Hôm nay,  

Món Nợ Phải Trả

09/10/202600:00:00(Xem: 675)

Đảng-voi

Năm 1874, họa sĩ biếm họa Thomas Nast lần đầu dùng hình ảnh con voi để tượng trưng cho lá phiếu của Đảng Cộng Hòa. Trong tranh, con voi dường như chưa biết hết sức nặng của chính mình, đang bước qua những tấm ván tượng trưng cho cương lĩnh của đảng. Ảnh: Thomas Nast/Harper’s Weekly, 1874, Smithsonian Institution.

 
Người ta thường nói, giữ cơ nghiệp đã khó, giữ gia phong còn khó hơn. Trong chính trị cũng vậy. Một chính đảng có thể thua một cuộc bầu cử rồi thắng lại; có thể theo đuổi một chính sách sai lầm rồi sửa đổi; thậm chí có thể trải qua một thời kỳ suy yếu rồi vẫn có thể phục hồi. Nhưng khi một chính đảng bắt đầu đánh đổi những tiêu chuẩn từng làm nên danh nghĩa và uy tín của mình để đạt lợi ích trước mắt, cái mất đi là danh dự — thứ không thể tính bằng quyền hay bằng tiền.

Đảng Cộng Hòa Hoa Kỳ được thành lập năm 1856. Trong gần hai thế kỷ tồn tại, đảng này đã đưa nhiều chính khách kiệt xuất vào Tòa Bạch Ốc, từ Abraham Lincoln, Theodore Roosevelt, Dwight Eisenhower cho đến Ronald Reagan. Điều khiến tên tuổi họ được lưu lại không phải vì họ hoàn hảo hay họ luôn luôn đúng, mà vì họ hiểu đâu là giới hạn của quyền lực và đâu là trách nhiệm đi kèm với quyền lực.

Người ta có thể đồng ý hay phản đối các chính sách của họ, nhưng khó phủ nhận rằng các vị quốc trưởng này xem chức vụ tổng thống là việc công chứ không phải lợi tư; là sự ủy thác của quốc dân chứ không phải phần thưởng dành cho người chiến thắng. Họ có thể tham vọng, có thể kiêu hãnh, có thể phạm sai lầm, nhưng họ luôn giữ một ý niệm rõ ràng về phẩm cách của chức vụ mình đang nắm giữ. Đó là một phần của truyền thống chính trị Mỹ, và cũng là điều mà Đảng Cộng Hòa từng xem như niềm hãnh diện của mình.

Bởi vậy, sự lựa chọn mà đảng này thực hiện gần đây không thể xem như một biến cố chính trị thông thường. Nó là một bước ngoặt. Nói cho đúng hơn, đó là một cuộc ly khai với những mực thước từng làm nên bản sắc của Đảng Cộng Hòa.

Đảng Cộng Hòa không suy yếu vì Donald Trump xuất hiện. Donald Trump xuất hiện vì Đảng Cộng Hòa đã chấp nhận hạ thấp những tiêu chuẩn mà chính họ từng xem là cột trụ căn bản.

Điều hôm qua bị xem là không xứng đáng với chức vụ tổng thống, hôm nay có thể được giải thích là “phong cách.” Điều hôm qua bị coi là vượt quá giới hạn, hôm nay trở thành sức mạnh “chiến đấu.” Điều mà một tổng thống Dân Chủ làm sẽ bị lên án, một tổng thống Cộng Hòa làm lại có thể được bỏ qua.
Cái giá lớn nhất của sự lựa chọn ấy không phải là Donald Trump đã thay đổi Đảng Cộng Hòa. Mà là Đảng Cộng Hòa đã thay đổi chính mình để có thể tiếp tục chấp nhận Donald Trump.

Điều đó cũng có nghĩa rằng không thể giải thích hiện tượng Trump như một tai nạn. Tai nạn là chuyện xảy ra ngoài ý muốn. Ở đây, Donald Trump đã đi qua mọi tầng nấc sàng lọc của một chính đảng lớn, từ các cuộc bầu cử sơ bộ cho đến đại hội đảng, từ cử tri cơ sở cho đến những người có ảnh hưởng nhất trong bộ máy lãnh đạo. Nếu gọi đó là một tai nạn âu quá coi nhẹ vai trò của những người góp phần tạo ra nó.

