Hôm nay,  

Ông Hồ Mấy Vợ?

14/09/200600:00:00(Xem: 10692)

(Bài 1)

Lời nói đầu:  Sau khi các báo đăng bài viết của tôi nhan đề “Sự thành lập đảng Cộng Sản Đông Dương”, thì có một độc giả tự nhận là du học sinh Việt Nam, đã e-mail hỏi tôi về việc gia đình và vợ con của Hồ Chí Minh.  Câu hỏi nầy trùng với đề tài một bài báo tôi đã viết và đăng trên Thế Kỷ 21 ở California gần mười năm trước.  Tôi hiệu đính và đăng lại bài nầy, hy vọng để cung cấp cho các bạn trẻ thêm một số thông tin về đời sống Hồ Chí Minh mà trong nước cấm kỵ và bưng bít.

Một người đến tuổi trưởng thành, lập gia đình là chuyện bình thường.  Hồ Chí Minh là một con người như mọi người.  Do đó, nếu Hồ Chí Minh lấy vợ thì không có gì đáng nói.  Tuy nhiên, bản thân Hồ Chí Minh cũng như đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN) luôn luôn xưng tụng ông Hồ là một người chỉ nghĩ đến việc phục vụ đất nước nên không có thời giờ lập gia đình, và không có vợ con.  Sự thật không phải như thế.  Tài liệu cho thấy rằng ít nhất ông Hồ đã bốn lần lấy vợ.

1.-   TĂNG TUYẾT MINH, NGƯỜI VỢ ĐẦU

Tháng 10-1924, Nguyễn Ái Quốc, tên của ông Hồ thời mới qua Liên Xô, rời Moscow đi Vladivostok (Hải Sâm Uy), hải cảng cực đông Liên Xô, trên bờ biển Thái Bình Dương.  Từ đây, ông đáp tàu thủy, xuống tới Quảng Châu khoảng giữa tháng 11-1924, với bí danh Lý Thụy, một công dân Trung Hoa, làm thư ký kiêm thông ngôn trong phái đoàn cố vấn Borodine (Liên Xô) bên cạnh chính phủ Tôn Dật Tiên ở Quảng Châu, trong giai đoạn liên minh quốc cộng lần thứ nhất ở Trung Hoa.

Trong thời gian sống tại Quảng Châu, ngoài những hoạt động chính trị, Lý Thụy (Nguyễn Ái Quốc), Uỷ viên Đông phương bộ của Đệ tam Quốc tế Cộng sản (ĐTQTCS), đã kết hôn với một nữ đảng viên CSTH là Tăng Tuyết Minh (1905-1991) ngày 18-10-1926.  Lễ kết hôn diễn ra tại nhà hàng Thái Bình ở trung tâm thành phố Quảng Châu với sự hiện diện của các bà Đặng Dĩnh Siêu (vợ ông Chu Ân Lai), Bào La Đình, Thái Sướng.  Hai người chia tay khi chiến tranh Quốc Cộng bùng nổ ngày 12-4-1927.(1)  Lý Thụy trốn đi Vũ Hán, đến Thượng Hải, theo đường biển lên Vladivostok (Hải Sâm Uy), qua Moscow khoảng giữa tháng 6 năm 1927. 

Cuối năm 1927, Lý Thụy (Nguyễn Ái Quốc) được ĐTQTCS chuyển qua hoạt động ở Tây Âu một thời gian ngắn, rồi đến Ý.  Tại đây, ông được gởi qua Xiêm La (Thái Lan) và ông đến Xiêm tháng 8-1928.  Trong thời gian họat động ở Xiêm La, Lý Thụy có gởi cho Tăng Tuyết Minh một lá thư bằng chữ Nho, bị mật thám Pháp phát hiện ngày 14-8-1928, nên thư không đến tay người nhận(2)

Vào tháng 5-1950, nhìn thấy hình Hồ Chí Minh trên Nhân Dân Nhật Báo (Trung Hoa), bà Tăng Tuyết Minh gởi nhiều lá thư cho ông Hồ, thông qua đại sứ Việt Minh ở Bắc Kinh là Hoàng Văn Hoan, nhưng đều không được trả lời.  Sau năm 1954, bà Tăng Tuyết Minh xin qua Hà Nội gặp Hồ Chí Minh, cũng bị từ chối.(3) 

Nhà cầm quyền cộng sản Hà Nội phủ nhận mối quan hệ giữa Lý Thụy và Tăng Tuyết Minh.  Họ cho rằng nếu lá thư có thật, chẳng qua là Lý Thụy thường thông tin với các đồng chí dưới dạng thư tình để qua mặt giới tình báo của các nước tại Quảng Châu, Trung Hoa.  Sự phản bác nầy không hữu lý, vì chú ý đọc kỹ lá thư với lời lẽ rất thân thiết lãng mạn (muội, huynh, tình thâm), thì không thể là thư liên lạc bình thường.

