Hôm nay,  

Độc lập có rồi, Tự do đâu?

03/09/202410:55:00(Xem: 3219)
vn court

Một bài bình luận của báo Chính phủ CSVN hôm 2/9/2024 viết: “Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, đến nay chúng ta ngày càng có cơ sở vững chắc để khẳng định sự thật chúng ta đã trở thành nước tự do độc lập, người dân ngày càng ấm no hạnh phúc…”
    Những lời tự khoe nhân dịp kỷ niệm 79 năm (1945-2024) được gọi là “Tuyên ngôn độc lập” của ông Hồ Chí Minh chỉ nói được một phần sự thật, đó là Việt Nam đã có độc lập. Nhưng “tự do” và “ấm no hạnh phúc” vẫn còn xa vời. Bằng chứng là mọi thứ ở Việt Nam đều do đảng kiểm soát và chỉ đạo nên chính sách “xin cho” là nhất quán trong mọi lĩnh vực.

TỰ DO ĐÂU?
 
Trong lĩnh vực “tự do”, hai quyền “tự do ngôn luận-báo chí” và “tự do lập hội”được dành riêng cho các tổ chức và cơ quan của Chính phủ, Doanh nghiệp do nhà nước kiểm soát. Nhà nước độc quyền thông tin và tuyên truyền. Người dân chỉ có quyền “được thông tin” từ nhà nước mà không có quyền thực hành thông tin theo ý muốn.
    Đảng chính trị đối lập bị tuyệt đối cấm. Mọi manh nha thành lập đảng đều bị Công an ngăn chặn. Đảng cầm quyền chống phân chia quyền lực. Mọi hành vi bất bình, phản đối đều bị đàn áp thẳng tay.
    Ngay cả đến quyền “tự do tín ngưỡng, tôn giáo” cũng do nhà nước kiểm soát. Các tổ chức Tôn giáo không do nhà nước thành lập, hoặc ảnh hưởng đều bị làm khó khăn hoặc cấm hoạt động.
    Bằng chứng này đã xẩy ra đối với đồng bào Hmong trên Cao nguyên miền bắc Việt Nam, và Dân tộc vùng Tây nguyên. Khối Phật giáo Việt Nam thống nhất (Ấn Quang) của miền Nam Việt Nam thời Cộng hòa trước 1975 đã bị đàn áp dẹp tan là một bằng chứng.
    Ngay trong lĩnh vực Giáo dục, Nhà nước cũng buộc học sinh, sinh viên phải học môn Chủ nghĩa Cộng sản Mác-Lênin-Tư tưởng Hồ Chí Minh, và chính sách cai trị độc tôn của đảng. Đảng cũng đã dành những ưu tiên nhập học cho học sinh “con cái đảng viên”.
    Những hạn chế tự do này là nguyên nhân  xẩy ra tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, song song với “quốc nạn tham nhũng” trong cán bộ, đảng viên. Nguyên nhân của 3 “chứng bệnh” này là do cán bộ, đảng viên không còn tin vào hiệu lực và sức mạnh của Chủ nghĩa Mác-Lênin và  tư  tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh.
    Người dân cũng dã nhìn ra những sai lầm của đảng sau 30 năm chiến tranh huynh đệ tương tàn (1945-1975) làm tan hoang đất nước và gây thương vong cho trên 3 triệu người dân và thanh niên tuấn tú.
    Ngoài ra, đảng CSVN cũng phải chịu trách nhiệm về số từ 100 ngàn đến 200 ngàn người Việt chết trên đường vượt biển tìm tự do, sau khi quân Cộng sản chiếm miền Nam Việt Nam năm 1975.
    Quan trọng hơn là tình trạng “mất đoàn kết dân tộc” và “chia rẽ vùng miền” do đảng CSVN gây ra từ sau 1975 đã khoét sâu hận thù hơn bao giờ hết giữa “kẻ chiến thắng” và “người dân bị trị”. Tình trạng kỳ thị Nam-Bắc, bằng mặt mà không bằng lòng giữa những kẻ “kiêu ngạo Cộng sản” và dân thất trận miền Nam vẫn tồn tại sau 30 năm, dù đảng cầm quyền không thừa nhận.
    Đó là lý do của trên 5 triệu người Việt Nam đã bỏ nước ra đi tị nạn khắp nơi trên Thế giới. Và đó cũng là đầu mối tại sao người Việt tị nạn gọi ngày 30/4 hàng năm là “tháng Tư Đen”, hay “Ngày Quốc hận”.

