Hôm nay,  

Hiệu Ứng Bắc Hàn

12/07/200600:00:00(Xem: 8659)

...Việc Bắc Hàn gây rối sẽ còn kéo dài, với hậu quả bất lợi cho kinh tế Đông Á. Trước mắt thì xăng dầu và lạm phát sẽ càng khiến kinh tế của khu vực dễ bị suy trầm.

Việc Bắc Hàn phóng hỏa tiễn vào tuần qua sẽ ảnh hưởng thế nào đến kinh tế Đông Á trong viễn ảnh kinh tế Á châu có thể bị suy trầm vào năm tới" Diễn đàn Kinh tế đài RFA nêu câu hỏi ấy với kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa trong cuộc trao đổi do Việt Long thực hiện sau đây.

- Hỏi: Thưa ông Nguyễn Xuân Nghĩa, qua mấy kỳ liên tiếp, diễn đàn này đã phân tích nguy cơ suy trầm kinh tế Á châu vào năm tới với nhiều chỉ dấu có thể thấy từ Hoa Kỳ. Trong hai ngày mùng bốn, mùng năm vừa qua, việc Chính quyền Bắc Hàn lại phóng một loạt hỏa tiễn khiến các thị trường Á châu đều bị giao động mạnh. Do đó, chúng tôi xin đề nghị là kỳ này, chúng ta sẽ tìm hiểu về hậu quả của vụ khủng hoảng Bắc Hàn đối với kinh tế Đông Á.

Nhưng trước khi đề cập đến chuyện Bắc Hàn, câu hỏi đầu tiên của chúng tôi là trong tuần qua, người ta có những chỉ dấu gì xác nhận thêm về nguy cơ suy trầm hay không"

- Thưa vâng, trước khi đề cập đến hiệu ứng của vụ Bắc Hàn phóng hỏa tiễn, ta có thể nhắc tới thống kê nhân dụng, tức là về tình hình việc làm, ở ngay tại Hoa Kỳ. Hôm mùng bảy vừa qua, bộ Lao động Mỹ báo cáo là số việc làm mới tạo thêm trong tháng Sáu chỉ có 121 ngàn, chỉ bằng phân nửa dự đoán của thị trường và giới kinh tế. Nếu tính bình quân cho cả Quý II năm nay, từ tháng Tư đến tháng Sáu, thì mỗi tháng kinh tế Mỹ chỉ tạo thêm dưới 110 ngàn việc mới. Đó là chỉ dấu xác nhận mối lo của nhiều người là đà tăng trưởng sản xuất tại Hoa Kỳ có chậm lại và viễn ảnh suy trầm vào cuối năm càng có xác suất cao.

- Hỏi: Thế nhưng, nếu tăng trưởng đình đọng thì ngược lại, nguy cơ lạm phát có thể nhờ vậy giảm thấp khiến ngân hàng trung ương Hoa Kỳ khỏi cần tăng lãi suất và do đó mà Á châu đỡ bị lâm vào thế kẹt là cũng phải nâng lãi suất để giữ trị giá đồng bạc của mình và vì vậy mà làm cho kinh tế càng dễ bị suy trầm không"

Sự thể có lẽ không được như vậy vì lạm phát vẫn là một đe dọa tại Hoa Kỳ khiến lãi suất có thể vẫn tăng vào tháng Tám này, sau khi đã tăng 25 điểm vào ngày 29 tháng trước như người ta đã dự đoán. Hậu quả là kinh tế có thể bị hai tai ách là cả suy trầm lẫn lạm phát, với ảnh hưởng bất lợi cho kinh tế Á châu. Rồi trong bối cảnh ấy, chúng ta lại có vụ Bắc Hàn.

