Hôm nay,  

Bầy Hoàng Yến

21/11/200600:00:00(Xem: 10375)

Bầy Hoàng Yến

...Hoa Kỳ và Trung Quốc đều có tốc độ tăng trưởng sút giảm...

Giới kinh tế thường dùng một ẩn dụ lấy từ kỹ nghệ hầm mỏ. Chim hoàng yến dưới hầm. Phương tiện kỹ thuật của loài người dù tinh vi đến mấy nhiều khi lại không nhạy bằng loài vật. Dưới các hầm sâu, nếu hơi độc bị xì mà phu mỏ không kịp biết thì có thể mất mạng. Vì vậy, họ đem theo lồng chim. Chim mà chết thì đấy là chỉ dấu báo động rằng hầm bị hơi độc và có thể nổ.

Từ kinh nghiệm thực dụng của kỹ nghệ hầm mỏ, giới kinh tế mới nói đến "hoàng yến dưới hầm," như một chỉ dấu nhỏ nhặt báo hiệu những chấn động lớn.

Tuần qua, chim hoàng yến đã chết hàng đàn.

Hai nền kinh tế đầu máy thế giới - với sản lượng tổng hợp bằng hai phần ba mức gia tăng của suốt năm năm qua - là Hoa Kỳ và Trung Quốc đều có tốc độ tăng trưởng sút giảm.

Tại Hoa Kỳ, số nhà mới xây (gọi là "housing starts") đã giảm 15% trong tháng 10 khiến báo chí chơi chữ, thành "housing stops" và nguy cơ trì trệ kinh tế vì thị trường địa ốc suy sụp lại trở về ám ảnh thiên hạ. Nhất là khi mức tăng trưởng tháng Chín đã giảm sút đột ngột.

Tại Trung Quốc, chính quyền Bắc Kinh sau cùng cũng hãm được tốc độ tăng trưởng đầu tư cố định để hạ cánh an toàn. Từ mức gia tăng trung bình là 28% suốt năm ngoái đến ba quý đầu của năm nay, đà tăng trưởng đầu tư cố định của Hoa lục đã chỉ còn là gần 17% trong tháng 10.

Câu hỏi đang lởn vởn trong đầu nhiều người là đầu máy của hai đầu máy kinh tế nói trên còn chạy ngon trớn hay không" Sản lượng kinh tế Mỹ chỉ bằng chừng 22% sản lượng thế giới nhưng Hoa Kỳ đóng góp tới 60% vào đà tăng trưởng của thế giới. Nếu kinh tế thế giới tăng được, ví dụ, 5% thì 3% tùy thuộc vào sức nhập cảng của Mỹ: tiêu thụ tại Hoa Kỳ chiếm 70% tổng sản lượng và đầu máy cho mọi đầu máy là giới tiêu thụ Mỹ.

Họ mà ngưng mua sắm thì đời bỗng mất vui.

Chúng ta sẽ còn thấy một con hoàng yến nữa lăn quay nếu dân Mỹ hãm đà tiêu xài vào mùa lễ lạc đang được mở ra, từ lễ Tạ ơn qua Giáng sinh đến Tân niên 2007.

Nước Mỹ vừa qua bầu cử và đảng Dân chủ đã thắng lớn, vì sao lại còn có sự hoài nghi bi quan như vậy"

Vì Dân biểu Chales Rangel của đảng Dân chủ, nay sắp là Chủ tịch Uỷ ban Chuẩn chi Hạ viện, hăm dọa một điều: tái lập chế độ trưng binh.

Từ thời Richard Nixon, Hoa Kỳ đã bỏ chế độ trưng binh để động viên thanh niên vào quân ngũ mà lập ra một đạo quân toàn những người tình nguyện. Một kinh tế gia có góp phần lý luận vào quyết định ấy là người vừa quá vãng, ông Milton Friedman.