ẤM NO-HẠNH PHÚC

Đảng cũng khoe đã đem lại “cơm no áo ấm và hạnh phúc” cho ngưới dân từ khi giành được độc lập, nhưng tại sao chỉ sau ngày ký Hiệp định Geneve chia đôi đất nước 20/07/1954, đã có hơn 1 triệu người dân miền Bắc di cư vào sống đời tự do ở miền Nam?
    Lý do vì họ không muốn sống dưới quyền cai trị sắt máu của đảng. Bằng chứng này được xác nhận trong Cuộc Cải Cách Ruộng Đất ở miền Bắc trong thời gian 1953-1955. Khoảng 200 ngàn người vô tội đã bị giết trong cuộc “cải cách đẫm máu” này. Có ước tính số người bị giết oan lên đến 500 ngàn.
    Nạn nhân nổi tiếng bị giết oan là bà Nguyễn Thị Năm (1953, quê ở Làng Bưởi, ngoại thành Hà Nội, là một địa chủ có công đóng góp tài sản cho Việt Minh trong kháng chiến chống Pháp. Bà nguyên là Hội trưởng Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam tỉnh Thái Nguyên. Trong cuộc Cải cách ruộng đất, bà bị nông dân địa phương đấu tố là địa chủ gian ác và bị xử bắn.
Bà còn được gọi là Cát Hanh Long vì đây là tên một hiệu buôn do bà làm chủ ở Hải Phòng.
    Nhiều cán bộ cách mạng, nhiều đơn vị bộ đội thường tá túc trong đồn điền của bà. Bà Nguyễn Thị Năm cũng từng nuôi ăn, giúp đỡ nhiều cán bộ Việt Minh sau này giữ những cương vị quan trọng như Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Lê Đức Thọ, Phạm Văn Đồng, Hoàng Hữu Nhân, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Tùng, Vũ Quốc Uy, Hoàng Thế Thiện, Lê Thanh Nghị...” (theo Bách khoa Toàn thư mở)

    Theo lời kể, ông Hồ Chí Minh biết rõ chuyện đau thương này nhưng “không can thiệp cứu mạng bà Năm”.
    Như vậy, có phải là đảng đã “ăn cháo đá bát” không? Người dân đâu có hạnh phúc dưới quyền cai trị hà khắc sai lầm của đảng ông Hồ. Và mặc dù nhân dân đã thoát vòng nô lệ của thực dân Pháp, nhưng lại bị tròng vào cổ chiếc xích “độc tài Cộng sản” cay nghiệt hơn.
    Ngày nay, 79 năm sau 1945, lời nói “không gì quý hơn độc lập, tự do” của Hồ Chí Minh chỉ đúng một nửa. Không ai phủ nhận Việt Nam đã có “độc lập”, nhưng “tự do” cho mọi người thì không. Quyền tự do chỉ dành cho đảng viên và những ai chịu  phục tùng lãnh đạo.
    Công bằng và Dân chủ cũng không dành cho mọi người. Đảng nắm hết để chia chác cho người thân, phe cánh. Quyền ứng cử và bầu cử cũng do đảng quyết định, thông qua Tổ chức ngoại vi của đảng lả Mặt trận Tổ quốc.
    Tất cả các cuộc bầu cử Hội đồng Nhân dân và Quôc hội phải được “hiệp thông” giữa các Tổ chức, hội đoàn và Mặt trận Tổ quốc. Tiêu chuẩn hàng đầu của các ứng viên là có lập trường chính trị vững vàng, phải tuyết đối trung thành và kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh.
    Thậm chí ngay trong học đường, các tổ chức sinh viên và học sinh cũng do Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh nắm giữ và điều hành để đào  tạo các “hạt giống đỏ” hậu duệ cho đảng.

KINH TẾ PHỤC VỤ AI?

