Hôm nay,  

Lao Động ‘3 Không’

19/11/200600:00:00(Xem: 9549)

Lao Động ‘3 Không’

Bạn,

Theo báo quốc nội, tại nhiều huyện thuộc khu vực ngoại thành của Sài Gòn, phần đông cư dân trong tuổi lao động không còn đất sản xuất, không tay nghề, lại không muốn làm công nhân. Ba cái "không" này đã tạo áp lực nặng nề cho bài toán giải quyết việc làm của các địa phương, và nhiều công ty gặp khó khăn về tuyển công nhân. Báo Người Lao Động ghi nhận thực trạng này như sau.

Tại huyện Nhà Bè TPSG, 30 doanh nghiệp ở khu công nghiệp Hiệp Phước sắp đi vào hoạt động cần tuyển gần 2 ngàn lao động. Tuy nhiên, theo chi nhánh dịch vụ việc làm  huyện, dù chạy khắp nơi, các nhà đầu tư vẫn tuyển không đủ người. Khó nhất là lao động địa phương thất nghiệp nhiều, nhưng số tìm được việc làm ở khu công nghiệp này không nhiều...Chị Phạm Thị Út, xã Hiệp Phước, huyện Nhà Bè mang hồ sơ đến chi nhánh dịch vụ việc làm Nhà Bè xin được vào làm ở khu công nghiệp nói trên. Nhưng kết quả chị phải mang hồ sơ về vì không doanh nghiệp nào nhận. Lý do rất đơn giản: trình độ thấp, không có tay nghề. Chị Phạm Thị Út cho hay mình vốn là nông dân, quanh năm chỉ biết ra ruộng hoặc ở nhà làm nội trợ, đâu biết gì nhà máy, xí nghiệp... Đây có thể coi là một điển hình về tình trạng người dân ở ngoại thành, lao động diện tái định cư bị thất nghiệp do tiến trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Cũng ở huyện Nhà Bè, năm 2005, chi nhánh dịch vụ việc làm huyện được các doanh nghiệp trên địa bàn nhờ tuyển 8,019 lao động, nhưng số lao động được chi nhánh giới thiệu chỉ 2,256 lao động, trong đó số lao động địa phương rất ít. Tình trạng này cũng không được cải thiện trong năm 2006, khi chỉ có vài phần trăm lao động địa phương được cung ứng vào khu công nghiệp này. Đây cũng là thực trạng chung đang diễn ra tại hầu hết các khu công nghiệp-khu chế xuất như Tân Thuận, Linh Trung, Vĩnh Lộc, Tân Thới Hiệp, Quang Trung...

Theo Ban Quản lý các Khu chế xuất-khu công nghiệpTPSG, hiện nay,  thành phố Sài Gòn có 3 khu công nghiệp và 12 khu chế biến xuất cảng  hằng năm có nhu cầu tuyển dụng khoảng 50 ngàn lao động. Thế nhưng lao động là người TPSG được cung ứng cho các doanh nghiệp  trong các khu chế xuất, khu công nghiệp chỉ chiếm 25%, thậm chí có khu công nghiệp chỉ 5%.

Bạn,

Báo NLĐ dẫn lời ông Nguyễn Thanh Tùng, Giám đốc Trung tâm dịch vụ việc làm các khu chế xuất - khu công nghiệpTPSG, nhấn mạnh thêm xu hướng người dân TPSG hiện nay chỉ thích làm những việc nhẹ nhàng trong môi trường làm việc tốt và lương phải cao. Đó cũng là lý do khiến cho các doanh nghiệp khi có nhu cầu tuyển dụng lại chạy ra các tỉnh để gom người.

