Hôm nay,  

Cuộc Truy Sát Tri Thức

20/06/202500:00:00(Xem: 2652)

Capture
Sinh viên Harvard biểu tình phản đối các chính sách hạn chế nhập học và quyền tự do học thuật dưới thời chính quyền Trump. (Ảnh VB)

“Nơi nào người ta bắt đầu đốt sách, nơi đó người ta rồi cũng sẽ thiêu người.”
— Heinrich Heine

Câu nói nổi tiếng từ thế kỷ XIX của thi sĩ Heinrich Heine, tưởng chỉ là tiếng vọng u ám của bóng ma lịch sử, nhưng hôm nay, giữa thế kỷ XXI, lời cảnh báo ấy lại trở nên rúng động – ngay trên đất nước từng được xem là ngọn hải đăng của tự do học thuật.

Oái oăm thay, những dấu hiệu đầu tiên của bóng tối không phát xuất từ một chế độ độc tài phương Đông, mà từ chính nước Mỹ – xứ sở từng được xem là ngọn hải đăng của giáo dục tự do.

Chính quyền Tổng thống Donald Trump, trong nhiệm kỳ mới, đã ra tay một cách táo tợn: chặn đường sinh viên quốc tế nhập học, hủy visa, đòi các trường cung cấp danh sách sinh viên từng tham gia biểu tình, và thậm chí đe dọa rút toàn bộ ngân sách liên bang khỏi các đại học không “tuân phục”. Cái tên đầu tiên bị nhắm đến không xa lạ: Harvard.

Theo sắc lệnh ký ngày 4 tháng 6 năm nay, Tòa Bạch Ốc đã chính thức cấm sinh viên quốc tế mới nhập học tại Harvard trong sáu tháng, đồng thời yêu cầu Bộ Ngoại giao xem xét thu hồi visa đang có hiệu lực. Hơn 2.000 sinh viên đã bị hủy visa – nhiều người trong số đó bị cáo buộc “kích động phản đối” hoặc đơn giản chỉ vì chia sẻ những nội dung nhạy cảm trên mạng xã hội.

Không dừng lại ở đó, hàng loạt khoản tài trợ liên bang dành cho các đại học hàng đầu như Harvard, Columbia, và Princeton đã bị đóng băng, viện dẫn lý do các trường “không hợp tác” trong việc trấn áp phong trào phản đối chính phủ hoặc không đủ nỗ lực bài trừ chủ nghĩa bài Do Thái. Riêng Harvard bị đình chỉ hơn 2.3 tỉ Mỹ kim, đe dọa nghiêm trọng đến nhiều chương trình nghiên cứu và học bổng.

Người ta chưa đóng cửa đại học, nhưng bắt đầu đóng cửa những cánh cửa của tri thức. Chưa đốt sách – nhưng đốt cả một truyền thống tự do học thuật.

Nhớ lại Việt Nam sau 1975, toàn bộ giới trí thức – từ giáo sư, linh mục, tu sĩ đến văn nghệ sĩ – đều bị bắt đi “học tập cải tạo”. Những ai bị xem là có liên hệ với chế độ cũ, hoặc chỉ đơn thuần mang tư tưởng độc lập, đều rơi vào vòng kiểm soát. Tự do sáng tạo bị bóp nghẹt, học thuật và văn nghệ bị kiểm duyệt gắt gao. Nhiều người chọn im lặng, một số lớn phải vào tù. Đời sống tinh thần của dân tộc bước vào một giai đoạn tê liệt kéo dài.

Tại Trung Hoa, ba thập niên sau Thế chiến, Mao Trạch Đông phát động Cách mạng Văn hóa (1966–1976), cho đóng cửa toàn bộ đại học, đưa trí thức đi cải tạo, bêu rếu thầy cô giữa sân trường, đốt sách xé vở.

Khi trường học đóng lại, trại giam mở ra.  Khi nghiên cứu bị chặn, bạo lực lên ngôi. Hai chế độ, hai thời điểm, nhưng chung một bản chất: nỗi sợ hãi đối với tri thức tự do.

Chính vì thế, những người đã đi qua thời tăm tối ấy không khỏi mỉa mai khi thấy Hoa Kỳ đang bước vào một “khoảnh khắc Mao” của riêng mình.

Nhưng sau thời Mao, Trung Quốc đã mau chóng nhận ra rằng muốn phục hưng, không thể thiếu học thuật. Năm 2009, chính quyền Bắc Kinh thành lập Cửu Trường Liên Minh (C9 League) – tương đương Ivy League của Hoa Kỳ – với chỉ 3% nhà nghiên cứu mà chiếm đến 20% công trình khoa học quốc gia.**

Trong khi đó, nước Mỹ lại đang quay lưng với giới trí thức của chính mình. Việc ngăn chặn sinh viên ngoại quốc không chỉ gây tổn hại văn hóa – mà còn là đòn giáng nặng nề vào khoa học, kỹ nghệ, và cả danh dự quốc gia.