- Hỏi: Vì sao vụ Bắc Hàn bắn hoả tiễn lại có thể gây hậu quả cho kinh tế Đông Á"

- Trước hết, đây là một vụ khủng hoảng về địa dư chiến lược cho toàn khu vực và khủng hoảng tất nhiên gây giao động bất lợi cho sinh hoạt kinh tế. Hôm Chủ nhật mùng chín vừa rồi Ấn Độ cũng vừa thử nhiệm loại hỏa tiễn Agni III có tầm xa hơn hỏa tiễn Đại pháo đồng hạng II của Bắc Hàn mà thế giới vẫn không coi đó là một vụ khủng hoảng. Chủ yếu là vì Ấn Độ là một xứ dân chủ và có tinh thần trách nhiệm quốc tế. Bắc Hàn là chế độ cộng sản bị khủng hoảng thường trực, lại có thường gây hấn với lân bang và có tham vọng chế tạo võ khí hạch tâm, còn muốn bắn hoả tiễn để bắt bí thiên hạ. Vì vậy, việc Bắc Hàn bắn một loạt bảy hỏa tiễn trong hai ngày liền và dọa là sẽ còn thử nghiệm nữa trong những ngày tới mới khiến thế giới e ngại. Mà vụ khủng hoảng này có khi còn kéo dài nhiều tháng nên mới đáng cần theo dõi.

- Hỏi: Bây giờ ta mới đi vào phần chính của đề tài, vụ Bắc Hàn ảnh hưởng tới kinh tế thế giới như thế nào" Phải chăng vì xứ này cũng có sức nặng kinh tế như Nam Hàn"

- Bắc Hàn là xứ cộng sản lạc hậu, chỉ có 22 triệu dân mà sẵn sàng để hai triệu người chết đói từ năm năm trước trong khi dồn sức chế tạo võ khí hạch tâm. Xứ này chỉ có sản lượng kinh tế cỡ 40 tỷ Mỹ kim, sống nhờ viện trợ và xuất khẩu võ khí tàn sát cho các xứ độc tài và 80% ngoại thương thì tập trung qua ba ngả là Trung Quốc, Nam Hàn và Nhật Bản. Lợi tức bình quân một đầu người tại Bắc Hàn thì có thể giàu gấp ba một người dân Việt, nhưng sản lượng xứ này chưa bằng 5% sản lượng Nam Hàn. Với xuất nhập khẩu chỉ chiếm 10% tổng sản lượng GDP, Bắc Hàn không là thế lực kinh tế quốc tế, nhưng lại là thế lực gây rối trong bối cảnh có nhiều bất trắc tại Đông Á.

Chúng ta không quên rằng từ năm năm nay, thế giới thực ra đang ở trong thời chiến, từ vụ khủng bố 9-11 xảy ra tại Hoa Kỳ tới chiến cuộc tại Afghanistan, Iraq và những bất ổn gần đây ở Trung Đông vì chuyện Palestine. Đã vậy, kinh tế thế giới cũng gặp nhiều thất quân bình, phản ứng bảo hộ mậu dịch đang lan rộng, dầu thô và thương phẩm đang tăng giá trong khi nhiều trái bóng đầu tư đã căng phồng và sắp vỡ tại Đông Á. Giữa hoàn cảnh ấy, vụ khủng hoảng vì Bắc Hàn bắn hoả tiễn mới là một mối quan tâm kinh tế…

- Hỏi: Một cách cụ thể thì hỏa tiễn Đại pháo đồng của Bắc Hàn tác động thế nào vào kinh tế Đông Á"

- Tôi thiển nghĩ là qua bốn ngả có hiệu ứng tương hằng tương tác với nhau. Khi dầu thô đang lên giá mạnh vì nhiều lý do - từ an ninh đến chuyện cung cầu - thì khủng hoảng Bắc Hàn sẽ tiếp tục đẩy giá dầu thô lên mức báo động. Trước vụ khủng bố năm 2001 tại Mỹ, giá dầu thô nằm dưới 28 đồng một thùng; ngày nay, giá dầu có thể chờn vờn quanh mức 75 đồng và qua năm tới vẫn chưa có chiều hướng giảm thấp dưới 70 Mỹ kim một thùng.

Hiệu ứng thứ hai của vụ Bắc Hàn là luồng trao đổi hàng hoá trên thế giới sẽ trở thành tốn kém hơn và lượng trao đổi có thể giảm nên sẽ ảnh hưởng đến các nước sống nhờ xuất nhập khẩu. Lý do là việc chuyển vận khó khăn nguy hiểm sẽ đòi hỏi tiền bảo hiểm cao hơn. Năng lượng đắt đỏ và ngoại thương bị cản trở là hai ngả dễ thấy nhất của hiệu ứng Bắc Hàn.