Hiện tượng Trump không phải từ trên trời rơi xuống, mà là kết quả của những quyết định được thực hiện có ý thức, hết quyết định này đến quyết định khác. Thoạt đầu chỉ là một số người đặt cược vào ông Trump như một hành động nhất thời. Sau đó là những người nghĩ rằng có thể sử dụng ông như một công cụ chính trị. Cuối cùng là cả một hệ thống dần dần thích nghi với sự hiện diện của ông, rồi xem điều bất thường trở thành bình thường.

Trong tiến trình ấy, trách nhiệm không chỉ thuộc về một cá nhân. Không một chính khách nào, dù tài giỏi hay nhiều tham vọng đến đâu, có thể làm thay đổi hướng đi của một chính đảng lớn nếu không được tiếp sức bởi hàng ngàn viên chức dân cử, những người gây quỹ, những nhà hoạt động, những cây bút bênh vực và hàng chục triệu lá phiếu. Trumpism là sản phẩm của Donald Trump. Nhưng Trumpism cũng là sản phẩm của những người đã chấp nhận Donald Trump.

Sự thật ấy có thể gây khó chịu cho nhiều người. Nhưng sự thật chính trị thường có tính cách đơn giản như vậy. Không có hiện tượng nào ở tầm vóc lớn mà chỉ do một người tạo ra. Và cũng không có sai lầm nào đủ lớn mà không có sự góp phần của rất nhiều người khác.

Tuy nhiên, lịch sử không đứng yên. Mọi thời đại chính trị dù mạnh yếu thế nào rồi cũng đến lúc phải sang trang.

Nước Mỹ hôm nay dường như đang bước vào một thời điểm như thế. Một phần vì quy luật quyền lực. Nhiệm kỳ thứ hai của bất kỳ vị tổng thống nào cũng là lúc những người kế vị bắt đầu xuất hiện. Khi một thời đại còn chưa kết thúc, cuộc tranh giành ảnh hưởng cho thời đại kế tiếp thường đã âm thầm khởi sự. Các chính khách có tham vọng bước vào Tòa Bạch Ốc bắt đầu hoạt động nhiều hơn, lên tiếng nhiều hơn, xuất hiện nhiều hơn. Bề ngoài họ vận động cho đảng mình; thực chất họ cũng đang vận động cho chính họ.

Nhưng còn một yếu tố khác mà không ai có thể thương lượng được.

Đó là thời gian.

Thời gian vốn công bằng một cách lạnh lùng. Nó không cần biết người ấy đang nắm bao nhiêu quyền lực. Nó không bận tâm người ấy có bao nhiêu kẻ trung thành. Nó chỉ âm thầm làm công việc của mình. Donald Trump hôm nay không còn là Donald Trump của mười năm trước. Điều đó không cần đối thủ chính trị nói ra. Ai quan sát cũng có thể tự nhận thấy.

Chính vì vậy mà trong nội bộ Đảng Cộng Hòa, câu hỏi về thời kỳ hậu Trump đã bắt đầu được đặt ra. Điều đáng chú ý không phải là chuyện ấy xảy ra. Điều đáng chú ý là nó xảy ra sớm hơn nhiều người tưởng.

Mới cách đây không lâu, bất đồng công khai với Donald Trump gần như đồng nghĩa với việc tự khóa cánh cửa tương lai chính trị của mình. Marjorie Taylor Greene, Thomas Massie và những người từng bước ra khỏi hàng ngũ đều đã hiểu cái giá của việc ấy.

Nhưng đó là chuyện của hôm qua.

Đến cuối tháng Chín năm nay, ít nhất 17 dân cử Cộng Hòa đương nhiệm hoặc ứng cử viên trong những cuộc tranh cử Quốc Hội và thống đốc đã công khai kêu gọi chấm dứt chiến tranh Iran hoặc tìm cách giới hạn quyền tiến hành chiến tranh của Tổng Thống. Một năm trước, một sự phản kháng tập thể như vậy gần như không thể tưởng tượng.

Những dấu hiệu khác cũng xuất hiện ở những nơi không liên quan trực tiếp đến chiến tranh.

Tại Florida, Byron Donalds, người từng đặt sự hậu thuẫn của Trump ở vị trí nổi bật trên trang vận động tranh cử thống đốc, đã sửa lại trang mạng của mình. Những lời nhắc đến Trump biến mất. Tấm hình chụp với Trump cũng không còn. Khẩu hiệu thực hiện “chương trình nghị sự của Trump” được thay bằng những vấn đề gần với cử tri hơn như giá sinh hoạt và bảo hiểm.

Byron Donalds vẫn nói ông hãnh diện được Trump ủng hộ. Chính vì vậy, sự thay đổi càng đáng chú ý. Ông không đoạn tuyệt với Trump. Ông chỉ không để Trump đứng ngay giữa sân khấu.

