Hôm nay,  

Saigon Mới Của Chúng Ta

03/02/200700:00:00(Xem: 14423)
Saigon Mới Của Chúng Ta

LS Dina Nguyễn Hoàng Linh.

 Ngày 1 Tháng 2 Năm 2007

Kính Thưa Quý Đồng Hương,

Khi tôi đến Quận Cam vào năm 1977 thì chúng ta chỉ có một chợ Việt Nam ở đường Magnolia, một trung tâm người Việt và một nhà hàng trên đường First, và sau đó thêm được khu Bolsa Mini Mall.  Tôi nhớ mỗi khi chúng ta có tổ chức Tết, Quốc Hận 30 tháng 4, hoặc Trung Thu thì có những xe của người sắc tộc khác bấm còi giận dữ, người trong xe giơ tay chỉ trích, và la ó những câu như “Go back to where you came from!”  Trong chúng ta có người la lại, có người làm ngơ, và cũng có người chỉ đứng nhìn… nhưng tất cả chúng ta lại tiếp tục đồng đều, đoàn kết, và tập trung xây dựng nơi chúng ta gọi là Little Saigon. Nói chung là “chó sủa mặc chó đoàn lữ hành cứ đi”.  Qua bao nhiêu lần giấy phép xin xây dựng bị từ chối, qua bao nhiêu sự chống đối của những nghị viên trong thành phố, chúng ta vẫn không ngần ngại và vẫn lần lượt, có thể nói là thi đua, xây cất và cư ngụ tại nơi này. 

Rồi chợt một hôm tôi thấy trên TV có vài ngàn người biểu tình ở khu Bolsa Mini Mall. Đây là lần đầu tiên tôi biết đến Trần Trường và lần đầu tiên tôi thấy cộng đồng chúng ta biểu dương thế lực của mình. Lúc ấy là năm 1999.  Tôi phân vân tại sao một người trẻ như Trần Trường lại có những hành động trái ngược với những gì tôi đã được dạy bảo"

Theo tôi nhận xét, chúng ta đã định cư ở nơi này gần 24 năm khi chuyện này xảy ra, nhưng những dân tộc khác và ngay cả những chính quyền địa phương cũng vẫn chưa hiểu được sự quan tâm của chúng ta. Cảnh sát thành phố Westminster đã bắt giam vài người biểu tình tối hôm đó, nhưng sau khi có sự can thiệp của những người lãnh đạo (Việt) trẻ thì ty cảnh sát đã tha bổng những người này.

Trong những thời gian qua, chúng ta không những tranh đấu cho chúng ta mà còn tranh đấu cho cả những người Việt tị nạn khắp nơi và đòi tự do nhân quyền cho những người kém may mắn ở Việt Nam.  10 năm trước, tôi thắc mắc tại sao chúng ta phải quan tâm đến những vấn đề ngoài phạm vi địa phương, nhất là những vấn đề bắt nguồn từ Việt Nam. 

Việt Nam đâu còn là đất nước như chúng ta mong muốn" Nhưng mỗi năm trôi qua thì tôi càng nhận thức sự việc rõ ràng hơn.   Chúng ta giúp thuyền nhân trong chương trình Boat People SOS và cựu quân nhân trong chương trình HO, và giờ này họ đã là một thành phần của người Việt tị nạn, giúp cho số người của chúng ta đông đảo hơn. Chúng ta chống đối sự liên lạc hoặc đón tiếp Cộng Sản Việt Nam vào quê hương mới (Hoa Kỳ), vì chúng ta muốn bảo vệ tiếng nói của người Việt tị nạn và đồng thời dành cơ hội phát triển kinh tế về phần chúng ta. Chúng ta khuyến khích, thúc đẩy, dòi hỏi tự do nhân quyền và tự do dân chủ tại Việt Nam vì cuối cùng những sự thay đổi tốt đẹp đó sẽ mang lại một nền kinh tế tự do vững mạnh, và điều đó sẽ có lợi cho những nhà kinh doanh của chúng ta.  