Jerome Powell – Chủ tịch Ngân hàng Dự trữ Liên bang, người do chính Trump bổ nhiệm, trong bài diễn văn tốt nghiệp tại Đại học Princeton tháng vừa rồi cũng phải nói: “Các đại học Hoa Kỳ là niềm mơ ước của thế giới, và là bảo vật chiến lược cho nền kinh tế.”

Hôm nay, khi Harvard bị tấn công, khi sinh viên biểu tình bị đe dọa, và khi tiếng nói của khoa bảng bị bóp nghẹt – chiếc hộp Pandora của thế kỷ lại được hé mở, để rồi không chỉ tri thức – mà cả tự do, lương tri, và hy vọng - cũng bắt đầu bị gió cuốn bay.

Heinrich Heine, người sống cách chúng ta gần hai trăm năm trước đã không nói chơi:

“Nơi nào người ta bắt đầu đốt sách, nơi đó người ta rồi cũng sẽ thiêu người.”

Người ta có thể thay lửa bằng luật pháp, thay pháp trường bằng tòa án, thay bạo lực bằng hành chính — nhưng kết cuộc thì vẫn chỉ là sự tàn phá của một xã hội đang sợ hãi tri thức.

Nguyên Hòa
 
* Câu nổi tiếng từ vở kịch Almansor (xuất bản 1823), thường được trích lại là:
“Dort wo man Bücher verbrennt, verbrennt man auch am Ende Menschen.”
(“Where they burn books, they will in the end also burn people.”)
** Nature Index 2019; UNESCO Science Report 2021; Reuters, The Guardian, Associated Press – tháng 6, 2025.
 