Tại Kansas, Thượng Nghị Sĩ Cộng Hòa Roger Marshall, lâu nay là người ủng hộ chính sách di trú cứng rắn, đã công khai phê bình cách ICE thi hành các cuộc bố ráp tại tiểu bang mình. Ông trách rằng giới công lực địa phương không được báo trước, và các cuộc bố ráp đã gây xáo trộn lớn cho cộng đồng và thương nghiệp.

Tại Florida, Dân Biểu Cộng Hòa María Elvira Salazar còn đi xa hơn. Trong một quảng cáo vận động, bà nhìn thẳng vào ống kính và nói với Tổng Thống Trump rằng một số biện pháp thi hành luật di trú của ông đã “đi quá xa”.  Bà cảnh cáo rằng những cử tri gốc Hispanic từng giúp ông trở lại Tòa Bạch Ốc năm 2024 nay cảm thấy bị phản bội.

Không một trường hợp riêng lẻ nào đủ để chứng minh một thời đại đã kết thúc. Trong chính trị, lòng trung thành thường có một dụng cụ đo rất chính xác: khoảng cách với quyền lực. Khi quyền lực đang lên, người ta tranh nhau đứng gần. Khi xuống, khoảng cách bỗng trở thành một tài sản.

Nhưng nếu giải thích hiện tượng ấy bằng tuổi tác của Donald Trump hay bằng những cuộc thăm dò dư luận đang thay đổi thì vẫn chưa đủ.

Vấn đề cốt lõi nằm ở chỗ khác.

Nhiều người trong Đảng Cộng Hòa không phải không biết.

Sai lầm của họ không nằm ở chỗ bị đánh lừa. Trái lại, phần đông hiểu rất rõ con người và phẩm cách Donald Trump. Nếu không hiểu, người ta còn có thể viện dẫn sự lầm lẫn. Đằng này, nhiều người nhìn thấy vấn đề từ rất sớm nhưng vẫn chấp nhận vì tin rằng quyền lợi thu được sẽ lớn hơn hậu quả phải gánh chịu.

Nói cách khác, đây không phải là thất bại của nhận thức mà là thất bại của sự phán đoán.

Họ thấy những nguy cơ nhưng nghĩ rằng mình có thể kiểm soát được chúng. Họ thấy những biểu hiện bất ổn nhưng tin rằng đó là cái giá phải trả để đạt được những mục tiêu khác - những vị thẩm phán theo khuynh hướng bảo thủ, những chính sách giảm thuế, những chiến thắng bầu cử hay đơn giản là sự tồn tại của chính họ trong nội bộ đảng.

Họ cho rằng có thể nhận lấy cái lợi mà không phải trả cái giá.

Đó là một lối tính toán rất quen thuộc trong chính trị. Người ta thường tự nhủ cứ vượt qua cây cầu trước mặt rồi hãy tính bước tiếp theo. Điều người ta quên là chính trị cũng như mọi chuyện khác ở đời, không có bữa ăn nào hoàn toàn miễn phí. Một chính đảng có thể tạm thời thắng cử nhờ hy sinh những nguyên tắc từng tạo nên thanh thế của mình. Điều họ quên là đến một lúc nào đó, chính thắng lợi ấy sẽ trở thành món nợ phải thanh toán.

Khoảnh khắc đó dường như đang đến.

Đối với những người đang chuẩn bị cho cuộc đua tổng thống năm 2028, câu hỏi khó nhất có lẽ không phải là họ sẽ làm gì cho nước Mỹ trong tương lai, mà là họ đã làm gì trong những năm vừa qua.

Khi nhìn thấy những điều mà hôm nay họ gọi là sai lầm, lúc đó họ đã nói gì?

Khi nhận ra những nguy cơ mà ngày nay họ thừa nhận là có thật, lúc đó họ đã hành động ra sao?

Khi phải chọn giữa nguyên tắc và quyền lợi chính trị, họ đã chọn điều gì?

Một chính đảng có thể thua một cuộc bầu cử rồi lại thắng. Quyền lực mất đi có thể giành lại. Nhưng khi một chính đảng tự miễn cho mình khỏi những mực thước đạo đức, trách nhiệm và phẩm cách từng làm nên cốt cách, niềm kiêu hãnh và kim chỉ nam của chính mình, cái mất đi khó lấy lại.

Mua danh ba vạn, bán danh ba đồng.

Món nợ lớn nhất mà thời đại Trump để lại cho Đảng Cộng Hòa, có lẽ, chính là cái giá của sự đổi chác ấy.
 