- Hỏi: Như vậy, vẫn còn hai ngả ảnh hưởng khác"

- Hiệu ứng thứ ba chính là nguy cơ lạm phát. Tiến trình toàn cầu hoá được đẩy mạnh từ sau 1990 đến nay đã có một hậu quả âm thầm mà mãnh liệt là vật giá hết tăng mà còn giảm, tức là hiện tượng giảm phát. Bây giờ, trong khi cả thế giới đang e ngại nạn lạm phát thì năng lượng và vận chuyển lại tăng giá, hai yếu tố này sẽ càng thổi mạnh giá cả và khiến các ngân hàng trung ương đều nghĩ đến việc nâng lãi suất để ngừa lạm phát. Chúng ta còn nhớ là trong kỳ trước, mình đã nói đến kịch bản bi quan là lãi suất liên ngân hàng tại Mỹ có thể vượt qua 5,50% để lên tới 6%, là chỉ dấu báo hiêụ suy trầm cho Đông Á. Chuyện ấy nay càng dễ xảy ra hơn vì vụ hỏa tiễn Bắc Hàn.

Hiệu ứng thứ tư của vụ Bắc Hàn này là thất thoát tư bản. Đông Á vốn dư thừa hiện kim nhờ tiền rẻ nhưng chu kỳ ấy sẽ sớm chấm dứt vì tư bản sẽ lùi khỏi khu vực này mà chạy về những nơi an toàn và có lợi hơn, là điều chúng ta đã đề cập tới trong một kỳ trước. Bây giờ vụ hỏa tiễn Bắc Hàn càng thúc đẩy hiện tượng ấy, mà ta có thể kiểm chứng được khi thấy các thị trường cổ phiếu bị sụt giá. Giới đầu tư sẽ trước tiên bán những cổ phiếu ít lời nhất và sẽ dời tư bản qua thị trường khác nếu vụ khủng hoảng này không êm.

- Hỏi: Trong hoàn cảnh ấy, thế giới có hy vọng đẩy lui mối nguy này hay không"

- Ngay sau khi Bắc Hàn phóng hỏa tiễn, người ta đã nói đến việc Liên hiệp quốc phải có nghị quyết trừng phạt để chế độ Bình Nhưỡng biết sợ mà chấm dứt hành động phiêu lưu mạo hiểm. Nhưng tôi thiển nghĩ là việc ấy ít có hy vọng thành công vì hai lý do chính trị và kinh tế.

- Thứ nhất, về lý do chính trị, Trung Quốc và Liên bang Nga chưa chắc đã đồng ý với việc trừng phạt gay gắt, mà họ lại có lá phiếu phủ quyết trong Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc. Bắc Hàn là do Liên xô thành lập ra ngay sau Thế chiến II và hiện vẫn có mối quan hệ khắng khít với Bắc Kinh. Hai xứ này vì vậy sẽ chỉ phản đối Bắc Hàn một cách tượng trưng mà thôi.

Thứ hai, về lý do kinh tế thì kinh tế Bắc Hàn chủ yếu là loại tự cung tự cấp, ít lệ thuộc vào việc trao đổi với nước ngoài và chủ yếu chỉ giao dịch với ba nước là Trung Quốc, Nhật Bản và Nam Hàn như ta vừa nói. Nếu có cấm vận hay phong toả kinh tế thì chỉ có Nhật Bản thi hành, Nam Hàn thì chỉ tạm ngưng viện trợ kinh tế chứ chưa chắc đã sốt sắng chấp hành việc trừng phạt, trừ phi là đảng cầm quyền của Tổng thống Roh Moo Hyun bị thất cử năm tới vì chính sách hoà dịu với Bình Nhưỡng.

- Hỏi: Thế còn trường hợp Trung Quốc" Liệu chính quyền Bắc Kinh có quyết định trừng phạt hay gây sức ép cho Bắc Hàn chấm dứt hành động khiêu khích này hay không"

Đây là điều mà các thị trường và chính quyền trên thế giới đang theo dõi.