Khi còn trẻ, đôi lúc, tôi cũng (thoáng) có ý định sẽ trở thành một người cầm bút. Ở một xứ sở mà phần lớn người ta đều cầm cuốc, cầm búa, cầm kìm hay cầm súng… mà định cầm viết thì quả là một chuyện khá viển vông – nếu không muốn nói là hơi xa xỉ. Lúc không còn trẻ (nữa) tôi mới ngộ ra rằng: bút viết nó chọn người, chứ không phải là ngược lại – trừ khi mình cứ cầm đại thì không kể. Tôi không được (hay bị) lựa và cũng không có máu liều – như phần lớn quí vị trong Hội Nhà Văn Việt Nam Đương Đại – nên chuyện viết lách kể như … trớt quớt!
Nuôi dưỡng nền dân chủ giống như kẻ trồng cây: khi còn là hạt giống phải chống đỡ quạ tha gà mổ; cây còn non trẻ cần ngăn ngừa sâu bọ; đến lúc trưởng thành già nua phải chặt bớt những cành lớn không thì một cơn bão lớn sẽ làm đổ ngã thân cây. Việt Nam chưa có dân chủ nên tranh đấu đòi dân chủ. Nền dân chủ non trẻ tại Phi Luật Tân bị đe dọa trở lại độc tài. Dân chủ ở Mỹ trưởng thành lâu đời nay lại nảy sinh ra dấu hiệu già nua thoái hóa thành một hình dạng gì chưa nhận biết được.
Xét về cao độ thì Sơn Núi (Nguyễn Đức Sơn) ở thấp hơn nhiều bạn đồng nghiệp của mình – như Bùi Minh Quốc, Hà Sĩ Phu, Mai Thái Lĩnh, Tiêu Dao Bảo Cự… – xa lắc. Những nhân vật này đều có thời là biên tập viên của tạp chí Lang Biang, tờ báo (đã bị đóng cửa) này lấy tên theo vùng cao nguyên lâm Viên mà họ đang sinh sống. Đỉnh Lâm Viên, ở Đà Lạt, cao hơn hai ngàn mét lận. Từ đây, muốn leo lên trời (để đái, hay làm gì tùy thích) còn tiện hơn nhiều. Ngoài lợi thế nhỏ nhặt này ra, những cư dân ở miền sơn cước gặp phải toàn là những điều (vô cùng) bất tiện. Họ xa cách (mịt mù) với thế giới văn minh, ở những đô thị miền xuôi. Tôm cá hì hục chở lên đến được đến cao nguyên (thường) đã bị ươn, và thông tin khi nhận được thì (ôi thôi) hoàn toàn đã cũ.
Giữa mùa đại dịch COVID-19, tại những buổi tường trình mỗi ngày, Tổng thống Mỹ Donald Trump và Phó Tổng thống Mike Pence không ngớt tiên đoán sự lớn mạnh vượt bực của kinh tế quốc gia Hoa Kỳ sau khi tình hình dịch tễ lắng đọng. Hai ông nhấn mạnh rằng kinh tế Mỹ hậu-COVID-19 sẽ tìm lại thế quân bằng sau những chao đảo khiếp hãi khiến cả 40 triệu nhân công thất nghiệp trong vòng vỏn vẹn ba tháng trời. Đầu tháng Sáu, hy vọng bắt đầu le lói khi guồng máy kinh tế rục rịch mở cửa lại, ai nấy trông đợi ánh sáng tỏa lớn cuối đường hầm.Tuy nhiên, mặc dù người ta có quyền hy vọng vào sự thịnh vượng chung, nhưng sự thật là đối với các thành phần ít may mắn hơn trong xã hội (vâng, phần đông trong đó là những sắc dân da màu thiểu số), khó khăn kinh tế gần như là một điều chắc chắn. Ai cũng tưởng sau khi COVID-19 giáng một đòn chí tử lên kinh tế Hoa Kỳ, thì khoảng cách chênh lệch giữa hai thành phần giàu-nghèo sẽ phần nào thu hẹp, nhưng oái oăm thay, mọi bằng chứng cho thấy sự khác biệt ấy
Do đó, chỉ khi nào người dân được quyền trực tiếp chọn Lãnh đạo qua bầu cử tự do, công bằng và dân chủ thì khi ấy những kẻ bất tài, có thành tích xấu, hay chỉ biết thu vét cho đầy túi tham, lợi ích nhóm hay làm tay sai cho Ngoại bang mới bị loại khỏi đội ngũ cầm quyền. Ngược lại, nếu vẫn tiếp tục chọn người theo thông lệ “đảng cử dân bầu” hay “đảng chọn, cán bộ bỏ phiếu” thì có trăm năm, nhân dân Việt Nam vẫn chưa tìm thấy ánh sáng ở cuối đường hầm.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất tự do.
Thây xác trưng ra đó / Còn chưa đủ thối inh? / Mua chi thêm bầy ngựa / Cứt vung cả Ba Đình! - Trần Bang
Tôi sinh ra trong một cái xóm rất nghèo, và (tất nhiên) rất đông trẻ nhỏ. Cùng lứa với tôi, có cả tá nhi đồng mà tên gọi đều bắt đầu bằng chữ út: Út lé, Út lác, Út lồi, Út lùn, Út hô, Út còi, Út ghẻ, Út mập, Út sún, Út sứt, Út méo, Út hô, Út đen, Út ruồi, Út xẹo, Út trọc … Cứ theo cách thấy mặt đặt tên như vậy, người ta có thể nhận dạng và biết được thứ tự của đứa bé trong gia đình mà khỏi phải giới thiệu (lôi thôi) kiểu cách, theo kiểu Âu Tây: – Còn đây là thằng út, nó tên là Út rỗ. Vùa lọt lòng thì cháu rơi ngay vào một cái … thùng đinh! Riêng trường hợp của tôi thì hơi (bị) khác. Tôi tên Út khùng. Lý do: khi mới chập chững biết đi, tôi té giếng. Khi tìm ra con, nắm tóc kéo lên, thấy thằng nhỏ mặt mày tím ngắt, chân tay xụi lơ, bụng chương xình, má tôi chỉ kêu lên được một tiếng “rồi” và lăn ra bất tỉnh.
Chúng ta thấy gì qua những cuộc biểu tình và bạo lực tiếp theo sau cái chết của người thanh niên da đen George Floyd bị người cảnh sát da trắng Derek Chavin dùng đầu gối đè cổ nghẹt thở chiều ngày 25-5-2020 tại thành phố Minneapolis, bang Minnesota? Hàng trăm cánh sát dã chiến với trang bị tác chiến và măt nạ chống khói độc đối đầu với hàng ngàn người biểu tình đòi công lý cho George Floyd và đòi được sống bình đẳng với người Mỹ da trắng. Đó là cuộc đấu tranh chính đáng chống lại áp bức, chống lại bất công của một xã hội đa chủng đa văn hóa như nước Mỹ.
Có vài kinh điển đã nói đến chiến tranh và dùng bạo lực để trừng phạt, nhưng tìm cách biến đổi quan điểm thông thường của thế gian là bạo lực cũng đôi khi cần thiết bằng cách là đối thoại với một lý tưởng không dùng bạo lực. Về điểm này, Phật có nói đến mình như một người xuất thân từ giai cấp lãnh chuá. Trong hai bài pháp ngắn, Phật có bình luận về hai cuộc chiến xảy ra khi ác vương A Xà Thế, Ajàtasattu, tấn công vào lãnh thỗ của chú mình là vua Ba Tư Nặc, Pasenadi, cũng là một tín đồ của Ngài, và được coi như là người luôn làm việc thiện. Trong cuộc chiến đấu tiên, vua Pasenadi bị đánh bại và rút lui. Đức Phật có suy nghĩ về sự bất hạnh này và ngài nói rằng: “Chiến thắng gieo thêm hận thù, người bại trận sống trong đau khổ. Hạnh phúc thay cho một đời sống an hoà, từ bỏ đưọc mọi chuyện thắng thua. Điều này cho thấy rõ rằng sự chinh phục đem lại bi đát cho người thua cuộc mà chỉ đưa tới thù hận và dường như chỉ muốn chinh phục lại kẻ chinh phục.”
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.