Hôm nay,  

Tinh Hoa Tây Tạng

06/04/200700:00:00(Xem: 9501)

Hình ảnh tại ngôi vườn báu Tây Tạng trên đất Ấn Độ

   Từ nguyên ủy, Norbulingka là dinh cơ gồm một ngôi điện và một vườn hoa ở gần thủ đô Lhasa của Tây Tạng. Dưới tên Tây Tạng là "vườn báu", Norbulingka được xây dựng từ năm 1755 và trở thành dinh mùa hè của các vị Đạt Lai Lạt Ma, cách dinh mùa đông tại Potala chừng ba cây số. Norbulingka mới được tổ chức UNESCO xếp loại di tích lịch sử kể từ năm 2001.

Nhưng đó là báu vật Tây Tạng dưới tàng cây Trung Quốc, có cái dạng của một cuộn dây thép gai vô hình, được trưng ra để vét tiền du khách và chứng minh giá trị của nền văn minh Đại Hán.

Norbulingka ấy coi như vô chủ kể từ khi Tây Tạng bị chiếm đóng năm 1959 và đức Đạt Lai Lạt Ma phải sống lưu vong bên Ấn Độ, trên đất Dharamsala.

Trên đất Dharamsala này, dân Tây Tạng lưu vong đã cố duy trì và bảo tồn nét văn hoá của họ đang bị tiêu diệt lần mòn tại Trung Quốc. Một trong những nơi mà văn hoá và nghệ thuật Tây Tạng được tái tạo và phát huy ở Dharamsala là "Viện Norbulingka".

Cách đặt tên cũng là một gợi nhớ đến "vườn báu Norbulingka" tại Lhasa.

Chúng tôi có dịp ghé thăm Viện Norbulingka này ở tại Dharamsala.

Đến nơi mới thấy sự vĩ đại của người dân Tây Tạng.

Thế giới và các du khách vô tâm có thể hài lòng với Norbulingka tại Lhasa với một số tiết mục văn hoá và nghệ thuật (rất ít tôn giáo) được chính quyền Trung Quốc duy trì làm cảnh. Làm vật trang trí cho chánh sách thực dân và diệt chủng văn hoá của họ trên lãnh thổ Tây Tạng. Nếu như không biết, hoặc có quên, thì thế giới cần nhớ là một trong ba tu viện lớn nhất của Tây Tạng trong khu vực Lhasa là tu viện Ganden Shartse do chính vị đại sư sáng lập ra dòng Gelugpa là Tsongkhapa xây dựng từ năm 1409 đã bị Hồng quân Trung Quốc phá hủy hoàn toàn sau vụ xâm lăng năm 1959. Ngày nay, tu viện Ganden lớn nhất của Tây Tạng hiện nằm trong tiểu bang Tarnataka tại miền Nam Ấn Độ. Lớn gấp bội so với Tu viện Ganden nguyên thủy tại Tây Tạng.

Vấn đề ở đây không nằm trong kích thước mà trong ý chí.

Khi phải lưu vong nơi đất khách và nhìn thấy quê hương bị tàn phá, đền đài bị hủy diệt, văn hoá bị xóa bỏ, dân Tây Tạng tỵ nạn đã có ngay một phản ứng tâm linh và tâm lý đáng quý. Đó là bằng mọi giá phải duy trì được tinh hoa văn hoá nghệ thuật của dân tộc, hầu sau này dân Tây Tạng và nhân loại còn biết thế nào là văn hoá Tây Tạng.

Nơi sẽ tập trung những tinh hoa ấy là một khoảnh đất hoang tại Dharamsala.

Họ quyết định xây ra một viện bảo tàng. Viện Norbulingka trở thành cơ quan vô vụ lợi, một quỹ tín thác cho mục tiêu văn hoá, được chính đức Đạt Lai Lạt Ma làm Chủ tịch.

Năm đó là 1984, 25 năm sau khi Tây Tạng bị xâm chiếm.

Dân Tây Tạng có phản ứng sinh tồn văn hoá rất đặc biệt, có lẽ mãnh liệt hơn phản ứng sinh tồn kinh tế hay sinh lý của nhiều sắc dân khác. Sự khuyến khích hay dạy dỗ của đức Đạt Lai Lạt Ma có thể là một động lực quan trọng. Đặt chân lên đất tạm cư, việc đầu tiên họ làm là xây trường học, thực ra cũng là tu viện vì Phật giáo là một phần không tách rời khỏi văn hoá hay nghệ thuật Tây Tạng.

