Hôm nay,  

Độc lập có rồi, Tự do đâu?

03/09/202410:55:00(Xem: 3320)
vn court

Một bài bình luận của báo Chính phủ CSVN hôm 2/9/2024 viết: “Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, đến nay chúng ta ngày càng có cơ sở vững chắc để khẳng định sự thật chúng ta đã trở thành nước tự do độc lập, người dân ngày càng ấm no hạnh phúc…”
    Những lời tự khoe nhân dịp kỷ niệm 79 năm (1945-2024) được gọi là “Tuyên ngôn độc lập” của ông Hồ Chí Minh chỉ nói được một phần sự thật, đó là Việt Nam đã có độc lập. Nhưng “tự do” và “ấm no hạnh phúc” vẫn còn xa vời. Bằng chứng là mọi thứ ở Việt Nam đều do đảng kiểm soát và chỉ đạo nên chính sách “xin cho” là nhất quán trong mọi lĩnh vực.

TỰ DO ĐÂU?
 
Trong lĩnh vực “tự do”, hai quyền “tự do ngôn luận-báo chí” và “tự do lập hội”được dành riêng cho các tổ chức và cơ quan của Chính phủ, Doanh nghiệp do nhà nước kiểm soát. Nhà nước độc quyền thông tin và tuyên truyền. Người dân chỉ có quyền “được thông tin” từ nhà nước mà không có quyền thực hành thông tin theo ý muốn.
    Đảng chính trị đối lập bị tuyệt đối cấm. Mọi manh nha thành lập đảng đều bị Công an ngăn chặn. Đảng cầm quyền chống phân chia quyền lực. Mọi hành vi bất bình, phản đối đều bị đàn áp thẳng tay.
    Ngay cả đến quyền “tự do tín ngưỡng, tôn giáo” cũng do nhà nước kiểm soát. Các tổ chức Tôn giáo không do nhà nước thành lập, hoặc ảnh hưởng đều bị làm khó khăn hoặc cấm hoạt động.
    Bằng chứng này đã xẩy ra đối với đồng bào Hmong trên Cao nguyên miền bắc Việt Nam, và Dân tộc vùng Tây nguyên. Khối Phật giáo Việt Nam thống nhất (Ấn Quang) của miền Nam Việt Nam thời Cộng hòa trước 1975 đã bị đàn áp dẹp tan là một bằng chứng.
    Ngay trong lĩnh vực Giáo dục, Nhà nước cũng buộc học sinh, sinh viên phải học môn Chủ nghĩa Cộng sản Mác-Lênin-Tư tưởng Hồ Chí Minh, và chính sách cai trị độc tôn của đảng. Đảng cũng đã dành những ưu tiên nhập học cho học sinh “con cái đảng viên”.
    Những hạn chế tự do này là nguyên nhân  xẩy ra tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, song song với “quốc nạn tham nhũng” trong cán bộ, đảng viên. Nguyên nhân của 3 “chứng bệnh” này là do cán bộ, đảng viên không còn tin vào hiệu lực và sức mạnh của Chủ nghĩa Mác-Lênin và  tư  tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh.
    Người dân cũng dã nhìn ra những sai lầm của đảng sau 30 năm chiến tranh huynh đệ tương tàn (1945-1975) làm tan hoang đất nước và gây thương vong cho trên 3 triệu người dân và thanh niên tuấn tú.
    Ngoài ra, đảng CSVN cũng phải chịu trách nhiệm về số từ 100 ngàn đến 200 ngàn người Việt chết trên đường vượt biển tìm tự do, sau khi quân Cộng sản chiếm miền Nam Việt Nam năm 1975.
    Quan trọng hơn là tình trạng “mất đoàn kết dân tộc” và “chia rẽ vùng miền” do đảng CSVN gây ra từ sau 1975 đã khoét sâu hận thù hơn bao giờ hết giữa “kẻ chiến thắng” và “người dân bị trị”. Tình trạng kỳ thị Nam-Bắc, bằng mặt mà không bằng lòng giữa những kẻ “kiêu ngạo Cộng sản” và dân thất trận miền Nam vẫn tồn tại sau 30 năm, dù đảng cầm quyền không thừa nhận.
    Đó là lý do của trên 5 triệu người Việt Nam đã bỏ nước ra đi tị nạn khắp nơi trên Thế giới. Và đó cũng là đầu mối tại sao người Việt tị nạn gọi ngày 30/4 hàng năm là “tháng Tư Đen”, hay “Ngày Quốc hận”.