Trên lĩnh vực kinh tế, Việt Nam Cộng sản thi hành chính sách gọi là “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Đó là “một nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, trong đó nhà nước giữ vai trò chủ đạo và có trách nhiệm định hướng nền kinh tế, với mục tiêu dài hạn là xây dựng chủ nghĩa xã hội.”
    Bách khoa Toàn thư  mở viết: “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là sản phẩm của thời kỳ Đổi Mới (1986) , thay thế nền kinh tế kế hoạch  (bao cấp thời Sô viết)  bằng nền kinh tế hỗn hợp hoạt động theo cơ chế thị trường. Những thay đổi này giúp Việt Nam hội nhập với nền kinh tế toàn cầu. Cụm từ "định hướng xã hội chủ nghĩa" mang ý nghĩa là Việt Nam chưa đạt đến chủ nghĩa xã hội mà đang trong giai đoạn xây dựng nền tảng cho một hệ thống xã hội chủ nghĩa trong tương lai. Mô hình kinh tế này khá tương đồng với mô hình kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa (socialist market economy) của Đảng Cộng sản Trung Quốc, trong đó các mô hình kinh tế tập thể, nhà nước, tư nhân cùng tồn tại, và khu vực nhà nước giữ vai trò chủ đạo của nhà nước.
    Đây chính là chủ trương “mở cửa có kiểm soát” do Nhà nước chỉ đạo. Quyết định này đã giúp đời sống người dân dễ thở hơn. Bằng chứng do Quỹ Tiền tệ Quốc tế (International Money Fund, IMF) công bố hồi tháng 5/2024, theo đó lợi tức đầu người Việt Nam là 4,620 Mỹ kim/năm, trên Phi Luật Tân, Lào, Cao Miên, Miến Điện và Timor-Leste, nhưng cách xa Tân Gia Ba, 88,450 Dollars.
    Lợi tức của người Việt Nam tăng phần chính là nhờ đầu tư của nước ngoài. Theo thông tin từ Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cho biết: “Bốn tháng đầu năm 2024, thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) vào Việt Nam đạt hơn 9,27 tỷ USD, tăng 4,5% so cùng kỳ năm 2023”.
    Đây là mức tăng ấn tượng vì 4 tháng năm 2023, tổng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam giảm 17,9% so cùng kỳ năm 2022.” (báo Nhân Dân, ngày 02/09/2024)
    Tuy nhiên, con người không chỉ sống bằng cơm áo mà còn cần có đời sống tinh thần thoải mái, phải có tự do và quyền tự quyết định thể chế chính trị cho mình.
    Hiện tại, Việt Nam Cộng sản không chấp nhận các quyền tự do ngôn luận-báo chí, lập hội và biểu tình. Đảng Cộng sản cũng bác yêu cầu có đảng chính trị đối lập, và không chấp nhận quyền bầu cử và ứng cử tự do của công dân. Người dân cũng không có quyền “từ chối đi bầu”, mặc dù đảng “không cấm” dân “tự ý” ứng cử, nhưng “phải được Mặt trận Tổ quốc đồng ý”. Những ứng cử viên loại này, thông thường là thất cử. Chuyện này đã xẩy ra cho ứng cử viên Lê Kiên Thành, con trai nguyên Tổng Bí thư đảng Lê Duẩn, trong cuộc bầu cử Quốc hội khóa VIII (1987-1992).
    Như vậy rõ ràng đời sống chính trị và tự do chỉ dành độc quyền cho đảng. Nhân dân, những người lam lũ đầu tắt mặt tối kiếm tiền nuôi đảng chỉ được “ăn bã mía”.

– Phạm Trần

(09/024)

