Hôm nay,  

Năm Năm Đầu Tiên….

11/09/200600:00:00(Xem: 7938)
Hoa Kỳ mới chỉ tham chiến được năm năm - và còn phải thay đổi
Ngay giữa cuộc chiến, và suốt mười ngày qua, chính quyền của Tổng thống Bush đã tung ra nhiều chiêu pháp ngoạn mục liên hệ đến hồ sơ khủng bố.
Để kỷ niệm năm năm ngày Hoa Kỳ bị khủng bố tấn công - vụ 9-11 - ông Bush và các vị cộng sự đã mở chiến dịch tranh cử cho đảng Cộng hoà, với rất nhiều đề nghị và lập luận nhằm giành lại thế thượng phong cho một chính quyền bị thất thế vì hồ sơ Iraq. Từ việc truy tố các đặc công của al-Qaeda tới nhà tù Guantanamo và yêu cầu Quốc hội phê chuẩn những luật lệ phù hợp với đòi hỏi của cuộc chiến - hầu tránh cho chính quyền bị lâm vào hoàn cảnh không vi hiến thì cũng phạm luật, ông Bush cố giành lại thế chủ động và đẩy phe đối lập vào hoàn cảnh bất lợi: chống lại đề nghị của đảng Cộng hoà khi dân Mỹ xúc động tưởng niệm biến cố 9-11 là đảng Dân chủ bị mang tiếng là thiếu dứt khoát với vấn đề khủng bố.
Những ai nghĩ rằng ông Bushy thô thiển và thiếu thủ đoạn chính trị có thể đã đánh giá lầm nhân vật này.
Tuy nhiên, sau 60 ngày chạy đua để giành thế đa số tại Quốc hội, các chính khách Mỹ vẫn phải đối đầu với một thực tế: Hoa Kỳ chưa thực sự có một quan niệm toàn diện và thích hợp với hình thái chiến tranh mới và trong năm năm qua, các lực lượng Hồi giáo cực đoan đã học bài và xoay chuyển chiến pháp của họ. Trong hai năm còn lại, nếu chính quyền Bush và cả Quốc hội Mỹ không nhìn ra và thuyết phục được người dân về những đòi hỏi của cuộc chiến. Hoa Kỳ coi như thất trận và sẽ triệt thoái, để lại những mầm loạn cho cả thế giới - mà chưa chắc đã ngăn ngừa được những vụ khủng bố khác ngay trong lãnh thổ.
Vì sao chúng ta lại có một kết luận bi quan như vậy" Vì Hoa Kỳ chưa có một quan niệm - đừng nói đến tổ chức - về cuộc chiến mang tính chất toàn diện và phi quy ước của quân khủng bố.
Hoa Kỳ là một đệ nhất siêu cường hiện chiếm vị trí độc bá trên toàn cầu. Trong lịch sử ngắn ngủi của mình, quốc gia này đã đánh bại mọi đối thủ trong các cuộc chiến quy ước, giữa các đơn vị chính quy và hậu cứ kinh tế của một quốc gia với một quốc gia. Hoa Kỳ có khả năng chiến tranh vượt trội so với mọi quốc gia đối nghịch nhờ một số đặc tính của xã hội và văn hoá Mỹ. Các đại cường như Đức, Ý hay Nhật đều bị đánh bại và khi quân ngũ tan rã, chính quyền phải đầu hàng để dành lại cơ hội xây dựng lại một quốc gia khác, với chính quyền mới, trên những đổ vỡ của chiến tranh do chính Hoa Kỳ viện trợ để tái thiết.
Nhưng siêu cường này không mấy thành công với loại hình thái chiến tranh phi quy ước, loại chiến tranh toàn diện, kết hợp khủng bố, phá hoại, du kích và đấu tranh chính trị. Một trường hợp nổi bật nhất chính là Việt Nam khiến một siêu cường quân sự đã thảm bại vì lý do chính trị, để lại cho các sử gia học giả hay chính khách tả hữu việc diễn giải vì sao đã thua.
