính khác, đã trở thành người thiên cổ, nhưng tinh thần, khát vọng mãnh liệt chống độc tài cộng sản của họ đã được truyền tiếp, một cách kỳ diệu, vào các cá nhân, lớp người của ngày hôm nay – những người đang bị bắt, đã bị bắt, đã lại bị bắt và có thể sẽ bị bắt. Bởi chừng nào chế độ Hà Nội còn tồn tại, « chống đối là điều tất nhiên ».

 

-- Phạm Hồng Sơn

05/03/2024

Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
Đúng vậy, sau gần nửa thế kỷ năm nhìn lại vẫn thấy biến cố 30.04.1975 xảy ra quá bất ngờ đối với toàn thể dân VN chúng ta. Bằng chứng hiển nhiên là rất nhiều cấp lãnh đạo VNCH trong chánh quyền và trong quân đội không ngờ được nên đành phải bị bắt đi tù cải tạo cả hàng chục năm để rồi chết dần mòn trong rừng thiêng nước độc. Nói chi đến người dân bình thường thiếu thông tin của cả 2 miền Nam Bắc tất cả không ai cảm thấy hoặc đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Sự thực này chúng ta có thể đọc thấy rõ trên các tài liệu của 2 miền.
Chúng ta chỉ cần vài thập niên để có thể tạo dựng lại một nền kinh tế lành mạnh và hiệu quả nhưng e sẽ mất đến đôi ba thế hệ mới loại bỏ dần được những thói hư (và tật xấu) vừa nêu. Vấn đề không chỉ đòi hỏi thời gian mà còn cần đến sự nhẫn nại, bao dung, thông cảm (lẫn thương cảm) nữa. Nếu không thì dân tộc này vẫn sẽ tiếp tục bước hết từ bi kịch sang bi kịch khác – cho dù chế độ toàn trị và nguy cơ bị trị không còn.
Ôn dịch Vũ Hán gây nên một cơn khủng hoảng chưa từng thấy trong khối các nước nghèo khó khiến 100 quốc gia trong số 189 thành viên IMF hiện đang cầu cứu cơ quan quốc tế này viện trợ khẩn cấp. Tưởng cần nên tìm hiểu bối cảnh của những quốc gia đang phát triển song song với các phân tích về tác động của khủng hoảng.
Đảng Cộng sản Việt Nam đã lộ rõ tâm địa chống dân chủ bằng mọi giá để kéo dài độc tài cai trị, làm giầu bất chính trên lưng người dân nhưng lại ngoan ngoãn cúi đầu trước hành động cướp đất, chiếm Biển Đông của Trung Cộng. Những việc này, tuy không mới, nhưng đã bung ra vào lúc đảng ra sức vận động cán bộ, đảng viên, kể cả cựu lãnh đạo và cựu chiến binh đóng góp ý kiến vào các Dự thảo văn kiện đảng XIII để khoe khoang.
Đại dịch Vũ Hán đang tàn phá Trung Hoa Lục Địa và toàn thể nhân loại. Tuy thế, tai họa này vẫn không giảm thiểu tham vọng bá quyền xâm lược của đảng CSTQ đối với Việt Nam qua các hoạt động tập trận, xâm phạm lãnh hải và vùng kinh tế cũng như hiếp đáp gây thiệt hại cho ngư dân Việt Nam.
Tôi (trộm) nghe nói rằng quân tử ba ngày mà không đọc sách thì diện mạo dơ dáng, và trò chuyện khó nghe. Tôi vốn bẩm sinh mặt mũi không mấy dễ coi, và chuyện trò vô cùng nhạt nhẽo nên (lắm khi) đến vài ba năm cũng chả nhìn đến một cuốn sách nào mà vẫn cứ sống phây phây – chả có (trăng) sao gì ráo trọi.
Sau ngày 30-4-1975 Bắc Việt Nam (NVN) chủ trương tiêu diệt triệt để tiềm lực NVN về nhân lực, về kinh tế và về văn hóa nhằm củng cố việc cưỡng chiếm Nam Việt Nam (NVN) và chận đứng Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) có thể hồi sinh ở NVN.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.