Toàn là thần chú và phép lạ cả. Điều mầu nhiệm là tuy chỉ được ăn bánh vẽ nhưng cả nước vẫn không ai kêu đói, và có người còn tấm tắc khen ngon. Mầu nhiệm hơn nữa là một dân tộc dễ chịu (và dễ dậy) tới cỡ đó mà vẫn sống sót được mãi cho đến đầu thế kỷ này.
Năm 2013, khi Tập Cận Bình nắm giữ hai chức vụ cao nhất trong đảng và chính quyền, với tham vọng lớn lao khi vạch ra cái bẫy “Nhất Đới Nhất Lộ”, nhằm thôn tính, quy về một mối từ kinh tế lẫn chính trị. Trung Quốc bỏ ra hàng nghìn tỷ Mỹ kim để ve vản, hối lộ quan chức thẩm quyền của các nước đồng lõa ký kết những dự án xây dựng. Bị sa vào bẫy nợ bao nhiêu, bị lệ thuộc vào Trung Cộng bấy nhiêu, từ thuê mướn trở thành đặc khu (lãnh địa của Trung Quốc) với 99 năm.
Vấn đề kỳ thị chủng tộc là chuyện rất bình thường ở đâu cũng có hết. Là người Việt sống tại hải ngoại chúng ta cũng không thể thoát ra khỏi vấn đề nầy. Tuy nhiên sự kỳ thị có ảnh hưởng nhiều hay ít đến nạn nhân hay không cũng còn tùy thuộc một phần lớn vào thái độ và cách suy nghĩ của mỗi người.
Vài năm vừa qua, giới quan sát quốc tế và quốc nội Hoa Kỳ đều nhận ra một điều là chính sách của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc ngày nay có xu hướng thiên về mặt cứng rắn hơn. Hầu hết các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ đều có một ý nghĩ chung là phải áp dụng một chính sách mới hầu giảm thiểu hoặc chí ít hạn chế tính cách hung hăng càng ngày càng trở nên rõ rệt của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) dưới quyền lãnh đạo của lãnh tụ tối cao, Chủ tịch nhà nước kiêm Tổng Bí thư Tập Cận Bình. Tình trạng căng thẳng giữa hai siêu cường, cộng thêm áp lực do trận đại dịch Covid-19 và kinh tế suy thoái, rất có thể sẽ khiến cái bề mặt tưởng chắc chắn như tường đồng vách sắt của Tập và Bắc Kinh có cơ rạn nứt.
Nhân dịp kỷ niệm 45 năm ngày 30 tháng 4 năm 1975, kết thúc chiến tranh Việt Nam và bắt đầu cuộc di cư tị nạn Việt Nam, tôi muốn chia sẻ một vài lời về sự kiên cường của chúng ta là người Mỹ gốc Việt, là người tị nạn và con cháu của người tị nạn. Cảm giác thế nào khi nền tảng của thế giới chúng ta đang sống bị rung chuyển đến mức chúng ta không còn biết mình đang đứng ở đâu hay làm thế nào để tiến về phía trước? Trước năm 2020, trước đại dịch COVID-19, chỉ những người đã chịu những bi kịch lớn mới có thể trả lời câu hỏi này. Bây giờ tất cả chúng ta đang sống với nó.
Nhưng vấn đề không đơn giản như họ nghĩ để buộc người miền Nam phải làm theo vì không còn lựa chọn nào khác. Trong 45 năm qua, ai cũng biết nhà nước CSVN đã đối xử kỳ thị và bất xứng với nhân dân miền Nam trên nhiều lĩnh vực. Từ công ăn việc làm đến bảo vệ sức khỏe, di trú và giáo dục, lý lịch cá nhân của người miền Nam đã bị “phanh thây xẻ thịt” đến 3 đời (Ông bà, cha mẹ, anh em) để moi xét, hạch hỏi và làm tiền.
Trong thực tế, một người tận mắt chứng kiến cảnh chiến xa CS chạy vào dinh Độc Lập ngày 30-4-1975, kể lại đầu đuôi câu chuyện cho người viết bài nầy rất rõ ràng và hoàn toàn khác với sách vở CS đã viết. Đó là giáo sư tiến sĩ Đỗ Văn Thành, hiện nay đang giảng dạy tại đại học Oslo, Na Uy (Norway).
Đến nay, đối với đồng bào ở trong nước và cộng đồng người Việt ở hải ngoại kể từ 30-4-1975, sau 45 năm, những ngày ấy, những năm tháng ấy, không bom đạn trên đầu, nhưng sao trong lòng của mỗi chúng ta cứ lo âu, xao xuyến, sục sôi những chuyển đổi. Không sục sôi chuyển đổi sao được, những tiến bộ Khoa học Công nghệ 4.0, nhất là sự tiến bộ của điện toán, của hệ thống truyền thông, thông tin vượt tất cả mọi kiểm soát, vượt mọi tường lửa, thế giới phô bày trước mắt loài người, trước mặt 90 triệu đồng bào Việt Nam, những cái hay cũng như những cái dỡ của nó một cách phũ phàng.
“Bà X khoảng bốn mươi tuổi, hiện đang sống với chồng và con gái trong một căn nhà do chính họ làm chủ, ở California. Bà nói thông thạo hai thứ tiếng: Anh và Việt. Phục sức giản dị, trông buồn bã và lo lắng, bà X tuy dè dặt nhưng hoàn toàn thành thật khi trả lời mọi câu hỏi được đặt ra. “Bà rời khỏi Việt Nam vào năm 1980, khi còn là một cô bé, cùng với chị và anh rể. Ghe bị cướp ba lần, trong khi lênh đênh trong vịnh Thái Lan. Chị bà X bị hãm hiếp ngay lần thứ nhất. Khi người anh của bà X xông vào cứu vợ, ông bị đập búa vào đầu và xô xuống biển. Lần thứ hai, mọi chuyện diễn tiến cũng gần như lần đầu. Riêng lần cuối, khi bỏ đi, đám hải tặc còn bắt theo theo mấy thiếu nữ trẻ nhất trên thuyền. Chị bà X là một trong những người này.
Tìm được ý nghĩa thực của phương trình từ năm 2012 nhưng không dám công bố vì còn kẹt một bí mật cuối cùng, loay hoay nghiên cứu, tìm tòi hàng năm không giải nổi. Nó nằm trong chữ C² (C bình phương) – bình phương tốc độ ánh sáng. Vật chất chỉ cần chuyển động nhanh bằng (C), tốc độ ánh sáng, là biến thành năng lượng rồi, còn sót cái gì để mà đòi bay nhanh hơn? – C+1 đã là dư. C nhân hai, nhân ba là dư quá lố, vậy mà ở đây còn dư kinh hồn hơn, là c bình phương lận – c nhân với c (186,282 x 186,282) nghĩa là khoảng 34,700,983,524 dặm/ giây!
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.