Sau đó, không thiếu gì trường hợp thất bại khác, dù không lớn lao bằng, như tại Lebanon, Somalia, và ngày nay, tại Afghanistan và Iraq.
Một nhận thức sai lạc của chính người dân Mỹ lên tới lãnh đạo chính trị và học thuật tư tưởng rằng Hoa Kỳ là vô địch không có đối thủ đã khiến dư luận Mỹ coi thường kẻ thù. Việc Liên xô sụp đổ càng củng cố niềm tin ấy. Sự thật thì Liên xô sụp đổ không vì một trận thư hùng quân sự với Hoa Kỳ, mà vì những nhược điểm nội tại của chế độ cộng sản.
Nhiều người thực ra có rút tỉa bài học Việt Nam và nêu ra một số nguyên tắc chỉ đạo việcv chiến hoà, có nên tham chiến hay không. Nguyên (và là Cố) Tổng trưởng Quốc phòng Caspar Weinberger cùng người cộng sự là Tướng Colin Powell - sau này là Ngoại trưởng - đã đề ra những nguyên tắc ấy, gọi là chủ thuyết Weinberger hay Powell: "Hoa Kỳ chỉ tham chiến trong một số điều kiện nhất định, và một cách bất đắc dĩ khi chẳng còn giải pháp nào khác".
Nhưng, chủ thuyết ấy vẫn phản ảnh một cái nhìn thiên về quân sự hơn chính trị và không đề ra những chỉ dẫn cần thiết cho một hình thái chiến tranh khác. Đến thời (đương kim) Tổng trưởng Quốc phòng Donald Rumsfeld, giới chức quân sự Mỹ đã kết hợp những yếu tố địa dư chính trị và kỹ thuật chiến tranh để nói đến việc chuyển hoá bộ máy quân sự cho hình thái chiến tranh mới. Gọn, nhẹ, với tầm tác xạ cao và chính xác hơn. Ông Rumsfeld đang chuẩn bĩ cải tổ bộ máy chiến tranh theo hướng ấy thì vụ khủng bố xảy ra.

Hai chiến dịch Afghanistan và Iraq, trong tháng 11 năm 2001 và tháng Ba năm 2003, đã chứng tỏ ưu thế quân sự của Mỹ: tiêu diệt bộ máy chiến tranh của đối phương và kiểm soát lãnh thổ địch. Nhưng, bộ máy chiến tranh ấy vẫn không làm chủ được tình hình, ở cả hai nơi.
Lý do là đối phương không còn là chế độ Đức quốc xã hay Phát xít Nhật, khi thua thì đầu hàng và trao lại lãnh thổ cho một chính quyền mới. Đối phương là một hệ thống chính trị và quân sự không coi việc trị dân là trọng, quốc kê dân sinh là chính. Họ là một tập thể không sợ chết và sẵn sàng gieo rắc cái chết cho chính đồng bào đồng đạo để Hoa Kỳ phải nản chí rút lui vì không bình định được lãnh thổ đang chiếm đóng. Trong những thủ đoạn chống trả ấy, khủng bố chỉ là một trong nhiều phương pháp…. Cuộc chiến gọi là chống khủng bố hay chống chủ nghĩa khủng bố đã bị gọi sai và bộ máy chiến tranh lân cả xã hội Mỹ không được chuển bị cho hình thái chiến tranh này.
Trong khi ấy, từ al-Qaeda tới chế độ Taliban tại Afghanistan, từ Hezbollah tới chế độ Tehran tại Iran đều đã biến chiêu. Họ trở thành tinh tế hơn trong thủ đoạn khủng bố, tinh vi hơn về chiến tranh tâm lý và sáng tạo không thua gì Hoa Kỳ về kỹ thuật chiến tranh.