Cho tới nay, Bắc Kinh vẫn nói nước đôi để thỏa mãn hai mục tiêu mâu thuẫn. Trung Quốc cần chứng tỏ rằng mình là một quốc gia biết điều và có trách nhiệm đối với các vấn đề nghiêm trọng của thế giới. Nhưng đồng thời cũng muốn chế độ Bình Nhưỡng tồn tại vì sợ khủng hoảng mà bùng nổ thì làn sóng tỵ nạn sẽ túa chạy từ Bắc Hàn qua lãnh thổ của mình. Nhìn trong trường kỳ, Bắc Kinh cũng không mấy ưa một nước Đại Hàn thống nhất theo xu hướng tự do dân chủ và trở thành cường quốc kinh tế cạnh tranh với mình trên vùng Đông Bắc. Ngay trước mắt thì họ cũng cần một xứ gây rối cho các nước mà họ chi phối được để qua đó gây ảnh hưởng trên các diễn đàn quốc tế. Việc kết giao với các xứ hung đồ và độc tài là một lẽ thường của Bắc Kinh.

Khi phải cân nhắc những mục tiêu mâu thuẫn ấy, Bắc Kinh sẽ xoay trở rất tinh vi rắc rối. Mà dù sao thì kết quả của việc trừng phạt kinh tế cũng giới hạn. Chưa kể là chế độ Bình nhưỡng sẽ còn ráo riết tìm cách xuất khẩu võ khí tàn sát hàng loạt này để tìm thêm ngoại tệ. Cho nên, người ta phải nghĩ đến giải pháp khác - kể cả quân sự - mà chẳng có giải pháp nào lại sớm hiệu quả. Vì vậy, việc Bắc Hàn gây rối sẽ còn kéo dài, với hậu quả bất lợi cho kinh tế Đông Á. Trước mắt thì xăng dầu và lạm phát sẽ càng khiến kinh tế của khu vực dễ bị suy trầm.