Dĩ nhiên tôi biết vấn đề còn sâu thấm hơn nữa trong tâm hồn của những người cựu chiến sĩ Quân Lực VNCH. Viết đến đây tôi thật sự không cầm được nước mắt, những đau khổ của những người lính VNCH luôn luôn hiện diện trong suy nghĩ của tôi, luôn luôn có mặt trong lòng tôi; tôi đã chứng kiến hình ảnh những anh hùng một thời giờ thành phế binh hiện đang lê lết tranh đấu cho cuộc sống hàng ngày ở Việt Nam, tôi đã nghe kể những chuyện về biết bao nhiêu tù nhân chính trị bị hành hạ tinh thần, sống nhiều năm không đủ miếng ăn, dầm mưa giãi nắng, lao động bất kể năng lực, và sống chỉ dựa vào niềm hy vọng mỏng manh như một sợi chỉ. Nhờ sức mạnh tinh thần, sự ủng hộ nhiệt tình của những mạnh thường quân và sự đoàn kết chung, chúng ta đã gây áp lực để hoàn thành Tượng Đài Chiến Sĩ trong TP Westminster nhằm ghi ơn và tưởng niệm các anh hùng đã hy sinh cho đất nước, để chúng ta có được tự do. 

Đến đây tôi muốn hướng về tương lai của chúng ta ở đất nước mới.  

Quả thật chúng ta đã đi được một khoảng đường dài trong thời gian rất ngắn, những người lãnh đạo do chúng ta đề cử đã tranh đấu để thúc đẩy đưa chương trình Việt Ngữ vào những trường trung học trong học khu Westminster và Garden Grove. Họ cũng đã góp tay giúp thành lập nhiều trường để dạy Việt Ngữ, Văn Hóa Việt Nam, và Lịch Sử Việt Nam mỗi cuối tuần cho hằng ngàn trẻ em gốc Việt.  Chúng ta đã đưa được 12 người Mỹ gốc Việt vào guồng máy chính trị Mỹ và có nhiều người Mỹ gốc Việt khác đã được bổ nhiệm vào những chức vụ quan trọng của liên bang và tiểu bang. Người Việt chúng ta đã chiếm hơn 50% khu vực kinh doanh của thành phố Westminster và hiện đang lan vào khu vực kinh doanh của Garden Grove.  Theo thống kê, hơn 30% người Việt chúng ta cư ngụ  trong thành phố Westminster và hơn 40% trong Garden Grove; theo đó, không có lý do nào mà quyền lợi của chúng ta vẫn bị hạn chế.  Một thí dụ thực tế về việc quyền lợi chúng ta bị xâm phạm là quyền tự do tôn giáo, Hội Đồng Thành Phố Garden Grove đã dựa trên những lý do không chánh đáng để bác bỏ thỉnh nguyện của bao nhiêu Phật tử xin được phép xây một ngôi chùa nằm trên đường Chapman. Sau 31 năm, chúng ta vẫn phải đương đầu với bao khó khăn, vẫn phải cực lực tranh đấu cho những quyền lợi căn bản của chúng ta.  Vì vấn đề này đã được phổ biến rỗng rãi trong những tuần vừa qua, tôi xin miễn nhắc lại và xin được phép nói qua một đề tài không kém phần quan trong. 

Khi tôi dẫn các con đi chơi trong khu Phước Lộc Thọ, tôi có gặp nhiều người sống ngoài đường “homeless”.  Trong những người đó tôi có quen 1 người từ lúc 12 tuổi, và biết đến một cô trước đây là ca sĩ nổi tiếng. 

Tôi hỏi người bạn tại sao anh ta không đi vào nhà tạm trú shelter để được giúp đỡ hoà mình trở lại với xã hội, anh nói với tôi “Ở khu này không có shelter thích hợp cho những người Việt Nam”.  Hỏi thêm thì tôi mới biết những shelters ở rất xa khu Việt Nam và không được an toàn cho lắm vì họ phải ở chung với những người có tiền án phạm tội hoặc có bệnh tâm thần. Anh năn nỉ tôi kiếm giùm cho anh việc làm, nhưng chỉ part time thôi vì sức khoẻ anh ta không được tốt do ăn uống bất thường và đêm ngủ dưói sương, dưới mưa lạnh lẽo mùa Đông.  Tôi lập tức điện thoại cho vài nhà shelters, nơi nào cũng rất xa khu Việt Nam, và nơi nào cũng không có đủ giường. Tôi rất thất vọng và buồn, càng cảm thấy đây là một trong những lý do tôi quyết định phải dấn thân vào chính trị và phải đoàn kết với những người tôi biết không những có khả năng mà còn cùng chí hướng, hiểu biết và có nhiệt tình với chúng ta.   