Càng lớn tuổi, tôi càng tin vào thuyết Nhân Quả của nhà Phật, người nào làm việc xấu thì gặp việc xấu đến, người nào làm việc tốt thì mọi sự tốt lành sẽ đến. Sống làm sao được bình yên trong tâm hồn là đủ, giàu nghèo sang hèn đâu có gì quan trọng, sống mình biết đủ là đủ. Hãy nhìn tính tốt của người khác, người nào cũng có tính tốt, tại chúng ta không nhìn thấy mà thôi?
Những bộ óc siêu đẳng của con người tạo ra trí tuệ nhân tạo được thể hiện qua máy móc. Những ứng dụng của trí tuệ nhân tạo đã phục vụ đời sống con người ngày càng tốt đẹp hơn. Khoa học thần kỳ nầy đã được áp dụng trong mọi sinh hoạt của con người hầu hết trong mọi lãnh vực.
Trước sự kiện lịch sử sau hơn một ngàn năm Bắc thuộc mà Việt Nam, một nước nhỏ so với Trung Quốc hùng mạnh, rộng lớn với dân số đông gấp trăm lần đã không bị đồng hóa mà vẫn giữ được độc lập, nên một số sử gia Việt Nam và ngoại quốc đã rất ngạc nhiên. Theo họ, có lẽ nước ta đã nhờ nhiều lý do như ngôn ngữ, tôn giáo, địa thế và dân Việt có một truyền thống và nghị lực vững mạnh, v.v. Riêng G.S. Ngô Nhân Dụng, trong tác phẩm nghiên cứu lịch sử “Đứng Vững Ngàn Năm” đã cho rằng: “Sau ngàn năm Bắc thuộc mà dân tộc Việt Nam không bị đồng hóa, sau cùng lại dựng được một quốc gia độc lập; đó là một phép lạ lịch sử”.
GS-TS Nguyễn Mạnh Hùng: ”Nó (bài viết) không giải thich rõ được làm sao có nhà nươc pháp quyền khi tư pháp không độc lập; làm sao có dân chủ nếu chỉ có một đảng, không có cạnh tranh chính trị và dân không có quyền chọn lưa người đại diện…”
Tôi xin gửi lời chúc tốt đẹp nồng nàn đến tất cả quý Phật tử đang cử hành ngày Đại lễ Vesak, một sự kiện thiêng liêng đối với hàng triệu người Phật tử trên thế giới. Khi chúng ta tôn kính ngày Đản sinh, Thành đạo, và Niết bàn của Đức Thế Tôn, thì giáo lý của ngài có thể truyền cảm hứng cho tất cả chúng ta. Và khi từng gia đình con người chịu khổ đau do ảnh hưởng cơn đại dịch COVID-19, thì bài kinh Phật nhắc nhở chúng ta rằng: “Vì muôn loài chúng sinh bị bệnh, nên ta cũng bệnh.”
Trước đây, các cuộc đụng độ giữa Israel và Palestine đã thường diễn ra tại Jerusalem và Dải Gaza. Các yếu tố tác động khẩn thiết cho mối xung đột là tình trạng đe dọa cưỡng chế trục xuất các gia đình Palestine hoặc các buổi lễ kỷ niệm của Do Thái giáo tại Tempelberg. Thực ra, chiến cuộc còn bắt nguồn từ các sự kiện lịch sử khác mà các xung đột về thành phố Jerusalem và điện thờ Tempelberg đóng một vai trò chính cho sự leo thang.
Đọng trên hoa, trên lá, giọt sương năm xưa gợi ra cõi trong vắt, bình an, đẩy hồn ta vào chốn không bến không bờ, mênh mông, tịch mịch. Những đêm không trăng sao, ta cũng thấy trong cõi mịt mùng sự an hòa, tĩnh mịch ấy. Nhưng cõi tịch mịch của thăm thẳm trời đêm thì lạnh lẽo, vô hồn. Cõi mênh mông cảm từ giọt sương có phơn phớt nắng mai, thấp thoáng màu lá, màu hoa, bao giờ cũng ấm áp, man mác niềm vui nhẹ nhàng, thanh thoát như sương khói, như tơ. Giọt sương quen thuộc, thân yêu ấy đã biến mất, đã trôi vào quá khứ cùng lịch sử của vũ trụ mất rồi. Dù vẫn giữ hình thái, dung nhan của muôn triệu năm trước, giọt sương hôm nay đang mang trong lòng một sự ồn ào khủng khiếp. Vô lượng vi phân tử, sóng radio của điện thoại di động mang theo những lời thủ thỉ thân yêu, gay gắt tranh luận, ầm ầm giận dữ, đắng cay nhiếc móc, nỉ non than thở, tiếng khóc, tiếng cười, nỗi bi thương, cơn cuồng nộ – đủ món hỉ nộ ái ố – … điệp điệp, trùng trùng lướt qua giọt sương liên miên từ lúc nó chào đời
Các cuộc xung đột giữa Do Thái với Palestine cùng khối Ả Rập là vấn đề nan giải cho Hoa Kỳ lẫn thế giới bởi Do Thái không hề nhượng bộ, luôn có những hành động cứng rắn và trả đũa tàn bạo. Cuộc xung đột hiện nay xảy ra khi Do Thái trục xuất sáu gia đình Palestine tại Đông Jerusalem, là điều mà Do Thái từng bước thực hiện với người dân Palestine từ nhiều năm qua.
Tôi yêu những nông dân thôn Hoành, tôi yêu những nông dân Dương Nội. Yêu cái hồn của đất – nơi con người đang phải đối mặt với phong ba bão táp; nơi con người bước trên nghịch cảnh bằng sự cao quý và khí phách của riêng mình. Tôi có một niềm tin vững chắc rằng lòng tử tế và sự dũng cảm của họ sẽ lan toả và lan rộng.
Từ Văn phòng Viện Tăng Thống, tuy chỉ tồn tại trên danh nghĩa, trong phận sự bảo trì ấn tín của Viện Tăng Thống, kế thừa tâm nguyện của Đức Đệ Ngũ Tăng Thống qua phú chúc di ngôn của Ngài trước ngày thị tịch; chúng tôi trên nương tựa uy đức Tăng già và đạo lực gia trì của Chư tôn Trưởng lão, kính gởi đến Chư tôn Hòa Thượng, Chư Thượng tọa, Đại đức Tăng-già nhị bộ, cùng tất cả bốn chúng đệ tử, tâm nguyện Bồ-đề được thể hiện qua các kỳ họp đã nêu, ước mong tất cả bằng Bồ-đề nguyện và Bồ-đề hành, bằng đức lực, trí lực, và tài lực, với hằng tâm và hằng sản, đồng tâm nhất trí góp phần công đức vào sự nghiệp hoằng pháp lợi sanh mà Chư Thánh Đệ tử, Lịch đại Tổ sư, bằng hùng lực và trí tuệ, bằng từ bi và nhẫn nhục, khoan dung, trải qua vô vàn gian nan chướng duyên trở ngại, đã mang ngọn đèn chánh pháp đến những nơi tăm tối, cho những ai có mắt để thấy, dựng dậy những gì đã sụp đổ, dựng đứng những gì đang nghiêng ngả.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.