Hôm nay,  

Viết Trên Cát

02/12/200700:00:00(Xem: 9869)

Tôi ngồi lặng lẽ, nhìn những lá phong vàng sậm và đỏ ối, âm thầm rơi trong không gian  tinh mơ quanh khu nhà quàn. Thấp thoáng vào, ra, là những người chít khăn tang trắng, gương mặt phờ phạc, buồn rầu. 

Cả một trời thu im lắng, u hoài trùm phủ quanh tôi.

Ngồi trong lòng xe nơi bãi đậu, tôi đang chờ quý thầy, trên đường tới tụng kinh hộ niệm cho người quá vãng của một gia đình nghèo mà thầy tôi vừa tình cờ biết tin.

Gió nhẹ.

Lá thu rơi.

Người còn.

Kẻ mất.

Hợp rồi tan.

Ai cũng biết thế, nhưng dường như những lá thu rơi nhẹ nhàng, thanh thản hơn con người lúc ra đi. Lá lìa cành, theo gió, bay lượn êm ả như vẫy  chào cây, rồi thầm lặng nằm trên mặt đất. Đất ân cần đón lá, lá an nhiên tiếp nhận nắng mưa, và lá biết rằng, rồi lá sẽ thành đất, để đất lại nuôi cây …

Bỗng nhiên, những tiếng gào khóc bật lên từ bên trong nhà quàn, vang động, xé rách không gian đang lặng lẽ! Tiếng khóc, tiếng kể lể, tiếng thảm thiết gọi tên người vừa chết làm xôn xao những người đang hiện diện.

Nhưng bên ngoài, nơi tôi vẫn ngồi yên trong lòng xe, gió thu vẫn thổi nhẹ, lá thu vẫn thong thả rơi, đất vẫn thầm lặng, nhẫn nhục, nhận những Đến và Đi …

Những tiếng khóc khi người-mất-người có mang chút nào ân hận vì đã chẳng tử tế đủ, khi còn nhau hay không"

Có lẽ nhiều ân hận, người ta mới khóc than như thế! Nếu sống với nhau mà tử tế, mà thủy chung như cây với lá thì sự ra đi chỉ là tạm biệt, là chuyển hóa.

Tử tế với nhau thì có gì ân hận lúc chia tay theo lẽ vô thường!

Tiếng gào khóc càng lúc càng bi thương. Phải chi tôi có thể kể cho người đang khóc nghe một câu chuyện ngắn mà tôi từng được nghe từ một vị giảng-sư.

Hai huynh đệ đồng tu, khá thân thiết, đang cùng đi trên sa mạc. Hai vị nói đủ các thứ chuyện quanh đề tài tu học, và ở một đề tài, có sự bất đồng đến mức huynh thẳng tay giáng cho đệ một bạt tai.

Đệ không nói gì, quỳ xuống trên cát, dùng ngón tay viết giòng chữ “Hôm nay bạn tôi đã tát tôi.”

Hai người tiếp tục đi, không ai nói gì với ai nữa.

Ngang qua một khu sình lầy, người em hụt chân, lún xuống bùn. Lập tức, người anh đưa tay, kéo em lên. Không một lời cám ơn, hai người tiếp tục đi, ra khỏi sa mạc, tới vùng đồi núi. Người em nhìn quanh, tiến tới một tảng đá lớn, dùng những viên sỏi nhọn, vận dụng hết sức lực để viết trên đá giòng chữ “Hôm nay bạn tôi đã cứu tôi”.

Lúc đó, người anh mới lên tiếng hỏi:

- Sao lúc huynh tát đệ, đệ viết trên cát, mà lúc cứu đệ, đệ lại viết trên đá"

- Thưa huynh, những tàn nhẫn, đau buồn, hãy viết trên cát để cát bụi thời gian xóa nhòa đi; nhưng những tử tế, ơn nghĩa phải viết trên đá mà ghi tâm khắc cốt.

Câu chuyện chỉ có thế, nhưng nước mắt tôi đã lã chã rơi vì biết rằng, giữa cõi ta-bà chập chùng những dối gian, bội phản, tàn nhẫn này, phải có  bao nhiêu bãi cát để nhân gian viết đủ"!

Nhưng may thay, cũng an ủi, là đứng trước tảng đá, cắn ngón tay chảy máu làm mực, người con Phật còn lòng biết ơn sâu sa để viết xuống sáu chữ:

"NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT”

(Tạm biệt trăng thu- thành phố Biển Dài)       

Dấu Ấn Nghệ Thuật là tựa cuốn sách “nặng ký” mà HT Thích Quảng Thanh đã cho ra mắt trong đêm dạ tiệc ngày chủ nhật 21 tháng Một năm 2007 vừa qua tại nhà hàng Sea Food Palace, thành phố Anaheim.
Tháng 8 năm 1971, chi đoàn 2/5 Thiết kỵ (-) chúng tôi biệt phái hành quân trên đất Miên với Trung đoàn 48 thuộc Sư Đoàn 18 Bộ binh trong khu vực Đông –Bắc Kampuchea .
Hình ảnh thầy Thích Quảng Thanh sẽ được nhớ mãi bênh cạnh thơ và nhạc của Thầy, và tôi sẽ mãi nhớ nụ cười hồn nhiên với những bài ca phổ từ thơ của thầy, nó vẫn còn đó dù mai ngày người có đi xa.
Tôi chưa có cái hân hạnh được diện kiến thi sĩ Đỗ Trung Quân.
Hồi tháng giêng năm 2015, truyền thông nhà nước Trung Cộng đồng loạt đưa tin, họ chỉ cần một giờ đồng hồ để đánh chiếm toàn cõi Việt Nam, từ Hà Nội đến Sài Gòn.
Độc giả nầy lần đầu tiên mới diện kiến để bàn chuyện văn chương, thơ phú mà thấy cha nội nhà văn nầy ăn nói bạt mạng như vậy nên hơi làm lạ, con mắt tròn xoe như cái bi ve!
Trong cuộc sống hàng ngày không ai là không đề cập và thường nhắc nhở đến 2 chữ: “Hên Sui” chẳng khác nào câu nói: “Không ai sang ba họ không ai khó ba đời” để tự an ủi bản thân mình.
Một người học trò của gs. thi sĩ Vũ Hoàng Chương, ngạc nhiên vì sao vị thầy khả kính của mình lại viết những lời tràn đầy tình cảm như thế tới một người đã từng là vợ của một người khác, khiến dư luận trong văn giới một thời xầm xì về một “mối tình tay ba.”
Ở Việt Nam ,một thành phần dường như bị gạt ra bên lề xã hội sau năm 1975 , là những thương phế binh của chế độ Việt Nam Cộng Hòa cũ .
Hân thấy cùng đi với cha ra khỏi phi-trường Tân-sơn-Nhất, đến chợ Bến Thành dừng chân trước những sạp bán vải, qua khu Vườn Lài, khu Chuồng Bò, ngược về khu cư xá Đô-Thành và điểm dừng chân cuối cùng là ngôi mộ của mẹ.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.