Khi ra điều trần về lý do vì sao nên lập ra một đạo quân thiện nguyện, Giáo sư Friedman, một kinh tế gia có ảnh hưởng nhất trong thế kỷ 20, đã có cuộc đấu khẩu với Tướng William Westmoreland.

Ông Westmoreland rất võ biền đã quạt lý luận của Friedman, rằng: "Ông muốn lập ra một đạo quân đánh thuê"" Và lập tức được trả lời: "Thà vậy còn hơn lập ra một đạo quân nô lệ!"

Quân đội Hoa Kỳ gồm toàn những người tình nguyện. Nay Dân biểu Rangel muốn trở lại chế độ động viên. Mọi thanh niên đến tuổi đều sẽ bị bắt lính, có ủng hộ chiến tranh Iraq hay không cũng vậy mà thôi! Giới quân sự bỗng nổi da gà.

Họ đào tạo ra một đạo quân nhà nghề và tinh nhuệ nhất, nay lại phải nhận thêm những người lính bị cưỡng bách tòng quân và rất khó huấn luyện. Lý do của Dân biểu Rangel là ông muốn bẻ gãy mũi nhọn quân sự của Mỹ, để chính quyền Bush e sợ mà thay đổi đối sách tại Iraq.

Dân Mỹ thiếu am hiểu thì bỗng thấy sợ.

Hoá ra quốc gia này đang ở trong thời chiến thật sự rồi! Ngao ngán thế, còn ai muốn tiêu xài vui vẻ nữa. Thêm một con hoàng yến ngáp ngáp dưới căn hầm kinh tế.

Nhưng, đấy chưa là điều kinh khủng nhất.

Điều kinh khủng là ngay giữa thời chiến, các chính khách có thể đem nền an ninh quốc gia ra làm vật đổi chác. Nhẹ nhất thì cũng là đánh dứ để chính quyền sớm thu quân trở về.

Khi Hoa Kỳ vừa bị khủng bố, người viết bài này đã tiên đoán, rằng từ nay Hoa Kỳ sẽ hành xử như một đế quốc. Hoặc ít ra cũng tìm ra những lập luận biện minh cho một chánh sách đối ngoại bị thế giới lên án là đế quốc. Dù là một đế quốc dân chủ thì cũng là đế quốc. Lời tiên đoán ấy đưa ra khi Hoa Kỳ chưa khai mở chiến dịch Iraq.

Quả nhiên là sau đấy, Hoa Kỳ bị phê phán là đế quốc và Tổng thống Bush lãnh mọi thậm từ nặng nề nhất.

Hơn ba năm sau, chuyện ấy đã hết.

Hoa Kỳ là một đế quốc bị cắt cánh.

Việc xây dựng dân chủ tại Iraq đang thành hão huyền, việc chuyển hoá thế giới Hồi giáo ra các chế độ tự do hơn coi như bất khả. Hoa Kỳ có khi phải đối thoại với những chế độ hung đồ nhất trong khu vực Trung Đông để gỡ rối cho cục diện Iraq. Và đấy là một nguồn cổ võ lớn lao cho khủng bố và độc tài, từ Đông qua Tây…

Khi các cuộc cách mạng dân chủ muôn màu tại Âu châu bị Liên bang Nga chặn đứng, Hoa Kỳ nhũn nhặn nín thinh. Khi một nhà báo Nga bị ám sát vì phê phán chánh sách Chechnya của Tổng thống Vladimir Putin, Hoa Kỳ không có một lời cho bà.

Chính quyền Bush bỗng trở thành hiền hoà như người vưa ngậm hột thị.

Tổng thống Bush chứng minh điều ấy ngay tại Hà Nội vào tuần qua. Ông không thể không biết là để chính quyền Hà Nội long trọng tiếp đón thượng khách, nhiều nhà đấu tranh cho dân chủ đã bị vây hãm, cầm tù. Ông không hề có một câu nhắc nhở đến họ, sau khi kêu gọi dân chủ cho thế giới và phê phán chính quyền Roosevelt ngày xưa đã hy sinh tự do của phân nửa Âu châu để thỏa hiệp với Liên bang Xô viết.