Nhưng, ngoài các trung tâm quảng bá văn hoá, là ngôn ngữ và lịch sử Tây Tạng cùng với giáo lý nhà Phật, họ cũng phải có nơi thu thập và đào luyện nghệ sĩ trong các địa hạt như mỹ thuật, hội họa, kiến trúc và các ngành thủ công mỹ nghệ khác. Trong ý hướng của dân Tây Tạng lưu vong tại Ấn Độ, Viện Norbulingka là nơi đó.

Dân Tây Tạng lưu vong trên thế giới chỉ vỏn vẹn có chừng một trăm ngàn người, những thế hệ đào thoát khỏi Tây Tạng sau này thì đã có nhiều năm sinh sống dưới chế độ xã hội chủ nghĩa với "màu sắc Trung Hoa", tức là "phi Tây Tạng". Làm sao thu thập người tài và đào tạo ra thế hệ nghệ nhân sẽ tiếp nối truyền thống văn hoá mỹ thuật nguyên thủy"

Và trước tiên, tìm đâu ra tiền mua đất cho những người này có một chốn dung thân, nuôi nghề và dạy nghề"

Dân Tây Tạng chưa hề nổi tiếng là giỏi kinh doanh buôn bán như người Hoa, người Việt, người Lebanon hay dân Do Thái, cho nên tiền bạc là bài toán đầu tiên.

Bài toán ấy được đặt ra từ năm 1984, với quyết định thành lập Viện Norbulingka trên một vùng đất hoang nằm trong thung lũng Kangra dưới chân Dharamsala. Thay vì phải sống trong một lồng kính văn hóa dựa trên những gì đem theo trong ký ức, họ vận động quyên góp từ bốn phương và được sự yểm trợ quý báu của nhiều nhà hằng tâm hằng sản thế giới, trước tiên là một khoản tiền do chính đức Đạt Lai Lạt Ma cúng dường.

Nhờ đó, họ mua được khoảnh đất vây quanh một cây bồ đề có tuổi thọ là 500 năm.

Và một đặc tính Tây Tạng đã được thấy ngay từ ngày đó.

Họ phác hoạ trong đầu và trên giấy sơ đồ kiến trúc của cả quần thể, thay vì xây dựng và phát triển theo kiểu "liệu cơm gắp mắm", mỗi năm một ít theo đà bành trướng của phương tiện mà thành tùy tiện, lệch lạc. Họ cũng không... chấp vào hình tướng là phải tìm kiến trúc sư Tây Tạng dựng hoạ đồ thì mới có bản sắc dân tộc. Bộ Tôn giáo và Văn hoá của Chính phủ Lưu vong Tây Tạng mời một kiến trúc sư Nhật Ban thiết kế mô hình, nhưng căn cứ trên một bức tranh thờ đức Quán Thế Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn của mỹ thuật tôn giáo Tây Tạng.

Đức Đạt Lai Lạt Ma vốn là một hiện thân của Bồ Tát Quán Thế Âm.

Chuyện kế tiếp là một thực tế có ánh nhiệm màu của một phép lạ.

Năm 1987, một vị đại sư thuộc đẳng trật Rinpoche (Đạo sư Báu vật Tây Tạng) được mời qua Anh nói chuyện trong một chương trình trao đổi về tôn giáo và gặp một nhà tu dòng Benedictine. Nhà tu này lại là bạn thân của một doanh gia kiêm nhà sưu tập hoạ phẩm nổi tiếng thế giới là Nam tước (Baron) Thyssen-Bornemisza nên ông thu xếp cho hai người gặp nhau.

Trong kho báu vật của Baron Thyssen có tấm tranh con trâu núi Tây Tạng (con yak) do một vị Ban Thiền Lạt Ma tặng cho từ thế kỷ 18. Mà vị Đại sư này cũng là một trong những người được tin là hoá thân của một Ban Thiền Lạt Ma!

Câu chuyện giữa cao tăng Tây Tạng và doanh gia Âu châu chuyển dần về Tây Tạng và khi được hỏi, vị Đại sư Tây Tạng (tên Ngài là Panchen Otrull Rinpoche) mới kể, rằng chúng tôi đang lập ra một Viện bảo tàng và hiện phải đón nhận rất nhiều vị sư trốn thoát từ Tây Tạng. Chúng tôi cần tiền nuôi sư và nhất là tạo điều kiện cho các thầy truyền lại những kiến thức mỹ thuật và hội họa cho viện bảo tàng này để nuôi dưỡng thế hệ sau.