ẤM NO-HẠNH PHÚC

Đảng cũng khoe đã đem lại “cơm no áo ấm và hạnh phúc” cho ngưới dân từ khi giành được độc lập, nhưng tại sao chỉ sau ngày ký Hiệp định Geneve chia đôi đất nước 20/07/1954, đã có hơn 1 triệu người dân miền Bắc di cư vào sống đời tự do ở miền Nam?
    Lý do vì họ không muốn sống dưới quyền cai trị sắt máu của đảng. Bằng chứng này được xác nhận trong Cuộc Cải Cách Ruộng Đất ở miền Bắc trong thời gian 1953-1955. Khoảng 200 ngàn người vô tội đã bị giết trong cuộc “cải cách đẫm máu” này. Có ước tính số người bị giết oan lên đến 500 ngàn.
    Nạn nhân nổi tiếng bị giết oan là bà Nguyễn Thị Năm (1953, quê ở Làng Bưởi, ngoại thành Hà Nội, là một địa chủ có công đóng góp tài sản cho Việt Minh trong kháng chiến chống Pháp. Bà nguyên là Hội trưởng Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam tỉnh Thái Nguyên. Trong cuộc Cải cách ruộng đất, bà bị nông dân địa phương đấu tố là địa chủ gian ác và bị xử bắn.
Bà còn được gọi là Cát Hanh Long vì đây là tên một hiệu buôn do bà làm chủ ở Hải Phòng.
    Nhiều cán bộ cách mạng, nhiều đơn vị bộ đội thường tá túc trong đồn điền của bà. Bà Nguyễn Thị Năm cũng từng nuôi ăn, giúp đỡ nhiều cán bộ Việt Minh sau này giữ những cương vị quan trọng như Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Lê Đức Thọ, Phạm Văn Đồng, Hoàng Hữu Nhân, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Tùng, Vũ Quốc Uy, Hoàng Thế Thiện, Lê Thanh Nghị...” (theo Bách khoa Toàn thư mở)

    Theo lời kể, ông Hồ Chí Minh biết rõ chuyện đau thương này nhưng “không can thiệp cứu mạng bà Năm”.
    Như vậy, có phải là đảng đã “ăn cháo đá bát” không? Người dân đâu có hạnh phúc dưới quyền cai trị hà khắc sai lầm của đảng ông Hồ. Và mặc dù nhân dân đã thoát vòng nô lệ của thực dân Pháp, nhưng lại bị tròng vào cổ chiếc xích “độc tài Cộng sản” cay nghiệt hơn.
    Ngày nay, 79 năm sau 1945, lời nói “không gì quý hơn độc lập, tự do” của Hồ Chí Minh chỉ đúng một nửa. Không ai phủ nhận Việt Nam đã có “độc lập”, nhưng “tự do” cho mọi người thì không. Quyền tự do chỉ dành cho đảng viên và những ai chịu  phục tùng lãnh đạo.
    Công bằng và Dân chủ cũng không dành cho mọi người. Đảng nắm hết để chia chác cho người thân, phe cánh. Quyền ứng cử và bầu cử cũng do đảng quyết định, thông qua Tổ chức ngoại vi của đảng lả Mặt trận Tổ quốc.
    Tất cả các cuộc bầu cử Hội đồng Nhân dân và Quôc hội phải được “hiệp thông” giữa các Tổ chức, hội đoàn và Mặt trận Tổ quốc. Tiêu chuẩn hàng đầu của các ứng viên là có lập trường chính trị vững vàng, phải tuyết đối trung thành và kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh.
    Thậm chí ngay trong học đường, các tổ chức sinh viên và học sinh cũng do Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh nắm giữ và điều hành để đào  tạo các “hạt giống đỏ” hậu duệ cho đảng.