Có vài người bạn đồng nghiệp và lãnh đạo nói với tôi là “Hãy âm thầm đứng sau lưng người mình ủng hộ”. Tôi rất ngạc nhiên về lời khuyên này nhưng không phản bác ngay vì kính nể sự đóng góp ý  kiến của họ.

Tôi đã suy nghĩ rất kỹ về vấn đề này. Điều thứ nhất, tôi tự hỏi tại sao chính trị Mỹ lại có hai phe chính là đảng Cộng Hòa và Dân Chủ, và mỗi khi tranh cử thì một trong những người được chọn ra từ hai đảng này sẽ đắc cử"  Có phải họ rất mạnh vì những thành viên của họ kết hợp lại có tư tưởng giống nhau" Còn vị trí chúng ta ở đâu khi khi bị loại ra từ hai đảng chính này" Chúng ta có thể nương tựa vào ai"

Điều thứ nhì, là một người đại diện cho quần chúng, nếu không có can đảm để tranh đấu cho lẽ phải, lợi ích, hoặc những điều hay thì làm sao tôi có thể bảo vệ quyền lợi của chúng ta"  Chúng ta không còn là Bolsa Mini Mall, Phước Lộc Thọ, hoặc Little Saigon…ngày nay chúng ta là một khu vực lớn, và là một Saigon mới.  Hết tất cả anh hùng của chúng ta đã đến nơi đây, hết tất cả những người trí thức của chúng ta đã đến nơi đây,  và nơi đây là cái lò rèn luyện cho các con em học giỏi, có tài cao để tiến bước lên vào giòng chính của xã hội Mỹ nhưng không mất đi sự quan tâm về văn hóa và truyền thống của người Mỹ gốc Việt. 

Trong những năm qua, tôi rất hân hạnh đã có cơ hội làm việc với một số người lãnh đạo, ủy viên, và dân cử Mỹ gốc Việt. Sự đoàn kết của họ đã cho tôi niềm hy vọng về sự phát triển tinh thần, xã hội, văn hóa, kinh tế, và năng lực của chúng ta.

Vào tháng 5, 2006, LS Nguyễn Hoàng Dũng đã tạo cho tôi cơ hội đến Tòa Bạch Ốc gặp những người phụ nữ đang giữ vài trò lãnh đạo và chính trị Á Châu và Thái Bình Dương.  Sự gặp gỡ này đã giúp tôi hiểu biết thêm về công việc của những hội đoàn bất vụ lợi và những công ty rất thành công bởi những người phụ nữ Á Châu và Thái Bình Dương. Trong đó có cô Anh Đỗ của Công Ty Người Việt Daily News và Cô Thanh Thảo của đài Viet Abroad Television. 

Sau đó, qua mùa Giáng Sinh 2006, LS Trần Thái Văn đã có lòng mời một số anh em dân cử đến tham dự buổi tuyên thệ của anh ở Sacramento. Dù không ai nói với nhau, những người tham dự đều hiểu rằng LS Văn muốn tạo cơ hội cho chúng tôi gặp những người dân cử khác ở khu vực Nam và Bắc Cali, và chúng tôi hiểu sự quen biết rộng rãi sẽ rất quan trọng khi chúng tôi cần đến sự tiếp tay của họ trong những dự án liên quan đến khu vực của chúng ta. Cũng giống như tôi, những người dân cử gốc Việt này rất nhiệt tình và luôn tin tưởng rằng sự đoàn kết và ủng hộ lẫn nhau sẽ đem đến những quyền lợi tốt đẹp chung. 