Sau bài toán thiết kế và xây dựng, tấm chi phiếu (chắc là rất lớn) của Baron Thyssen lập tức giải quyết bước đầu của bài toán điều hành. Và năm sau, 1988, đức Đạt Lai Lạt Ma đã gặp cả gia đình của nhà kinh doanh hằng tâm này. Cũng từ đấy, gia đình Thyssen còn tổ chức nhiều cuộc triển lãm quốc tế để dân Tây Tạng giới thiệu hội họa và mỹ thuật của họ cho cả thế giới.

Những quan hệ ấy đã nuôi sống, từ tiền bạc đến phần hồn, phần nghệ thuật và văn hoá, của Viện Norbulingka.

Đây là nơi mà tinh hoa Tây Tạng được lưu giữ, truyền bá và các họa sư, nghệ sĩ đích thực của Tây Tạng có nơi thi thố tài năng và đào luyện các thế hệ nghệ nhân nối tiếp. Mỹ nghệ phẩm đủ loại và nhất là các tượng Phật và tranh thờ của Tây Tạng (gọi là thangka) do Norbulingka sản xuất là loại hàng siêu hạng về nghệ thuật và phẩm chất.

Cực đắt mà cực đẹp.

Trong khuôn viên của Viện Norbulingka, người ta cũng thấy ra nét mỹ thuật tinh vi trau chuốt của Tây Tạng, không thua kém bất cứ một Thiền viên, một vườn Thiền, nào của Nhật Bản. Mà hoàn toàn khác hẳn mỹ thuật Trung Hoa.Từ Dharamsala đi Norbulingka người ta mất chừng nửa tiếng xe lam, hay nửa ngày đi bộ, mất thêm chừng vài ký mỡ dư thừa trong thân thể. Nhưng quả là đáng xem. Nếu có một nơi khả dĩ minh chứng rằng văn hoá mỹ thuật Tây Tạng không hề bị mai một thì đấy là Viện Norbulingka.

Người viết đã tới một lần và hôm sau còn một mình quay lại mất nửa ngày để xem cho hết. Không thể xem hết được, nhưng sự cảm phục thì còn mãi cho đến nay. Vì vậy mới có bài này...