Câu hỏi đang đặt ra ở Biển Đông là Trung Quốc có âm mưu gì khi bất ngờ gia tăng đe dọa và phủ nhận quyền chủ quyền của các nước có tranh chấp lãnh thổ với Bắc Kinh gồm Việt Nam, Phi Luật Tân, Nam Dương, Mã Lai và Brunei, vào lúc cả thế giới lo phòng, chống dịch nạn Vũ Hán, xuất phát từ Trung Quốc từ đầu năm 2020 (Coronavirus disease 2019 (COVID-19). Để trả lời cho thắc mắc này, cũng như liệu tranh chấp giữa Mỹ và Trung Quốc ở Biển Đông có đưa đên nguy cơ chiến tranh hay không, xin mời bạn đọc theo dõi nội dung Cuộc phỏng vấn của tôi với Giáo sư ngoại hạng (Professor Emeritus), Tiến sỹ Nguyễn Mạnh Hùng, người từng giảng dậy nhiều năm về Quan hệ Quốc tế tại Đại học George Mason, gần Thủ đô Hoa Thịnh Đốn. Giáo sư Hùng là Học giả cao cấp bất thường trú của Trung tâm nghiên cứu Chiến lươc và quan hệ Quốc tế ở Washington, D.C. (Center for Strategic and International Studies, CSIS). Ngoài ra ông còn là Học giả vãng lai hai niên khóa 2015-2016 tại viện nghiên cứu nổi tiếng ISEAS-Yusof Is
Sau khi ông George Floyd bị chết dưới bạo lực cảnh sát, một phong trào biểu tình chống kỳ thị người da đen đã bùng nổ và lan rộng khắp nước Mỹ và trên thế giới. Phong trào có sự tham gia của mọi tầng lớp, của nhiều sắc tộc khác nhau, trong đó có người Việt Nam. Sự kiện này đã dẫn đến nhiều mâu thuẫn trong tập thể người Việt, do cách nhìn trái chiều về vấn đề kỳ thị chủng tộc đối với người da đen và phong trào Black Lives Matter. Đặc biệt là giữa thế hệ trẻ và thế hệ những người lớn tuổi trong cộng đồng. Là một tổ chức đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền Việt Nam, với chủ trương Đấu tranh bất bạo động, đảng Việt Tân đã từng lên tiếng ủng hộ các phong trào biểu tình của người dân như ở Hong Kong. Chúng tôi có cuộc phỏng vấn với ông Hoàng Tứ Duy, Phát ngôn nhân Đảng Việt Tân, về nhận xét của ông đối với phong trào Black Lives Matter và sự tham gia của giới trẻ Việt Nam trong các cuộc xuống đường đòi công lý cho người Mỹ da đen.
Trong khi tham vọng kiểm soát của chế độ toàn trị vẫn như cũ, có một số khác biệt giữa những nỗ lực của Mao và Tập Cận Bình. “Tư tưởng của Tập Cận Bình là một thay thế nhạt màu cho Sách Đỏ của Mao. Tập Cận Bình đã không thể đưa ra một ý thức hệ mạch lạc để truyền cảm hứng cho sự cuồng tín trong những người theo ông, khác một chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc chung chung. Mặt khác, Tập có các công cụ công nghệ khả dụng mà đơn giản là không áp dụng cho những nhà độc tài trong thế kỷ 20. Hệ thống tín dụng xã hội kết hợp tất cả các phương pháp của thông minh nhân tạo, dữ liệu quy mô, cảm biến lan tỏa và đặt các phương tiện này vào trong tay nhà nước Trung Quốc. Cả Stalin và Mao đều không thể kiểm soát trực tiếp các phong trào hàng ngày, lời nói và giao dịch của từng đối tượng theo cách mà đảng Trung Quốc về mặt lý thuyết có thể làm ngày nay.
Một dự luật đã được đưa ra Quốc Hội Nhân Dân của Đảng Cộng Sản Trung Hoa (CSTH) ngày 22 tháng 5 năm 2020 tại Bắc Kinh, và đúng một tuần lễ sau, dự luật này đã được nhanh chóng thông qua vả trở thành Đạo Luật An Ninh Quốc Gia (ĐLANQG) về Hồng Kông vào ngày 29 tháng 5. Khi đưa ra Quốc Hội Nhân Dân để bàn thảo và thông qua, dự luật này gồm 7 điểm chính, trong đó ba điểm quan trọng nhất để đối phó và triệt hạ quyền tự chủ cùa Hồng Kông là điều số 2, số 4, và số 6. Theo đó, Bắc Kinh sẽ ngăn chặn tất cả các nguồn yểm trợ từ bên ngoài vào Hồng Kông; sẽ sử dụng được các lực lượng đàn áp từ Bắc Kinh để dập tắt các cuộc biểu tình, những người tham dự biểu tình có thể quy tội phản quốc, ly khai; và từ đó Bắc Kinh sẽ khai triển ra những đạo luật khác để thực hiện các mưu đồ trên.