KINH TẾ PHỤC VỤ AI?

Trên lĩnh vực kinh tế, Việt Nam Cộng sản thi hành chính sách gọi là “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Đó là “một nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, trong đó nhà nước giữ vai trò chủ đạo và có trách nhiệm định hướng nền kinh tế, với mục tiêu dài hạn là xây dựng chủ nghĩa xã hội.”
    Bách khoa Toàn thư  mở viết: “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là sản phẩm của thời kỳ Đổi Mới (1986) , thay thế nền kinh tế kế hoạch  (bao cấp thời Sô viết)  bằng nền kinh tế hỗn hợp hoạt động theo cơ chế thị trường. Những thay đổi này giúp Việt Nam hội nhập với nền kinh tế toàn cầu. Cụm từ "định hướng xã hội chủ nghĩa" mang ý nghĩa là Việt Nam chưa đạt đến chủ nghĩa xã hội mà đang trong giai đoạn xây dựng nền tảng cho một hệ thống xã hội chủ nghĩa trong tương lai. Mô hình kinh tế này khá tương đồng với mô hình kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa (socialist market economy) của Đảng Cộng sản Trung Quốc, trong đó các mô hình kinh tế tập thể, nhà nước, tư nhân cùng tồn tại, và khu vực nhà nước giữ vai trò chủ đạo của nhà nước.
    Đây chính là chủ trương “mở cửa có kiểm soát” do Nhà nước chỉ đạo. Quyết định này đã giúp đời sống người dân dễ thở hơn. Bằng chứng do Quỹ Tiền tệ Quốc tế (International Money Fund, IMF) công bố hồi tháng 5/2024, theo đó lợi tức đầu người Việt Nam là 4,620 Mỹ kim/năm, trên Phi Luật Tân, Lào, Cao Miên, Miến Điện và Timor-Leste, nhưng cách xa Tân Gia Ba, 88,450 Dollars.
    Lợi tức của người Việt Nam tăng phần chính là nhờ đầu tư của nước ngoài. Theo thông tin từ Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) cho biết: “Bốn tháng đầu năm 2024, thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) vào Việt Nam đạt hơn 9,27 tỷ USD, tăng 4,5% so cùng kỳ năm 2023”.
    Đây là mức tăng ấn tượng vì 4 tháng năm 2023, tổng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam giảm 17,9% so cùng kỳ năm 2022.” (báo Nhân Dân, ngày 02/09/2024)
    Tuy nhiên, con người không chỉ sống bằng cơm áo mà còn cần có đời sống tinh thần thoải mái, phải có tự do và quyền tự quyết định thể chế chính trị cho mình.
    Hiện tại, Việt Nam Cộng sản không chấp nhận các quyền tự do ngôn luận-báo chí, lập hội và biểu tình. Đảng Cộng sản cũng bác yêu cầu có đảng chính trị đối lập, và không chấp nhận quyền bầu cử và ứng cử tự do của công dân. Người dân cũng không có quyền “từ chối đi bầu”, mặc dù đảng “không cấm” dân “tự ý” ứng cử, nhưng “phải được Mặt trận Tổ quốc đồng ý”. Những ứng cử viên loại này, thông thường là thất cử. Chuyện này đã xẩy ra cho ứng cử viên Lê Kiên Thành, con trai nguyên Tổng Bí thư đảng Lê Duẩn, trong cuộc bầu cử Quốc hội khóa VIII (1987-1992).
    Như vậy rõ ràng đời sống chính trị và tự do chỉ dành độc quyền cho đảng. Nhân dân, những người lam lũ đầu tắt mặt tối kiếm tiền nuôi đảng chỉ được “ăn bã mía”.