Nina HB Lê

-AFP ngày 1/7/2020: Trung Quốc ra lệnh cho chi nhánh của các hãng thông tấn như AP, UPI, CBS và NPR phải khai báo số lượng nhân viên, hoạt động tài chính cũng như tài sản mà họ có ở Trung Hoa. Đây là hảnh động trả đũa vì Hoa Thịnh Đốn đã ngăn cấm bốn cơ sở thông tin của họ tại Hoa Kỳ. -AP ngày 1/7/2020: Pháp loan báo họ sẽ không tham dự vào một chiến dịch hải quân của Liên Minh Bắc Đại Tây Dương (NATO) tại Địa Trung Hải sau khi có sự căng thẳng về quân sự với Thổ Nhĩ Kỳ vì cuộc xung đột tại Libya. Tổng Thống Pháp tuyên bố sẽ không tha thứ hành động can thiệp quân sự của Thổ vào đây và gọi sự can thiệp của Thổ là “tội phạm” còn Nga là mâu thuẫn. Hiện nay Thổ trợ giúp phe Tripoli không quân, vũ khí và đồng minh tham chiến đến từ Syria. Theo AFP ngày 8/7/2020, Tổng Thư Ký LHQ Antonio Guterres nói rằng sự tham gia của quân ngoại bang với lính đánh thuê và vũ khí phức tạp là điều chưa từng thấy ở Libya.
Phần lớn nhân loại đều chưa đến Rome, và chắc cũng chả mấy ai rành rẽ về phong tục tập quán của xứ sở này. Tuy thế, nếu có dịp bước chân tới đây thì chắc tất cả chúng ta đều sẽ nhớ đến lời dậy của cổ nhân (“nhập gia tùy tục/đáo giang tùy khúc”) để ứng xử thích nghi, và hoà nhã với dân bản xứ.
Quốc gia nào cũng có nhà nước nên vai trò của chính quyền không thể tránh. Nhưng quả lắc khi nghiêng về nhà nước quá xa thì bóp nghẹt thị trường tự do còn khi chuyển sang tư nhân quá mức lại tạo ra bất ổn (khủng hoảng kinh tế) và hố sâu giàu nghèo. Một nghịch lý khác là khi xã hội xáo trộn, kinh tế suy trầm thì một bên là Mác Xít trỗi dậy, bên kia là Phát Xít nổi lên như xảy ra vào các thập niên 1930 hay 2010.
Trong cú sốc ban đầu do COVID-19 gây ra, các chính phủ và ngân hàng trung ương ứng phó bằng những đợt bơm tiền mặt khổng lồ là chuyện có thể dễ hiểu. Nhưng hiện nay, các nhà hoạch định chính sách cần lùi một bước và xem lại các hình thức kích hoạt nào thật sự cần thiết và nguy cơ nào gây nhiều hại hơn lợi. Các chính phủ trên khắp thế giới đang phản ứng mạnh mẽ với cuộc khủng hoảng COVID-19 bằng cách ứng phó kết hợp về tài chính và tiền tệ, nó đã đạt tới 10% GDP toàn cầu. Tuy nhiên, theo Cơ quan Kinh tế và Xã hội thuộc Liên Hiệp Quốc đánh giá tổng quát mới nhất, các biện pháp vực dậy này có thể không thúc đẩy cho tiêu dùng và đầu tư nhiều như các nhà hoạch định chính sách hy vọng.
Bạch Thái Bưởi, theo Wikipedia: “Là một doanh nhân người Việt đầu thế kỷ 20. Lúc sinh thời, ông được xếp vào danh sách bốn người giàu có nhất Việt Nam vào những năm đầu của thế kỷ 20 (nhất Sĩ, nhì Phương, tam Xường, tứ Bưởi)… Xuất thân từ tầng lớp nghèo, ông luôn quan tâm đến đời sống của giới thợ thuyền. Ông dành chế độ an sinh cho các nhân viên của mình. Ông trợ cấp cho học sinh nghèo có chí du học… Năm 1921, Bạch Thái Bưởi cho ra đời tờ báo hàng ngày mang tên Khai hóa nhật báo với tôn chỉ: ‘Một là giúp đồng bào ta tự khai hoá, dạy bảo lẫn nhau... mở mang con đường thực nghiệp. Hai là giãi bày cùng Chính phủ bảo hộ những yêu cầu thiết thực, chính đáng của quốc dân. Ba là diễn giải những ý kiến, những lợi ích, tác hại của các công việc Chính phủ đang làm...’