Sau đây là lá thư Lý Thụy gởi cho Tăng Tuyết Minh do Nha Liêm Phóng (Công an) Đông Dương phát hiện ngày 14-8-1928:

"Dữ muội tương biệt,

Chuyển thuấn niên dư,

Hoài niệm tình thâm,

Bất ngôn tự hiểu.

Từ nhân hồng tiện,

Dao ký thốn tiên,

Tỷ muội an tâm,

Thị ngã da vọng.

Tịnh thỉnh nhạc mẫu vạn phúc.

Chuyết huynh Thụy."

Tạm dịch:

"Cùng em chia tay nhau,

Thấm thoát nháy mắt đã hơn năm,

Nhớ nhung tình sâu,

Không nói cũng tự biết.

Nay nhân gởi tin hồng nhạn,

Xa xôi gởi lá thư mang tấm lòng,

Mong em yên tâm,

Là điều anh trông ngóng.

Cũng xin vấn an nhạc mẫu vạn phúc.

Người anh vụng về Thụy."(4)

2.-   NGUYỄN THỊ MINH KHAI, NGƯỜI ĐỒNG CHÍ

Nguyễn Thị Minh Khai tên thật là Nguyễn Thị Vịnh, sinh năm 1910 tại Vinh (Nghệ An), con ông Nguyễn Huy Bình, nhân viên hỏa xa, và là chị của Nguyễn Thị Quang Thái, vợ đầu của Võ Nguyên Giáp.  Minh Khai học trường tiểu học Pháp Nam ở Vinh.  Năm 1928, Minh Khai gia nhập Tân Việt Cách Mạng Đảng, sau đó qua đảng Cộng Sản Đông Dương, và sang Hồng Kông hoạt động năm 1930.(5)

Ở Hương Cảng, tại trụ sở chi nhánh Bộ Đông Phương của Quốc tế cộng sản,  hằng ngày, vào buổi sáng, Minh Khai học chính trị do Lý Thụy đích thân truyền dạy.  Từ đó nẩy sinh tình cảm nam nữ giữa hai người.(6) Tháng 4-1931, Minh Khai bị bắt ở Hương Cảng, đến đầu năm sau thì được thả ra.  Trong khi đó, Lý Thụy cũng bị bắt ngày 6-6-1931 tại Cửu Long (Kowloon), gần Hương Cảng, rồi bị trục xuất đầu năm 1933.  Lý Thụy qua Quảng Châu, lên Thượng Hải, đáp tàu đi Vladivostok, rồi đến Moscow trong cùng năm đó.

Ngày 25-7-1935, tại Moscow khai mạc Đại hội cộng sản quốc tế.  Phái đoàn đảng Cộng Sản Đông Dương do Lê Hồng Phong dẫn đầu gồm Lê Hồng Phong, Quốc, Kao Bang, Minh Khai và hai đại biểu khác từ Nam Kỳ và Ai Lao đến.(6)

Khi đến Moscow, Minh Khai khai báo lý lịch là đã có chồng, và mở ngoặc tên chồng là Lin.  Lin là bí danh của Nguyễn Ái Quốc lúc đó.(7)  Cũng theo nguồn tài liệu nầy, những phiếu ghi nhận đồ đạc trong phòng riêng hai người tại nhà ở tập thể của các cán bộ cộng sản cũng đều ghi hai vợ chồng Minh Khai, Lin cùng chung phòng, chung giường, chung đồ dùng...(8)

Theo lời con gái của bà Vera Vasilieva (bà nầy là một nhân viên người Nga trong tổ chức Quốc tế Cộng sản), kể cho nhà nữ sử học Sophia Quinn Judge (Hoa Kỳ), được ông Thành Tín viết lại trong sách Về ba ông thánh, thì trong thời gian diễn ra Đại hội nầy, ông Lin (tức Lý Thụy) hay ghé lại nhà bà Vera Vasilieva thăm, và thường đi cùng với một phụ nữ Việt Nam tên là Phan Lan.  Phan Lan là bí danh của Nguyễn Thị Minh Khai dùng khi ở Moscow.(8)