Ông làm nhiều người lầm tưởng về sức mạnh của lý tưởng dân chủ Hoa Kỳ. Rồi buông họ giữa dòng. Như Tổng thống George H. Bush, thân phụ ông, đã buông rơi dân Kurd và dân Shia tại Iraq năm 1991 cho Saddam Hussein tàn sát.

Hoa Kỳ có sức tiết kiệm thấp nhất trong các nước công nghiệp, 0,2% và mỗi ngày kinh doanh phải tìm ra ba tỷ rưỡi từ bên ngoài để tài trợ việc đầu tư và tiêu thụ. Đệ nhất siêu cường thế giới, một đế quốc có từ tâm, lại là một chúa chổm mắc nợ và những vấn đề ấy không hề được các chính khách đề cập tới trong cuộc tranh cử vừa qua. Coi như chuyện không có.

Và nay họ đùa giỡn với quân đội, một lực lượng quy tụ các chí nguyện quân chỉ lãnh lương chừng 18 ngàn Mỹ kim một năm. Không nói đến rủi ro hy sinh, một thanh niên thiếu nữ cấp binh nhì đang xả thân bảo vệ xứ này - rẻ nhất là tám tiếng một ngày - được trả lương trung bình là bảy đồng một giờ! Quốc hội Mỹ đang tranh luận về đồng lương tối thiểu pháp định nhưng không nói gì đến đồng lương mạt rệp của đạo quân mà tướng Westmoreland gọi là "đánh thuê"!

Hoa Kỳ đang bị thế giới coi thường, kẻ thù không sợ mà đồng minh cũng hết tin.

Và ngay giữa cuộc chiến, hậu phương phát huy sáng kiến để cột tay tiền tuyến, đến nỗi Bộ Quốc phòng phải gãi đầu giữa ba giải pháp. Đôn quân, Tử thủ hay Tháo chạy" Truyền thông và chính giới Mỹ đang ồn ào góp phần vào cuộc tranh luận ấy.

Chúng ta đang thấy hoàng yến chết hàng bầy. Chưa biết bao giờ là hầm sẽ sụp!

Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
Đúng vậy, sau gần nửa thế kỷ năm nhìn lại vẫn thấy biến cố 30.04.1975 xảy ra quá bất ngờ đối với toàn thể dân VN chúng ta. Bằng chứng hiển nhiên là rất nhiều cấp lãnh đạo VNCH trong chánh quyền và trong quân đội không ngờ được nên đành phải bị bắt đi tù cải tạo cả hàng chục năm để rồi chết dần mòn trong rừng thiêng nước độc. Nói chi đến người dân bình thường thiếu thông tin của cả 2 miền Nam Bắc tất cả không ai cảm thấy hoặc đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Sự thực này chúng ta có thể đọc thấy rõ trên các tài liệu của 2 miền.
Chúng ta chỉ cần vài thập niên để có thể tạo dựng lại một nền kinh tế lành mạnh và hiệu quả nhưng e sẽ mất đến đôi ba thế hệ mới loại bỏ dần được những thói hư (và tật xấu) vừa nêu. Vấn đề không chỉ đòi hỏi thời gian mà còn cần đến sự nhẫn nại, bao dung, thông cảm (lẫn thương cảm) nữa. Nếu không thì dân tộc này vẫn sẽ tiếp tục bước hết từ bi kịch sang bi kịch khác – cho dù chế độ toàn trị và nguy cơ bị trị không còn.
Ôn dịch Vũ Hán gây nên một cơn khủng hoảng chưa từng thấy trong khối các nước nghèo khó khiến 100 quốc gia trong số 189 thành viên IMF hiện đang cầu cứu cơ quan quốc tế này viện trợ khẩn cấp. Tưởng cần nên tìm hiểu bối cảnh của những quốc gia đang phát triển song song với các phân tích về tác động của khủng hoảng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.