– Phạm Trần

(09/024)

Do đó, chỉ khi nào người dân được quyền trực tiếp chọn Lãnh đạo qua bầu cử tự do, công bằng và dân chủ thì khi ấy những kẻ bất tài, có thành tích xấu, hay chỉ biết thu vét cho đầy túi tham, lợi ích nhóm hay làm tay sai cho Ngoại bang mới bị loại khỏi đội ngũ cầm quyền. Ngược lại, nếu vẫn tiếp tục chọn người theo thông lệ “đảng cử dân bầu” hay “đảng chọn, cán bộ bỏ phiếu” thì có trăm năm, nhân dân Việt Nam vẫn chưa tìm thấy ánh sáng ở cuối đường hầm.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất tự do.
Thây xác trưng ra đó / Còn chưa đủ thối inh? / Mua chi thêm bầy ngựa / Cứt vung cả Ba Đình! - Trần Bang
Tôi sinh ra trong một cái xóm rất nghèo, và (tất nhiên) rất đông trẻ nhỏ. Cùng lứa với tôi, có cả tá nhi đồng mà tên gọi đều bắt đầu bằng chữ út: Út lé, Út lác, Út lồi, Út lùn, Út hô, Út còi, Út ghẻ, Út mập, Út sún, Út sứt, Út méo, Út hô, Út đen, Út ruồi, Út xẹo, Út trọc … Cứ theo cách thấy mặt đặt tên như vậy, người ta có thể nhận dạng và biết được thứ tự của đứa bé trong gia đình mà khỏi phải giới thiệu (lôi thôi) kiểu cách, theo kiểu Âu Tây: – Còn đây là thằng út, nó tên là Út rỗ. Vùa lọt lòng thì cháu rơi ngay vào một cái … thùng đinh! Riêng trường hợp của tôi thì hơi (bị) khác. Tôi tên Út khùng. Lý do: khi mới chập chững biết đi, tôi té giếng. Khi tìm ra con, nắm tóc kéo lên, thấy thằng nhỏ mặt mày tím ngắt, chân tay xụi lơ, bụng chương xình, má tôi chỉ kêu lên được một tiếng “rồi” và lăn ra bất tỉnh.
Chúng ta thấy gì qua những cuộc biểu tình và bạo lực tiếp theo sau cái chết của người thanh niên da đen George Floyd bị người cảnh sát da trắng Derek Chavin dùng đầu gối đè cổ nghẹt thở chiều ngày 25-5-2020 tại thành phố Minneapolis, bang Minnesota? Hàng trăm cánh sát dã chiến với trang bị tác chiến và măt nạ chống khói độc đối đầu với hàng ngàn người biểu tình đòi công lý cho George Floyd và đòi được sống bình đẳng với người Mỹ da trắng. Đó là cuộc đấu tranh chính đáng chống lại áp bức, chống lại bất công của một xã hội đa chủng đa văn hóa như nước Mỹ.
Có vài kinh điển đã nói đến chiến tranh và dùng bạo lực để trừng phạt, nhưng tìm cách biến đổi quan điểm thông thường của thế gian là bạo lực cũng đôi khi cần thiết bằng cách là đối thoại với một lý tưởng không dùng bạo lực. Về điểm này, Phật có nói đến mình như một người xuất thân từ giai cấp lãnh chuá. Trong hai bài pháp ngắn, Phật có bình luận về hai cuộc chiến xảy ra khi ác vương A Xà Thế, Ajàtasattu, tấn công vào lãnh thỗ của chú mình là vua Ba Tư Nặc, Pasenadi, cũng là một tín đồ của Ngài, và được coi như là người luôn làm việc thiện. Trong cuộc chiến đấu tiên, vua Pasenadi bị đánh bại và rút lui. Đức Phật có suy nghĩ về sự bất hạnh này và ngài nói rằng: “Chiến thắng gieo thêm hận thù, người bại trận sống trong đau khổ. Hạnh phúc thay cho một đời sống an hoà, từ bỏ đưọc mọi chuyện thắng thua. Điều này cho thấy rõ rằng sự chinh phục đem lại bi đát cho người thua cuộc mà chỉ đưa tới thù hận và dường như chỉ muốn chinh phục lại kẻ chinh phục.”