Đường chúng ta đi còn dài. Càng ngày khu vực của chúng ta càng bành trướng, cư dân người Việt chúng ta càng đông đảo, và vấn đề của chúng ta cũng vì đó mà càng nhiều và rắc rối.  Là một người phụ nữ Việt, tôi hiểu rất rõ ý nghĩa của hai chữ khiêm nhường. Tuy nhiên trong cương vị một người lãnh đạo và là một người di dân, nếu muốn đạt được mục đích tôi không thể lặng yên đứng sau lưng người tôi ủng hộ. Tôi sẽ đứng bên cạnh người tôi ủng hộ và người ủng hộ tôi sẽ đứng bên cạnh tôi. 

Kính thưa quý vị,

Tôi viết bức tâm thư này vì tôi hết sức quan tâm đến quyền lợi của chúng ta. Trong hai tháng vừa qua, chúng ta đã phân vân bởi việc có 3 ƯCV gốc Việt tham gia trong cuộc tranh cử Giám Sát Viên trong Khu Vực 1 của Quận Cam. Chúng ta lo lắng nôn nao trong lòng vì thấy các bài báo hoặc quảng cáo đi quá sâu vào đời tư và danh dự của các ƯCV.  Nhưng chúng ta hãy nhìn xuyên qua những “con bài” chính trị và hãy hiểu những vấn đề chính. Ai hiểu rõ về lịch sử của người Việt tị nạn chúng ta" Ai hiểu được những nhu cầu của chúng ta" Ai đã dám nói và dám làm, và đã mang về kết quả mỹ mãn cho chúng ta" Ai có một cái nhìn xa cho tương lai của chúng ta" Ai là người thực tế" 

Người xứng đáng không phải là người có nhiều bài đăng trên báo nhất, hoặc có nhiều tiền để campaign, hoặc trẻ nhất, hoặc già nhất, nhưng phải là người có khả năng gánh nổi trọng trách đã giao, có khả năng phục vụ vì lợi ích chung chứ không vì lợi ích cá nhân (one with the ability to deliver and promote unselfishly for the benefit of others).

Có nhiều lá phiếu chưa được gởi đến văn phòng ghi danh bầu cử, tôi khẩn thiết kêu gọi đồng hương hãy bỏ phiếu bầu, vì mỗi lá phiếu của quý vị là lá phiếu rất cần thiết để chúng ta có thể bảo đảm sự đắc cử của một người đồng hương xứng đáng.