Sau Đại hội, Minh Khai ở lại Liên Xô và học ở Viện thợ thuyền Đông phương tức trường Stalin đến tháng 2-1937. Trong thời gian nầy, Quốc bị giữ lại Liên Xô và cũng học ở Viện thợ thuyền Đông phương.  Năm 1938, Minh Khai qua Pháp, về Sài Gòn.  Hai năm sau (1940), Khai bị bắt, bị lên án tử hình, và bị bắn tại Hóc Môn năm 1941.

Theo tài liệu của đảng CSVN, Nguyễn Thị Minh Khai là vợ của Lê Hồng Phong (tức Lê Huy Doãn), và có với Phong một người con gái tên Lê Thị Hồng Minh, sinh năm 1939.  Trước khi làm vợ Lê Hồng Phong, những tài liệu trong tờ khai lý lịch và những câu chuyện do bà Sophia Quinn Judge đưa ra, cho thấy một thời Minh Khai đã là vợ của Nguyễn Ái Quốc tức Hồ Chí Minh. 

Nhà báo Thành Tín còn đi xa hơn nữa khi đặt câu hỏi biết đâu tên Minh (trong Hồ Chí Minh) là kỷ niệm về Minh  Khai"  Ngoài ra ông Hồ còn lấy tên là T. Lan để viết một quyển sách tự truyện tựa đề là Vừa đi đường vừa kể chuyện.  Cũng theo tác giả Thành Tín, có thể chữ Lan cũng lấy từ Phan Lan, bí danh của Minh Khai khi ở Moscow.(8) 

3.-   ĐỖ THỊ LẠC LÀ AI"

Sau Đại hội Moscow ngày 25-7-1935, Lê Hồng Phong (1902-1942) được QTCS gởi về nước Việt Nam hoạt động, còn Nguyễn Tất Thành (hay Lý Thụy, Nguyễn Ái Quốc) ở lại hay bị giữ lại ở Liên Xô cho đến năm 1939, Thành được gởi về Trung Hoa dưới một tên mới là Hồ Quang, điều khiển ban Hải ngoại đảng Cộng Sản Đông Dương.

Đầu năm 1940, Lê Hồng Phong bị bắt ở Phan Thiết, đưa vào Sài Gòn, bị đày đi Côn Đảo rồi chết ở ngoài đó năm 1942.  Trong khi đó, cuối năm 1940, Nguyễn Tất Thành bắt đầu sử dụng thông hành mang tên Hồ Chí Minh, ký giả của một tờ báo do Cộng Sản Trung Hoa điều khiển.(9)

Vào đầu năm 1941, Hồ Chí Minh về nước, đặt căn cứ ở hang Pắc Bó, châu Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng.  Sau khi củng cố nội bộ, huấn luyện đảng viên, phát triển cơ sở, và tổ chức Hội nghị trung ương đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ 8 (tháng 5-1941), đưa Trường Chinh Đặng Xuân Khu (1909-1988) lên làm Tổng bí thư, Hồ Chí Minh qua Trung Hoa tiếp tục hoạt động, đánh phá các cơ sở cách mạng không cộng sản, và kiếm cách xin Trung Hoa viện trợ.  Cuối tháng 8-1942, Hồ bị chính quyền Trung Hoa Quốc Dân Đảng bắt giữ đến tháng 9-1943.(10) 

Ra khỏi tù, Hồ luôn luôn kiếm cách lấy lòng các tướng quân Trung Hoa ở Liễu Châu như Trương Phát Khuê, Tiêu Văn.  Lúc bấy giờ, phía Trung Hoa đang có sự hợp tác quốc cộng lần thứ hai để chống Nhật.  Tướng Tiêu Văn theo phương thức đó áp lực các tổ chức cách mạng Việt Nam hợp nhất với nhau. 