Xưa kia, các chế độ Hồi giáo chống Mỹ (hay chống Israel) đã học theo bài bản Xô viết để xây dựng bộ máy chiến tranh theo lối quy ước, với võ khí và kỹ thuật Liên xô để bị đánh bại thê thảm (Egypt, Syria hay Iraq). Bây giờ, trong cuộc chiến bất cân xứng giữa một sieêu cường quân sự có nền kinh tế thịnh vượng làm hậu cứ với các chế độ chống Mỹ có kỹ thuật lạc hậu và kinh tế nghèo nàn (hơn), các chế độ hay lực lượng Hồi giáo đã lâm trận theo lối nhà nghèo, cải tiến võ khí rẻ tiền - mua của nhau hay cua Liên bang Nga, Trung Quốc, Bắc Hàn - thành những dụng cụ giết người rất hữu hiệu - vì bất cần tới độ chuẩn xác - và phá hủy những chiến cụ bạc triệu của Mỹ.
Lối chiến tranh chân đất với hỏa tiễn cầm tay hay mìn "nội hoá", ráp chế thô thiển, đã khiến dân Hồi giáo mất mạng, lính Mỹ tử thương và Hoa Kỳ xuất huyết. Mà càng trả đòn dữ dội thì càng mang tiếng sát hại thường dân - Israel đã mắc tội ấy trước dư luận thế giới - vì trong cuộc chiến này, dân với quân sinh hoạt ở cùng nơi và dân là bia đỡ đạn cho quân!
Sự yếu kém của Hoa Kỳ về mặt tổ chức và tuyên truyền làm nốt phần vụ còn lại.
Về tổ chức thì các đơn vị thiện chiến - huấn luyện một chiến binh là tốn bạc triệu - phải đi làm sen đầm canh chợ và mục tiêu bắn sẻ mà bom khôn hay kỹ thuật điện tử tân kỳ không bảo vệ nổi. Nổ súng trả đòn mà lỡ trúng vào thường dân thì có khi ra tòa, thoát thì cũng bị bùa rìu của báo chí và dư luận. Hoa Kỳ không có loại cán bộ quân chính để lo việc bình định và đang căng mỏng lực lượng Vệ binh Quốc gia để xây dựng dân chủ cho quốc gia khác.
Về tuyên truyền, Hoa Kỳ không giải thích nổi với chính người dân chủ mình về nhu cầu tự vệ bằng cách viễn chinh và các chính trị gia đối lập không lỡ cơ hội đả kích chính quyền về chuyện ấy. Họ không hiểu được bản chất của cuộc chiến và những đòi hỏi nơi người dân. Đối nội đã vậy, về đối ngoại hệ thống thông tin tuyên truyền của Hoa Kỳ lại còn thô thiển hơn nữa và không tranh thủ được quần chúng Hồi giáo ôn hoà. Chiến cuộc càng gay gắt thì thành phần ôn hoà hiếm hoi ấy càng có cảm tình với quân khủng bố!
Từ 500 năm nay, các nước Tây phương đã áp đảo thế giới nhờ sức mạnh kinh tế đã thổi lên một hỏa lực hùng hậu. Bước sang thế kỷ 21, cái thế giới lạc hậu, nghèo túng và cực đoan nhất đang trả lời lại Tây phương, bằng cách thách đố siêu cường số một là Hoa Kỳ, bằng một hình thái chiến tranh không cần đời sống.
Hoa Kỳ thường lâm chiến và coi như chiến thắng quân sự là kết thúc chiến tranh, việc tái thiết hay tranh thủ trong hoà bình là chuyện chính trị. Vì vậy mà chuốc oán với nhiều nước. Bây giờ, khi bị thách đố bởi hình thái chiến tranh kết hợp quân sự - nôm na là giết người - với chính trị - nôm na là khai thác tinh thần chống Mỹ - với phần thưởng cho kẻ chiến thắng ở đâu đó trên… thiên đường, Hoa Kỳ bị bó tay.
Chính quyền Bush không chịu bó tay và kịch liệt chống trả. Nhưng nếu không nhìn lại vấn đề cho rõ và quan niệm lại chiến lược cho tinh - và nhất là không giải thích tường tận cho quần chúng - chính quyền sẽ bị đối lập bó tay.
Và Hoa Kỳ sẽ bại trận.
Sau vụ Việt Nam, Hoa Kỳ chỉ mất thế lực trên trường quốc tế trong gần 10 năm chứ đặc công Bắc Việt không đòi vào đánh bom tự sát trên lãnh thổ Mỹ. Nếu bại trận lần này, nước Mỹ sẽ khó yên vì kẻ thù nhắm vào mục tiêu khác.