Tôi “nhặt” được câu danh ngôn (thượng dẫn) trong Chuyện Kể Năm 2000, tập II, của Bùi Ngọc Tấn. Chỉ có điều đáng tiếc là tác giả quên ghi rõ là đồng chí TBT nào đã phát biểu một câu nói “đắt giá” tới cỡ đó. Mãi đến khi cùng cụng ly với tác giả ở California (ông chơi một ly sinh tố to đùng, ngó mà ớn chè đậu) tôi mới có dịp nêu thắc mắc, và nhận được câu trả lời hóm hỉnh : “Thì ông TBT nào mà chả nói thế.”
Vì ở hải ngoại quá nhiều chuyện cộng đồng, chuyện nước Mỹ và chuyện thế giới nóng bỏng cho nên tôi không chú ý tới chuyện cô bé 15 tuổi chết vì tai nạn giao thông ở Hải Phòng. Theo thống kê của báo Thanh Niên, tại Việt Nam, chỉ nội năm 2022 đã có 6000 người chết vì tai nạn giao thông. Con số thật kinh hoàng! Số người chết này chẳng phải tại số hay nghiệp mà vì đường xá quá hẹp, xe cộ lại nhiều, không bảng giới hạn tốc độ trong thành phố, không đủ cảnh sát kiểm soát giao thông, nhiều chỗ không đèn xanh đèn đỏ, lái ẩu, chưa điều khiển được xe mà đã lái xe, cho nên mới chết nhiều như thế
Đảng nói vậy mà không phải vậy cho nên dân gian mới nói: “Đừng nghe những gì Đảng nói mà hãy nhìn kỹ những gì Đảng làm” (nói theo câu tuyên bố bất hủ của cố Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu: “Đừng nghe những gì Cộng sản nói mà hãy nhìn kỹ những gì Cộng sản làm”...
Với cuộc tấn công của Nga tại Ukraine, vai trò của Tổ chức Minh ước Bắc Đại Tây Dương (North Atlantic Treaty Organization, NATO) như là một liên minh phòng thủ đã được thảo luận sôi nổi. Vấn đề là khối NATO, kể từ khi thành lập cho đến nay, đã có các chiến lược phát triển nào ở Đông Âu và từ khi cuộc chiến Ukraine bùng nổ thay đổi ra sao?
Còn ở giữa lòng Hà Nội (nơi được mệnh danh là “Thủ Đô Của Lương Tâm & Phẩm Giá Con Người”) thì Toán Xồm chả hề có được chút cơ hội hay cơ may nào sất, và dường như ông không có chi để lại cho đời – dù chỉ là một “đôi dép nhựa”!
Cuộc xâm lăng của Nga vào Ukraine đã đập tan huyền thoại Tổng thống Nga Vladimir Putin là một nhà độc tài bất khả xâm phạm. Trước ngày 24 tháng 2 năm 2022, Putin có thể tỏ ra là vô đạo đức và hiếu chiến, nhưng qua các cuộc phiêu lưu quân sự ở Syria, Crimea, và xa hơn nữa, ông ta có vẻ như là một chiến lược gia có năng lực. Thế rồi, trong một nước cờ tính toán, ông ta thể hiện sự kém cỏi của mình bằng cách xâm lăng một quốc gia không hề gây ra mối đe dọa nào cho nước Nga, và thất bại hết phen này đến phen khác trong những mưu lược quân sự của mình – mà ví dụ mới nhất là cuộc binh biến diễn ra trong thời gian ngắn ngủi do ông Yevgeny Prigozhin, thủ lĩnh nhóm lính đánh thuê Wagner, chủ mưu hôm cuối tuần qua. Điều này, thêm một lần nữa, cho thấy huyền thoại độc tài của Putin đang trên đà suy yếu
Thỉnh thoảng, báo chí quốc doanh vẫn có mấy mẩu tin ngăn ngắn về Lễ Trao Huy Hiệu Tuổi Đảng cho đồng chí này hay đồng chí nọ. Ngoài Việt Nam, dường như, không đâu có cái thứ “lễ lạt” nhạt nhẽo và chán phèo như thế cả. Xứ sở này, không chừng, cũng dám là nơi duy nhất mà danh tính của một cá nhân thường kèm theo tuổi … đảng:
Các tuyên bố chính thức về "các giá trị chung" của Ấn Độ và Mỹ không tạo nên một liên minh. Theo sau logic cơ bản của chính trị về việc quân bình quyền lực, Ấn Độ và Mỹ dường như xem đó không phải một cuộc hôn nhân do định mệnh đã an bài mà là một mối quan hệ đối tác trong lâu dài, một mối quan hệ có thể kéo dài chỉ chừng nào mà cả hai nước vẫn còn bận tâm với Trung Quốc.
Câu hỏi đặt ra là: Nhân dân nào đã bỏ phiếu trao quyền lãnh đạo cho Đảng, hay Đảng đã tự biên, tự diễn để chiếm quyền làm chủ đất nước của dân?
✱ Cố vấn Bộ Thương Mại: Mục tiêu chung của Trung Quốc là "sắp xếp lại trật tự thế giới"- Sự gia tăng của "một trật tự tập trung vào Trung Quốc với các quy chuẩn và giá trị riêng" là một lời thách thức mà Bilderberg phải đối mặt - Họ không ngại một trật tự thế giới mới, nhưng họ muốn nó phải được tạo ra tại Bilderberg, chứ không phải là “ Made in China”. ✱ Google CEO: Trung Quốc hiện đang dành nguồn lực khổng lồ để vượt qua Hoa Kỳ trong các công nghệ, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo". ✱ Guardian: Đáng kinh ngạc là Kissinger đã tham dự các cuộc họp Bilderberg từ năm 1957. "Sự ám ảnh với bí mật ngoại giao cá nhân – với hồ sơ năm 1975” về chính trị gia gây tranh cãi này đã phù hợp với mong muốn của Bilderberg là giữ bí mật cuộc họp hàng năm. ✱Về “hồ sơ 1975 ": Các chính sách từ phía Liên Xô và Mỹ liên quan đến cuộc chiến Việt Nam - kết quả cuộc " bí mật ngoại giao cá nhân" của ông Kissinger đã dẫn đến VNCH bị bức tử...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.