Đảng Cộng Sản Việt Nam có truyền thống bán nước từ Hồ Chí Minh cho đến ngày nay. Người bán nước số một là Nguyễn Phú Trọng, bán nước một cách tinh vi, từ những bí mật nầy đến những bí mật khác để lừa bịp nhân dân. Đã đặt Việt Nam lệ thuộc vào Trung Cộng, xem như thời kỳ Bắc thuộc lần thứ năm. Tuổi tác đã cao, sức khỏe yếu kém mà muốn ôm cái ghế quyền lực suốt đời. Thủ hạ Nguyễn Hồng Diên thăm dò dư luận bằng những lời lẽ nâng bi quá đáng, làm phản tác dụng, gây phẩn nộ trong quần chúng. Tóm lại, Nguyễn Phú Trọng và đảng của ông đã đặt Việt Nam lệ thuộc vào Trung Cộng, đó là tội đồ của dân tộc.
Khi còn trẻ, đôi lúc, tôi cũng (thoáng) có ý định sẽ trở thành một người cầm bút. Ở một xứ sở mà phần lớn người ta đều cầm cuốc, cầm búa, cầm kìm hay cầm súng… mà định cầm viết thì quả là một chuyện khá viển vông – nếu không muốn nói là hơi xa xỉ. Lúc không còn trẻ (nữa) tôi mới ngộ ra rằng: bút viết nó chọn người, chứ không phải là ngược lại – trừ khi mình cứ cầm đại thì không kể. Tôi không được (hay bị) lựa và cũng không có máu liều – như phần lớn quí vị trong Hội Nhà Văn Việt Nam Đương Đại – nên chuyện viết lách kể như … trớt quớt!
Nuôi dưỡng nền dân chủ giống như kẻ trồng cây: khi còn là hạt giống phải chống đỡ quạ tha gà mổ; cây còn non trẻ cần ngăn ngừa sâu bọ; đến lúc trưởng thành già nua phải chặt bớt những cành lớn không thì một cơn bão lớn sẽ làm đổ ngã thân cây. Việt Nam chưa có dân chủ nên tranh đấu đòi dân chủ. Nền dân chủ non trẻ tại Phi Luật Tân bị đe dọa trở lại độc tài. Dân chủ ở Mỹ trưởng thành lâu đời nay lại nảy sinh ra dấu hiệu già nua thoái hóa thành một hình dạng gì chưa nhận biết được.
Xét về cao độ thì Sơn Núi (Nguyễn Đức Sơn) ở thấp hơn nhiều bạn đồng nghiệp của mình – như Bùi Minh Quốc, Hà Sĩ Phu, Mai Thái Lĩnh, Tiêu Dao Bảo Cự… – xa lắc. Những nhân vật này đều có thời là biên tập viên của tạp chí Lang Biang, tờ báo (đã bị đóng cửa) này lấy tên theo vùng cao nguyên lâm Viên mà họ đang sinh sống. Đỉnh Lâm Viên, ở Đà Lạt, cao hơn hai ngàn mét lận. Từ đây, muốn leo lên trời (để đái, hay làm gì tùy thích) còn tiện hơn nhiều. Ngoài lợi thế nhỏ nhặt này ra, những cư dân ở miền sơn cước gặp phải toàn là những điều (vô cùng) bất tiện. Họ xa cách (mịt mù) với thế giới văn minh, ở những đô thị miền xuôi. Tôm cá hì hục chở lên đến được đến cao nguyên (thường) đã bị ươn, và thông tin khi nhận được thì (ôi thôi) hoàn toàn đã cũ.
Giữa mùa đại dịch COVID-19, tại những buổi tường trình mỗi ngày, Tổng thống Mỹ Donald Trump và Phó Tổng thống Mike Pence không ngớt tiên đoán sự lớn mạnh vượt bực của kinh tế quốc gia Hoa Kỳ sau khi tình hình dịch tễ lắng đọng. Hai ông nhấn mạnh rằng kinh tế Mỹ hậu-COVID-19 sẽ tìm lại thế quân bằng sau những chao đảo khiếp hãi khiến cả 40 triệu nhân công thất nghiệp trong vòng vỏn vẹn ba tháng trời. Đầu tháng Sáu, hy vọng bắt đầu le lói khi guồng máy kinh tế rục rịch mở cửa lại, ai nấy trông đợi ánh sáng tỏa lớn cuối đường hầm.Tuy nhiên, mặc dù người ta có quyền hy vọng vào sự thịnh vượng chung, nhưng sự thật là đối với các thành phần ít may mắn hơn trong xã hội (vâng, phần đông trong đó là những sắc dân da màu thiểu số), khó khăn kinh tế gần như là một điều chắc chắn. Ai cũng tưởng sau khi COVID-19 giáng một đòn chí tử lên kinh tế Hoa Kỳ, thì khoảng cách chênh lệch giữa hai thành phần giàu-nghèo sẽ phần nào thu hẹp, nhưng oái oăm thay, mọi bằng chứng cho thấy sự khác biệt ấy
Do đó, chỉ khi nào người dân được quyền trực tiếp chọn Lãnh đạo qua bầu cử tự do, công bằng và dân chủ thì khi ấy những kẻ bất tài, có thành tích xấu, hay chỉ biết thu vét cho đầy túi tham, lợi ích nhóm hay làm tay sai cho Ngoại bang mới bị loại khỏi đội ngũ cầm quyền. Ngược lại, nếu vẫn tiếp tục chọn người theo thông lệ “đảng cử dân bầu” hay “đảng chọn, cán bộ bỏ phiếu” thì có trăm năm, nhân dân Việt Nam vẫn chưa tìm thấy ánh sáng ở cuối đường hầm.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.