Sự căng thẳng thẳng giữa nước Mỹ và Trung cộng mỗi ngày mỗi gia tăng. Thật vậy, kể từ ngày 25-9-2018, tổng thống Donald Trump đọc trước Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, kêu gọi các nước trên Thế giới: “Chống lại xã hội chủ nghĩa và những đau khổ do nó đã gây ra cho nhân loại.” Mời xem link: https://youtu.be/q6XXNWC5Koc?t=95. Từ đấy, khiến cho Trung cộng lo âu phập phồng vì cả Thế giới phê phán chủ nghĩa cộng sản gay gắt.
Kết quả bầu cử Thị xã vòng nhì hôm 28/6 vừa qua khoát cho nước Pháp bộ áo mới màu xanh. Bộ áo Pháp lần đầu tiên được mặc. Các Thị xã xưa nay do Thị trưởng xã hội, phe Hữu hay thuộc xu hướng khác nay phần lớn lọt vào tay đảng Xanh. Cả những Thị xã cho tới nay vẫn nằm trong tay cộng sản cũng bị đảng Xanh cướp mất. Giới chánh trị đều ngẩn ngơ trước thực tế hoàn toàn bất ngờ này. Nhiều nhà chánh trị học, nhà báo chánh trị bắt tay ngay vào việc tìm hiểu tại sao bổng nhiên xuất hiện làn sóng xanh chiếm gần hết các thành phố lớn nhỏ của Pháp? Tại sao chỉ có 4/10 người đi bầu? Vậy người được bầu thắng cử hay làn sóng cử tri vắng mặt mới thật sự thắng cử?
Những năm gần đây sự việc Trung Quốc chiếm đảo, vét cát dưới đáy biển xây dựng căn cứ quân sự, xây phi trường, đặt tên lửa tại biển Đông khiến người ta vô tâm quên mất rằng cánh tay dài của Đại Hán đã vươn qua biển thò đến tận Phnom Penh tự thuở nào. Dưới mắt nhiều quan sát viên quốc tế thì Campuchia ngày nay là một tỉnh của Trung Quốc, và Thủ tướng Hun Sen là một bí thư tỉnh ủy của Đảng Cộng sản Trung Quốc, không hơn không kém.Trung Quốc thiết lập căn cứ quân sự trên đất Campuchia là mối đe dọa nghiêm trọng cho các quốc gia khác trong vùng Đông Nam Á, và Hoa Kỳ chắc chắn không thể không nhận ra hiểm họa to lớn đó. Trong buổi tường trình lên Ủy ban Tình báo Thượng viện Hoa Kỳ hôm tháng Giêng năm 2019, Giám đốc Sở Tình báo Quốc gia, lúc đó là ông Dan Coats, đã cảnh báo rằng “Campuchia đang có nguy cơ biến thành một quốc gia độc tài, và điều đó sẽ mở đường cho Trung Quốc thiết lập các căn cứ quân sự trên miền đất ấy.”
Ngày 22 tháng 6 năm 2020, dự luật An Ninh Quốc Gia về Hồng Kông được đưa ra tại quốc hội của Đảng Cộng Sản Trung Hoa để thông qua, và đêm 30 tháng 6 rạng sáng ngày 1 tháng 7, 2020, sau một phiên họp kín của Ủy Ban Thường Vụ Đại Biểu Nhân Dân (mà thế giới gọi là quốc hội bù nhìn tại Bắc Kinh) dự luật này đã trở thành luật. Ngày mà Luật An Ninh Quốc Gia về Hồng Kông này ra đời cũng trùng ngày mà Hồng Kông được trao trả lại cho China 23 năm trước 01-07-1997 theo thể chế “một nước hai chế độ” (one country two systems). Theo đó Hồng Kông vẫn còn quyền tự trị trong 50 năm từ 1997 đến 2047, và trên lý thuyết Hồng Kông chỉ lệ thuộc vào Bắc Kinh về quân sự và ngoại giao mà thôi.
“Ngày 11/07/1995: Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton và Thủ tướng Việt Nam Võ Văn Kiệt thông báo quyết định bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa 2 nước.” Với quyết định lịch sử này, Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng sản đã ghi dấu “gác lại qúa khứ, hướng tới tương lai” được 25 năm vào ngày 11/07/2020. Nhưng thời gian ¼ Thế kỷ bang giao Mỹ-Việt đã đem lại những bài học nào cho hai nước cựu thù, hay Mỹ và Việt Nam Cộng sản vẫn còn những cách biệt không hàn gắn được ?
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.