Dầu bị Việt Nam Quốc Dân Đảng và Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội (Việt Cách) phản đối, Tiêu Văn vẫn cho tiến hành Đại hội tại  Liễu Châu ngày 28-3-1944 gồm đại biểu của tất cả các tổ chức chính trị Việt Nam.  Các phe phái không cộng sản và cộng sản tranh luận gay gắt, nhưng cuối cùng cũng bầu ra được một ban chấp hành mới gồm có bảy uỷ viên chính thức, một uỷ viên dự khuyết là Hồ Chí Minh, và ba uỷ viên giám sát.(11)

Trong danh xưng mới, Hồ khéo léo ẩn mình, rất được Tiêu Văn tin cậy.  Hồ đề nghị Tiêu Văn cho mình về nước cùng một số cán bộ đã được Trung Hoa huấn luyện, đem theo súng đạn, thuốc men và tiền bạc.  Tiêu Văn đồng ý cho Hồ về Việt Nam với 18 cán bộ vừa mới tốt nghiệp khóa huấn luyện quân sự Đại Kiều (gần Liễu Châu), cọng thêm 76.000 quan kim, tài liệu tuyên truyền, bản đồ quân sự và thuốc men, nhưng không cấp vũ khí.  Hồ về tới Pắc Bó (Cao Bằng) vào gần cuối năm 1944.

Trong số 18 cán bộ theo Hồ về nước lần nầy, có Đỗ Thị Lạc tức "chị Thuần".  Nhân thân của Đỗ Thị Lạc không được rõ ràng, chỉ biết rằng vào năm 1942, khi tướng Quốc Dân Đảng Trung Hoa là Trương Phát Khuê tổ chức lớp huấn luyện chính trị và quân sự cho các tổ chức cách mạng Việt Nam ở Đại Kiều (gần Liễu Châu), Đỗ Thị Lạc theo học lớp truyền tin. 

Khi về Pắc Bó, Đỗ Thị Lạc sống chung với họ Hồ một thời gian, lo dạy trẻ em và vận động vệ sinh ăn ở của dân chúng ở Khuổi Nậm gần Pắc Bó.  Sử gia Trần Trọng Kim, trong sách Một cơn gió bụi  cho biết Đỗ Thị Lạc đã có một người con gái với Hồ Chí Minh.(12)

Do tình hình biến chuyển, Hồ rời Pắc Bó đầu năm 1945 qua Trung Hoa, bắt liên lạc và hợp tác với tổ chức OSS (Office of Strategic Services), tức Sở Tình báo Chiến lược (Hoa Kỳ) dưới bí danh là Lucius vào tháng 3-1945.(13)   Đầu tháng 5-1945, Hồ về Việt Nam, ghé Khuổi Nậm (Cao Bằng) thăm Đỗ Thị Lạc một thời gian ngắn, rồi đi Tân Trào (Tuyên Quang), và bị cuốn hút vào những biến chuyển lịch sử sau đó.

Chuyện tình giữa Hồ với Đỗ Thị Lạc, cũng như với Nguyễn Thị Minh Khai, Tăng Tuyết Minh đều bị đảng CSVN giấu nhẹm, nên sau đó không còn dấu vết gì nữa. (Còn nữa)

TRẦN GIA PHỤNG

(Toronto, Canada)

CHÚ THÍCH

1.Hoàng Tranh (Huang Zheng), “Hồ Chí Minh với bà vợ Trung Quốc Tăng Tuyết Minh”, đăng trên tạp chí Đông Nam Á Tung Hoành (Trung Hoa) tháng 11-2001. Báo Diễn Đàn, Paris, số 121, tháng 9-2002 dịch đăng lại, tt. 17-20.

2.Daniel Hémery, Ho Chi Minh, de l ' Indochine au Vietnam [Hồ chí Minh, từ Đông Dương đến Việt Nam], Paris: Nxb. Gallimard, 1990, tr. 145.

3. Hoàng Tranh, bđd.

4. Daniel Hémery, sđd. tr. 145.  Báo Tuổi Trẻ  của Thành đoàn Thanh niên CSHCM thành phố Hồ Chí Minh (tức Sài Gòn cũ) đã trích đăng lại tài liệu của Daniel Hémery trong số báo ngày 18-5-1991.  Tổng biên tập báo nầy lúc đó là bà Kim Hạnh liền bị kiểm điểm và bị mất chức.

5. Chính Đạo, Việt Nam niên biểu nhân vật chí, Văn Hóa, Houston, Texas, 1997, tr. 380.

6. Thành Tín, Về ba ông thánh, 1995, California, tr. 150-151.  Thành Tín dựa vào danh sách trong một lá thư từ văn phòng cộng sản ở Hồng Kông gởi về Moscow ghi danh sáu đại biểu trong phái đoàn Đông Dương về dự đại hội của cộng sản quốc tế năm 1935.  Kao Bang là Hoàng Văn Nọn tức Tú Huy hay Văn Tân.