“Bà X khoảng bốn mươi tuổi, hiện đang sống với chồng và con gái trong một căn nhà do chính họ làm chủ, ở California. Bà nói thông thạo hai thứ tiếng: Anh và Việt. Phục sức giản dị, trông buồn bã và lo lắng, bà X tuy dè dặt nhưng hoàn toàn thành thật khi trả lời mọi câu hỏi được đặt ra. “Bà rời khỏi Việt Nam vào năm 1980, khi còn là một cô bé, cùng với chị và anh rể. Ghe bị cướp ba lần, trong khi lênh đênh trong vịnh Thái Lan. Chị bà X bị hãm hiếp ngay lần thứ nhất. Khi người anh của bà X xông vào cứu vợ, ông bị đập búa vào đầu và xô xuống biển. Lần thứ hai, mọi chuyện diễn tiến cũng gần như lần đầu. Riêng lần cuối, khi bỏ đi, đám hải tặc còn bắt theo theo mấy thiếu nữ trẻ nhất trên thuyền. Chị bà X là một trong những người này.
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
Sau trận Phước Long 6/1/1975, Hoa Kỳ im lặng, Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát Đình chiến bất lực, cuộc chiến đã đến hồi chấm dứt. Ngày 10/3/1975, Thị xã Ban Mê Thuột bị tấn công thất thủ sau hai ngày chống cự, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, cao nguyên Trung phần lọt vào tay cộng sản. Ngày 8/3/1975, quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Quảng Trị, Quảng Trị mất, rồi các tỉnh miền Trung lần lượt mất theo.
Khi bỏ nước ra đi tìm tự do, tất cả bậc cha mẹ Việt Nam đều nghĩ đến tương lai của các đứa con mình.Các con cần phải học, học và học… Sự thành đạt của con em chúng ta trong học vấn được xem như là sự thành công và niềm hảnh diện chung của cha mẹ Viêt Nam trên miền đất hứa.
Tháng Tư lại trở về, gợi nhớ đến ngày cuối cùng, lúc toàn miền Nam rơi vào tay đoàn quân xâm lược từ phương bắc, lần này là lần thứ 45! Trong ký ức của mỗi người dân miền Nam chúng ta, có biết bao nhiêu khúc phim lại được dịp hiển hiện, rõ ràng và linh động như vừa mới hôm qua. Có người nhớ đến cảnh hỗn loạn ở phi trường Tân Sơn Nhất, có người không sao quên được những năm tháng tù tội trong trại giam cộng sản, có người nghẹn ngào ôn lại cảnh gia đình ly tán trong những ngày kinh hoàng đó, và có biết bao người còn ghi khắc mãi những ngày lênh đênh trên sóng nước mịt mù hay băng qua rừng sâu núi thẳm để tìm đến bến bờ tự do.
Tôi sinh ra đời tại miền Nam, cùng thời với “những tờ bạc Sài Gòn” nhưng hoàn toàn không biết rằng nó đã “làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ” của nửa phần đất nước. Và vì vậy, tôi cũng không thấy “phấn khởi” hay “hồ hởi” gì (ráo trọi) khi nhìn những đồng tiền quen thuộc với cuộc đời mình đã bị bức tử – qua đêm! Suốt thời thơ ấu, trừ vài ba ngày Tết, rất ít khi tôi được giữ “nguyên vẹn” một “tờ bạc Sài Gòn” mệnh giá một đồng. Mẹ hay bố tôi lúc nào cũng xé nhẹ nó ra làm đôi, và chỉ cho tôi một nửa. Nửa còn lại để dành cho ngày mai. Tôi làm gì được với nửa tờ giấy bạc một đồng, hay năm cắc, ở Sài Gòn – vào năm 1960 – khi vừa mới biết cầm tiền? Năm cắc đủ mua đá nhận. Đá được bào nhỏ nhận cứng trong một cái ly nhựa, rồi thổ ra trông như hình cái oản – hai đầu xịt hai loại xi rô xanh đỏ, lạnh ngắt, ngọt lịm và thơm ngát – đủ để tôi và đứa bạn chuyền nhau mút lấy mút để mãi
Chiến tranh Việt Nam có hai chiến trường: Đông Dương và Mỹ. Bắc Việt cố gắng kéo dài cuộc chiến trên chiến trường Việt Nam và đồng thời làm mệt mỏi công luận trên chiến trường Mỹ. Đứng trườc chiến lược này và kế thừa một di sản là sức mạnh quân sự, các tình trạng tổn thất và phản chiến đang gia tăng, Tổng thống Nixon cân nhắc mọi khả năng trong chính sách. Nixon quyết định chỉnh đốn các trận địa chiến cho miền Nam Việt Nam trong khi củng cố khả năng chiến đấu cho họ. Sự giảm bớt vai trò của chúng ta sẽ hỗ trợ cho công luận trong nước Mỹ. Trong thời gian này, Nixon cũng để cho Kissinger tổ chức mật đàm càng nhanh càng tốt.
