Hôm nay,  

Ăn Uống Tiết Độ

26/10/200700:00:00(Xem: 8964)
Câu chuyện này xảy ra khi Đức Phật ngụ tại tinh xá Kỳ viên (Jetavana), thành Xá-vệ (Sàvatthi), liên quan đến vua Pasenadi (Ba-tư-nặc) của vương quốc Kosala, được ghi lại trong bài kinh Đại thực (Tương ưng bộ, 3.13) và Chú giải kinh Pháp cú (kệ 204).

Lúc bấy giờ, vua Pasenadi có thói quen ăn uống vô độ, với các bữa ăn thịnh soạn. Một ngày nọ, sau khi ăn xong, no đủ, thỏa thích, đi đến gặp Thế Tôn. Sau khi đến, nhà vua đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên.

Đức Thế Tôn biết vua Pasenadi đã ăn xong, no đủ, thỏa thích, Ngài hỏi vua:
-- Đại vương, đến đây mà chưa ngủ nghỉ ư"
-- Bạch Thế Tôn, không phải như vậy, nhưng con luôn luôn cảm thấy khó chịu, khổ sở sau khi ăn xong.
-- Này Đại vương! Ăn uống quá độ thường mang lại sự khổ nhọc.
Đức Thế Tôn nói kệ:
Người ưa ngủ, ăn lớn,
Nằm lăn lóc qua lại,
Chẳng khác heo no bụng,
Kẻ ngu nhập thai mãi.
Đức Phật dạy tiếp:
-- Đại vương, cần phải giữ tiết độ khi ăn uống. Đó là điều tốt.
Ngài nói tiếp câu kệ:
Con người thường chánh niệm,
Được ăn, biết phải chăng,
Chừng mực, cảm thọ mạnh,
Già chậm, tuổi thọ dài.

Vua Pasenadi nước Kosala gọi vương tử Sudassana (Tu-đà-na), cháu của nhà vua và cũng là người hầu cận, và bảo:
-- Này ông, hãy ghi nhớ bài kệ của Đức Thế Tôn. Từ nay, mỗi khi dọn ăn cho ta, hãy đọc lên bài kệ ấy.
-- Thưa vâng, Đại vương.

Vương tử Sudassana vâng đáp vua Pasenadi, học thuộc lòng bài kệ này từ Đức Phật, và mỗi khi dọn cơm cho nhà vua, đọc lên bài kệ này:
"Con người thường chánh niệm,
Được ăn, biết phải chăng,
Chừng mực, cảm thọ mạnh,

Già chậm, tuổi thọ dài."

Nhờ được nhắc nhở, vua Pasenadi tuần tự hạn chế sự ăn uống, cho đến khi chỉ ăn nhiều nhất là một nàlika (một chén cơm).
Sau một thời gian, thân thể nhà vua được khỏe mạnh, nhà vua tự tay thoa bóp chân tay và nói lên lời cảm hứng sau đây: "Ôi, Đức Thế Tôn thật sự thương tưởng, nghĩ đến lợi ích cho ta, cả hai đời hiện tại và vị lai!"
Theo Chú giải kinh Pháp Cú, sau đó, vua Pasenadi đến bạch Đức Phật, và được Ngài dạy:
-- Sức khỏe là hạnh phúc lớn nhất mà mọi người mong muốn. Bằng lòng với những gì hiện có là giàu có nhất. Trung tín là điều tốt nhất khi giao hảo. Nhưng không có hạnh phúc nào có thể so sánh với Niết-bàn.
Đó là duyên sự của câu kệ 204 trong kinh Pháp Cú:
Không bệnh, lợi tối thượng,
Biết đủ, tiền tối thượng.
Thành tín đối với nhau,
Là bà con tối thượng.
Niết-bàn, lạc tối thượng
(bản dịch của Hòa thượng Minh Châu)
Tỳ khưu Giới Đức dịch:
Không bệnh, lợi ích xiết bao!
Sống đời biết đủ, khác nào được châu!
Tín thành: quyến thuộc hàng đầu
Niềm vui tịch tịnh, nhiệm mầu chí tôn!
Cư sĩ Tâm Minh Ngô Tằng Giao dịch:
Ai không bệnh, lợi nhất đời
Ai mà biết đủ là người giàu sang
Ai thành tín là bạn vàng
Và nơi cực lạc: Niết Bàn là đây.

Lời bàn:
Đây là lời khuyên quý báu của Đức Phật cho tất cả chúng ta, nhất là trong thời đại ngày nay, khi bệnh béo phì trở thành một vấn đề nghiêm trọng cho sức khỏe. Ăn uống quá độ là nguồn gốc của béo phì, tăng tốc lão hóa và tác động đến sức khỏe. Ăn uống vừa đủ, có chừng mực, trong chánh niệm sẽ giúp chúng ta tránh được điều đó.