Chiều ngày 29/5 sau phiên xử phúc thẩm, một người dân ở xã Bình Phước, ông Lương Hữu Phước, đã trở lại toà án và nhảy từ lầu hai của toà để tự sát. Hình ảnh ông nằm chết, co quắp ngay trước sân toà nói lên nỗi tuyệt vọng, sự cô đơn cùng cực của người dân VN trước các phán quyết của toà án. Tôi chạnh nhớ đến câu nói của thầy giáo Nguyễn Năng Tĩnh trong phiên phúc thẩm của anh: “một lũ bất nhân đã làm ra phiên toà bất công”.
Ôi, tưởng gì chớ tật xấu của đàn ông (nói chung) và đàn ông Việt Nam (nói riêng) thì e đám đàn bà phải càm ràm cho tới… chết – hay ngược lại. Không mắc mớ gì mà tôi lại xía vô mấy chuyện lằng nhằng (và bà rằn) cỡ đó. Nhưng riêng hai chữ “cái làn” trong câu nói (“Lắm đấng ông chồng vui vẻ xách làn đi chợ…”) của Phạm Thị Hoài thì khiến tôi bần thần, cả buổi! Năm 1954, cái làn (cùng nhiều cái khác: cái bàn là, cái bát, cái cốc, cái ô, cái môi, cái thìa…) đã theo chân mẹ tôi di cư từ Bắc vào Nam. Cuộc chung sống giữa cái bàn là với cái bàn ủi, cái bát với cái chén, cái cốc với cái ly, cái ô với cái dù, cái môi với cái vá, cái thìa với cái muỗm… tuy không toàn hảo nhưng (tương đối) thuận thảo và tốt đẹp.
Hoa phượng được Nhất Tuấn gọi là hoa học trò vì thuở đó hầu như ngôi trường nào cũng trồng cây phượng trong sân trường. Khi phượng đơm hoa báo hiệu cho mùa Hè cũng là thời điểm chia tay sau niên học. Để lưu niệm, nữ sinh đóng tập Lưu Bút giấy pelure xen kẽ các sắc màu, trông thật nhã, ghi cảm nghĩ cho nhau… Ở lớp Đệ Tứ, không còn học chung nhau vì lên lớp Đệ Tam theo ban A, B, C và lớp Đệ Nhất là thời điểm chia tay vĩnh viễn, tập Lưu Bút dày hơn, chia sẻ, tâm tình… của tuổi học trò. Hầu như nam sinh không có Lưu Bút, chỉ được xía phần, dù có tinh nghịch nhưng phải viết đứng đắn, lịch sự.
Trong chị Thanh chỉ có một tấm lòng, chứ tuyệt nhiên không có “những bức tường lòng” phân cách Bắc/Trung/Nam – như rất nhiều người Việt khác. Tình cảm của chị tinh khiết, trong veo, và tươi mát tựa như dòng nước của một con suối nhỏ – róc rách, len lách – khắp mọi miền của tổ quốc thân yêu. Bởi thế, dù không biết chính xác chị được chôn cất nơi nao tôi vẫn tin rằng ở bất cứ đâu thì đất nước này cũng đều hân hoan ấp ủ hình hài của người thơ đa cảm, tài hoa, và chuân truyên nhất của dân tộc. Vĩnh biệt Nguyễn Thị Hoài Thanh. Em mong chị mãi mãi được an nghỉ trong an lành và thanh thản!
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.