Trân trọng kính chào Quý Đồng Hương,

LS Dina Nguyễn Hoàng Linh, Nghị Viên thành phố Garden Grove

Bàn về kinh tế không thể không nhắc đến tiền. Tiền không mua được hạnh phúc nhưng không có tiền thì…đói. Tiền mang lại tự do (có tiền mua tiên) hay biến con người thành nô lệ đồng tiền. Con nít lên 3 đã biết tiền dùng để mua bánh kẹo, vậy mà các kinh tế gia giờ này vẫn không đồng ý chuyện tiền để làm chi!
Sau ngày 30/4/1975, nếu phe chiến thắng đã có những chính sách mang lại sự hoà giải quốc gia, đối xử nhân bản với bên thua trận, thay vì cải tạo học tập, càn quét và thiêu huỷ văn hoá miền Nam, đánh tư sản mại bản, thì đã không có hàng triệu người bỏ nước ra đi và người Việt sẽ chẳng mấy ai còn nhớ đến một đất nước của quá khứ, tuy chưa hoàn toàn tự do dân chủ nhưng so với Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thì người dân đã được tự do hơn bây giờ rất nhiều.
Tất nhiên phải “thành công” vì đảng một mình một chợ, không có ai cạnh tranh hay đòi chia phần. Nhưng việc đảng chọn cho dân bầu chỉ để tuyên truyền cho phương châm “ý đảng lòng dân”, trong khi người dân không có lựa chọn nào khác mà buộc phải đi bỏ phiếu để tránh bị làm khó trong cuộc sống.
Âm nhạc dễ đi vào lòng người, với hình bóng mẹ, qua lời ca và dòng nhạc, mỗi khi nghe, thấm vào tận đáy lòng. Trước năm 1975, có nhiều ca khúc viết về mẹ. Ở đây, tôi chỉ đề cập đến những ca khúc tiêu biểu, quen thuộc đã đi vào lòng người từ ngày sống trên quê hương và hơn bốn thập niên qua ở hải ngoại.
Những bà mẹ Việt xưa nay rất chơn chất thật thà, rất đơn sơ giản dị cả đời lo cho chồng con quên cả thân mình. Sử Việt nghìn năm đương đầu với giặc Tàu, trăm năm chống giặc Tây. Những bà mẹ Việt bao lần âm thầm gạt lệ tiễn chồng con ra trận, người đi rất ít quay về. Những bà mẹ âm thầm ôm nỗi đau, nỗi nhớ thương da diết.
Trước công luận, Eisenhower lập luận là cuộc chiến không còn nằm trong khuôn khổ chống thực dân mà mang một hình thức chiến tranh ủy nhiệm để chống phong trào Cộng Sản đang đe doạ khắp thế giới. Dân chúng cần nhận chân ra vấn đề bản chất của Việt Minh là Cộng Sản và chỉ nhân danh đấu tranh giành độc lập cho Việt Nam; quan trọng nhất là phải xem ông Hồ chí Minh là một cánh tay nối dài của Liên Xô. Đó là lý do cộng đồng quốc tế cần phải tiếp tục hỗ trợ cho Pháp chiến đấu.
Dù vẫn còn tại thế e Trúc Phương cũng không có cơ hội để dự buổi toạ đàm (“Sự Trở Lại Của Văn Học Đô Thị Miền Nam”) vào ngày 19 tháng 4 vừa qua. Ban Tổ Chức làm sao gửi thiệp mời đến một kẻ vô gia cư, sống ở đầu đường xó chợ được chớ? Mà lỡ có được ai quen biết nhắn tin về các buổi hội thảo (tọa đàm về văn học nghệ thuật miền Nam trước 1975) chăng nữa, chưa chắc ông Nguyễn Thế Kỷ – Chủ Tịch Hội Đồng Lý Luận, Phê Bình Văn Học, Nghệ Thuật – đã đồng ý cho phép Trúc Phương đến tham dự với đôi dép nhựa dưới chân. Tâm địa thì ác độc, lòng dạ thì hẹp hòi (chắc chỉ nhỏ như sợi chỉ hoặc cỡ cây tăm là hết cỡ) mà tính chuyện hoà hợp hay hoà giải thì hoà được với ai, và huề sao được chớ!
Lời người dịch: Trong bài này, Joseph S. Nye không đưa ra một kịch bản tồi tệ nhất khi Hoa Kỳ và Trung Quốc không còn kiềm chế lý trí trong việc giải quyết các tranh chấp hiện nay: chiến tranh nguyên tử có thể xảy ra cho nhân loại. Với 8000 đầu đạn hạt nhân của Nga, khoảng 270 của Trung Quốc, với 7000 của Mỹ, việc xung đột hai nước, nếu không có giải pháp, sẽ là nghiêm trọng hơn thời Chiến tranh Lạnh.
Kính thưa mẹ, Cứ mỗi tháng 5 về, nước Mỹ dành ngày Chủ Nhật của tuần đầu tiên làm Ngày của Mẹ (Mother's Day), ngày để tôn vinh tất cả những người Mẹ, những người đã mang nặng đẻ đau, suốt đời thầm lặng chịu thương, chịu khó và chịu khổ để nuôi những đứa con lớn khôn thành người.
Khoảng 4.500 người đã được phỏng vấn, trong đó có khoảng 700 người gốc Á. 49% những người được hỏi có nguồn gốc châu Á đã từng trải qua sự phân biệt chủng tộc trong đại dịch. Trong 62 phần trăm các trường hợp, đó là các cuộc tấn công bằng lời nói. Tuy nhiên, 11% cũng bị bạo hành thể xác (koerperliche Gewalt) như khạc nhổ, xô đẩy hoặc xịt (phun) thuốc khử trùng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.