Bất kỳ chiến lược nào để giảm bớt mối đe dọa từ các chính sách xâm lược của Trung Quốc phải dựa trên sự đánh giá thực tế về mức tác động đòn bẩy của Hoa Kỳ và của các cường quốc bên ngoài khác đối với sự tiến hóa bên trong nội bộ Trung Quốc. Ảnh hưởng của những thế lực bên ngoài đó có giới hạn về cấu trúc, bởi vì đảng sẽ không từ bỏ các hoạt động mà họ cho là quan trọng để duy trì sự kiểm soát. Nhưng chúng ta quả thực lại có những khí cụ quan trọng, những khí cụ này hoàn toàn nằm ngoài sức mạnh quân sự và chính sách thương mại. Điều ấy là những phẩm chất “Tự do của người Tây phương” mà người Trung Quốc coi là điểm yếu, thực sự là những sức mạnh. Tự do trao đổi thông tin, tự do trao đổi ý tưởng là một lợi thế cạnh tranh phi thường, một động cơ tuyệt vời của sự cách tân và thịnh vượng. (Một lý do mà Đài Loan được xem là mối đe dọa đối với Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc, chính là vì nó cung cấp một ví dụ với quy mô tuy nhỏ nhưng lại hùng hồn về sự thành công của hệ thống chính trị và kin
Nửa tháng trước hiệp định Genève (20-7-1954), trong cuộc họp tại Liễu Châu (Quảng Tây, Trung Cộng), từ 3 đến 5-7-1954, thủ tướng Trung Cộng Châu Ân Lai khuyên Hồ Chí Minh (HCM) chôn giấu võ khí và cài cán bộ, đảng viên cộng sản (CS) ở lại Nam Việt Nam (NVN) sau khi đất nước bị chia hai để chuẩn bị tái chiến. (Tiền Giang, Chu Ân Lai dữ Nhật-Nội-Ngõa hội nghị [Chu Ân Lai và hội nghị Genève] Bắc Kinh: Trung Cộng đảng sử xuất bản xã, 2005, Dương Danh Dy dịch, tựa đề là Vai trò của Chu Ân Lai tại Genève năm 1954, chương 27 "Hội nghị Liễu Châu then chốt".) (Nguồn: Internet). Hồ Chí Minh đồng ý.
Đúng vậy, sau gần nửa thế kỷ năm nhìn lại vẫn thấy biến cố 30.04.1975 xảy ra quá bất ngờ đối với toàn thể dân VN chúng ta. Bằng chứng hiển nhiên là rất nhiều cấp lãnh đạo VNCH trong chánh quyền và trong quân đội không ngờ được nên đành phải bị bắt đi tù cải tạo cả hàng chục năm để rồi chết dần mòn trong rừng thiêng nước độc. Nói chi đến người dân bình thường thiếu thông tin của cả 2 miền Nam Bắc tất cả không ai cảm thấy hoặc đoán trước được chuyện sẽ xảy ra. Sự thực này chúng ta có thể đọc thấy rõ trên các tài liệu của 2 miền.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.