Perth, Tây Úc,

Tháng 10-2007

Niềm vui trong Ngày Hội Ngộ, với đặc san được quý nương “khen” còn mấy ông già chồng chỉ gật gù “mầy giữ gìn sức khỏe để tiếp tục”. Tháng 5 năm 2020 và tháng 5 năm nay vì cái dịch Covod-19, không có cơ hội gặp nhau. Dù “ghét cay ghét đắng” mấy ông già chồng hành hạ “con dâu” nầy nhưng không được dịp hội ngộ với nhau, nhớ nhiều.
Khi đối với cha mẹ có thể cung kính mà vui vẻ, mới là tận Hiếu. Chữ “Kính” nhấn mạnh việc không để xảy ra sơ suất dù rất nhỏ, phụng dưỡng cha mẹ già xuất phát từ nội tâm, với khuôn mặt vui vẻ, mới có thể nói là “Hiếu.” Người già không khác những đứa trẻ, nhiều khi hay tủi thân, hờn dỗi và dễ phiền muộn. Con cái có thể cho cha mẹ ăn uống, hầu hạ cha mẹ khuya sớm nhưng rất khó biết đến nỗi buồn của cha mẹ lúc về già.
Giáo hội xin tán thán tinh thần hộ đạo và tu đạo của quí Thiện nam Tín nữ trong hoàn cảnh tai ương đầy kinh hãi hiện nay. Tất cả năng lực và công đức lớn lao này của người đệ tử, chúng con xin dâng lên cúng dường đức Thế Tôn trong ngày Đản sinh. Hàng trăm ngàn trái tim, hàng vạn ngàn bàn tay siết chặt giữa những thương đau tràn ngập của nhân loại, chúng con nguyện quán chiếu thật sâu sự khổ nạn hiện nay để kiên nhẫn mà vượt qua.
Có lẽ cả Trung Cộng lẫn Hoa Kỳ đều không mong muốn việc khơi mào cho một cuộc xung đột vũ trang, nhưng trước thái độ xác quyết của tổng thống Joe Biden, Trung Cộng hiểu rằng họ đang đối đầu với một đối thủ nguy hiểm gấp bội lần so với những năm qua.
Với chế độ độc đảng toàn trị hiện hành, với bộ máy tam trùng hiện tại, với văn hoá tham nhũng hiện nay, và với chủ trương cấm tự do báo chí cố hữu … thì chuyện sống được bằng lương mãi mãi chỉ là một kỳ vọng xa vời. Vô phương thực hiện!
Hội nghị Paris là một quá trình đàm phán giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt kể từ ngày 13 tháng 5 năm 1968, sau ngày 25 tháng 1 năm 1969 có thêm Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam (MTGPMN) tham gia. Ngoài 202 phiên họp chính thức của bốn bên, còn có thêm 24 cuộc mật đàm khác giữa Henry Kissinger và Lê Đức Thọ, Xuân Thủy. Cuối cùng, hội nghị kết thúc sau bốn năm chín tháng và bốn bên chính thức ký kết Hiệp định Paris để chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam vào ngày 27 tháng 1 năm 1973.
Ngày 30 tháng Tư năm 1975 khép lại trang sử Việt của hai lực lượng dân tộc đối đầu nhau trong thế tương tranh quốc tế giữa tư bản và cộng sản. Thế tương tranh này kéo dài từ tranh chấp giữa hai triết thuyết xuất phát từ phương Tây – Duy Tâm và Duy Vật, đã làm nước ta tan nát. Việt Nam trở thành lò lửa kinh hoàng, anh em một bọc chém giết nhau trong thế cuộc đảo điên cạnh tranh quốc tế.
Galang là tên một đảo nhỏ thuộc tỉnh Riau của Indonesia đã được chính phủ nước này cho Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp quốc sử dụng trong nhiều năm để người tị nạn Đông Dương tạm trú, trong khi chờ đợi được định cư ở một nước thứ ba. Trong vòng 17 năm, kể từ khi mở ra năm 1979 cho đến lúc đóng cửa vào năm 1996, Galang đã là nơi dừng chân của hơn 200 nghìn người tị nạn, hầu hết là thuyền nhân vượt biển từ Việt Nam và một số người Cam Bốt.
Hình ảnh thay cho ngàn lời nói, ghi nhận rõ "sự hấp hối" của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, ghi lại cảnh hỗn loạn, sự hoảng hốt, nỗi lo sợ của dân chúng lũ lượt rời nơi đang sinh sống, đã bỏ nhà cửa trốn chạy trước khi VC tràn vào thành phố
Chúng ta liệu có thể đóng vai trò giúp đỡ những người nhập cư và tị nạn trong tương lai như là người Mỹ đã từng làm cho chúng ta không? Theo lời của Emma Lazarus, liệu chúng ta có nâng “... ngọn đèn bên cạnh cánh cửa vàng” cho “... kẻ bão táp, người vô gia cư ... người mệt mỏi, người nghèo khổ” không? Đối với chúng tôi, trong ngày 30 tháng 4 này, không có câu hỏi nào có ý nghĩa và tính quan trọng hơn câu hỏi này.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.