7. Chính Đạo, sđd. tr. 380.  Thành Tín, sđd. tr. 151.

8. Thành Tín, sđd. tr. 136, 151-152.  Từ giả thiết nầy, phải chăng có thể chữ  T. viết tắt từ  chữ "Thương".  T. Lan có nghĩa là "Thương Lan".  Ngoài ra chữ "Minh" cũng có thể phát xuất từ tên bà Tăng Tuyết Minh "

9. Chính Đạo, sđd. tr. 161.  Theo Ban Nghiên cứu Lịch sử đảng CSVN, Thành mang tên Hồ Chí Minh từ ngày 13-8-1942, nhưng theo tác giả King C. Chen (Trung Hoa), trong sách Vietnam and China, 1938-1954, Princeton Univ Press, Princeton, 1969, tt. 56-57, thì Hồ Chí Minh bị bắt năm 1942 tại Liễu Châu vì một giấy thông hành đã quá hạng được cấp năm 1940 mang tên Hồ Chí Minh.

10. Chính Đạo, sđd. tr. 283.

11. Chính Đạo, sđd. tr. 301.  Bảy uỷ viên chính thức là: Trương Bội Công, Trương Trung Phụng (QĐD), Trần Báo (QĐD), Bồ Xuân Luật (Phục Quốc), Nghiêm Kế Tổ (QĐD), Lê Tùng Sơn (Giải Phóng, Côn Minh), và Trần Đình Xuyên. Ba uỷ viên giám sát là: Nguyễn Hải Thần (Đồng Minh Hội), Vũ Hồng Khanh (QĐD), và Nông Kính Du (Phục Quốc).

12. Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, Sài Gòn, 1969, tr. 75.

13.  Tiếng Latin, Lucius là tên đàn ông, Lucia là tên phụ nữ; cả hai do chữ "Lux" mà ra.  "Lux" nghĩa là "ánh sáng", có thể bắt nguồn từ chữ “Quang” hoặc chữ “Minh” đều gần nghĩa với ánh sáng.

Họ trao cho các nhân viên di trú quyền quyết định và trừng phạt các gia đình di dân vì đã hưởng hợp pháp một số chương trình phúc lợi công cộng trong những giai đoạn khó khăn ngắn hạn. Sự tàn nhẫn của chính quyền này dường như không có giới hạn...
Học viện Chúng Hương, mang tên Việt Nam đi trên con đường giáo dục từ một xứ sở Tây phương, nhưng ảnh hưởng thực tế cho thấy đây là cơ sở giáo dục phổ quát, mà trước nhất là đối với dân bản xứ Hoa Kỳ, tiếp đến là đối với thế hệ trẻ toàn cầu.
Các bài phát biểu viết cho pháp hội Chùa Hương Sen ra mắt 150 sách Phật học và album nhạc Hoa Phước Đức ngày 6 tháng 9/2026 tại Westminster: -- Bài Của Nguyễn Hiền ĐỨC Về Thầy Tuệ Sỹ -- Viên Bảo Sen -- Kiều Mỹ Duyên -- Nguyên Hà & ĐẶNg Trần Hào
Các bài phát biểu viết cho pháp hội Chùa Hương Sen ra mắt 150 sách Phật học và album nhạc Hoa Phước Đức ngày 6 tháng 9/2026 tại Westminster: -- Tâm Huy Huỳnh Kim Quang -- Sư Cô Viên Tiến -- Bs Nhãn Khoa ÁNh Hình (Pháp danh viên bảo tịnh) / Dịch Ra Tiếng Việt: Sư Cô Viên An -- Phật Tử ĐỒNg Nguyên - Nhạc Sĩ Nguyên Hà -- Ni Sư Viên Tâm -- Emily ĐẶNg (13 tuổi và hiện là học sinh lớp 8 trường Trung học Canyon Hills.)
Các bài phát biểu viết cho pháp hội Chùa Hương Sen ra mắt 150 sách Phật học và album nhạc Hoa Phước Đức: -- Ni Sư Thích Nữ Viên Hòa -- Ni Sư Như Quang -- Elizabeth ĐẶNg / Dịch Giả Tiếng Việt: Sư Cô Viên Diệu -- Phật Tử Kim Chi
Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt Mỹ (VAALA) trân trọng thông báo lịch chiếu phim của Viet Film Fest, và vé đã bắt đầu bán. Là liên hoan phim quốc tế lớn nhất tại hải ngoại chú trọng đến các phim mang chủ đề về con người và văn hoá Việt Nam, Viet Film Fest 2026 sẽ kéo dài chương trình chiếu phim lên 4 ngày, diễn ra từ ngày 8 đến ngày 11 tháng 10 tại rạp Frida Cinema, số 305 E. 4th Street, Ste. 100, thành phố Santa Ana; tiếp nối là chương trình chiếu phim online từ ngày 12 đến ngày 25 tháng 10. Năm nay, số phim gửi về tham dự đạt kỷ lục với 20 phim dài và 45 phim ngắn. Viet Film Fest 2026 sẽ giới thiệu các câu chuyện đến từ 13 quốc gia: Hoa Kỳ, Việt Nam, Úc, Bỉ, Canada, Pháp, Đức, Ý, Hà Lan, Ba Lan, Bồ Đào Nha, Hàn Quốc, và Đài Loan.
Ông John Giang Nguyễn chính thức tuyên bố ứng cử vào Hội Đồng Giáo Dục Học Khu Thống Nhất Garden Grove, Địa Hạt 4, trong một buổi gặp gỡ cộng đồng được tổ chức tại Garden Grove. Các nhà giáo dục, phụ huynh, cử tri, giới chuyên môn, những vị lãnh đạo cộng đồng và cư dân địa phương đã cùng tham dự để lắng nghe viễn kiến của ông về việc củng cố và phát triển nền giáo dục công lập. Ông Nguyễn đã tình nguyện phục vụ trong Học Khu Thống Nhất Garden Grove hơn 13 năm, trong đó có bảy năm giữ chức Hội Trưởng Hội Phụ Huynh Trường Trung Học La Quinta (LQPA). Qua những năm phục vụ, ông đã làm việc chặt chẽ với học sinh, phụ huynh, giáo chức, nhân viên học đường và các thành viên trong cộng đồng.
Đại học Sakya Buddha – Bồ Đề Phật Quốc trân trọng thông báo khai mạc Phòng Dịch vụ Tư vấn Tâm lý Phật giáo, nhằm hỗ trợ đời sống tinh thần và sự an lạc cho các cá nhân và gia đình trong cộng đồng. Chương trình kết hợp kiến thức tâm lý tư vấn chuyên môn với các giá trị trí tuệ, chánh niệm và lòng từ bi của Phật giáo.
Thiền Viện Sùng Nghiêm -- tự viện do Ni Sư Thích Nữ Chân Thiền, Viện Chủ Khai Sơn cùng Ni Sư Thích Nữ Chân Diệu Trụ Trì -- đã trang nghiêm tổ chức Đại Lễ Vu Lan năm 2026 vào sáng Chủ Nhật ngày 6 tháng 9 năm 2026. Điều hợp chương trình Đại Lễ Vu Lan do các MC: Đỗ Phước, Ni sư Chân Minh, Trần Dũng. Trong không khí mùa Vu Lan đầy yêu thương, ban tiếp tân -- các Thiền sinh Anh Thư, Mỹ Nga, Thúy Anh, Kim Anh, Vivian -- đã đến cài trên ngực áo các quan khách tham dụ một bông hồng màu xanh lá cây trước khi buổi lễ chính thức bắt đầu. Lý do cài bông hồng xanh nhằm giữ tâm bình đẳng cho mọi người, không để ai suy nghĩ theo truyền thống rằng bông hồng đỏ là còn mẹ sanh tiền và bông hồng trắng là đã mất mẹ.
Chùa Hương Sen đã tổ chức một pháp hội tại Westminster, với phần chính là giới thiệu tủ sách Bảo Anh Lạc với 150 cuốn sách Phật học trong đó 140 tác phẩm do Ni Trưởng Thích Nữ Giới Hương sáng tác, dịch, biên khảo, và 10 tác phẩm khác do các vị Ni sư và cư sĩ trong đại chúng của chùa thực hiện. Bên cạnh giới thiệu sách, pháp hội cũng ra mắt Album “Hoa Phước Đức" do Giáo Sư Nhạc Sĩ Nam Hưng phổ nhạc lời thơ của Ni trưởng Giới Hương viết theo Kinh Pháp Cú và các kinh khác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.