Hôm nay,  

Làng Không Ruộng

16/12/200400:00:00(Xem: 6285)
Bạn,
Trên địa bàn các tỉnh phía Bắc của miền Trung, có huyện Lệ Thủy là vựa lúa của tỉnh Quảng Bình. Thế nhưng, tại huyện này có làng Thống Nhất thuộc xã Mỹ Thủy lại luôn phải đối mặt với nạn đói, dân cả làng lại không có đất làm ruộng. Nỗi lo lớn trong đời người nông dân là mất mùa. Nhưng có lẽ, đau hơn cả nỗi lo ấy là làm nông dân mà không có ruộng. Báo SGGP ghi nhận về hiện trạng của nông dân làng này như sau.
Làng có tên là Thống Nhất. Nguyễn Công Minh, trưởng thôn giải thích: "Thống Nhất thành lập từ 1960. Hồi ấy phong trào thành lập hợp tác xã rầm rộ, dân khắp các địa phương đến, thành lập HTX sản xuất gạch ngói nên tên làng đặt là Thống Nhất, hay còn gọi là làng Ngói...".Theo cư dân trong làng kể lại, trước đây, khi còn làm gạch ngói, Thống Nhất lúc nào cũng đông người. Gạch ngói tốt xấu gì cũng tiêu thụ hết sạch. Khó khăn là từ khi chuyển sang cơ chế thị trường, gạch làng làm thủ công không cạnh tranh được gạch sản xuất bằng máy móc nên đổ nợ. Hợp tác xã giải thể. Cả làng thất nghiệp.

Năm 1960 thành lập, Thống Nhất thuộc địa chính xã Mỹ Thủy. Khi địa phương phân chia đất sản xuất cho các xã, ruộng đất xã Mỹ Thủy thuộc về 3 làng còn lại. Thống Nhất trắng tay. Không việc làm, không ruộng đất, thanh niên trai tráng ở làng Thống Nhất thì kéo nhau đi làm thuê tứ xứ. Dân bám làng, kẻ thì chạy chợ buôn bán qua ngày, kẻ thì vô rừng chặt cây bán kiếm tiền. Kiểm lâm có bắt, dân không tiền nộp phạt, cũng huề cả làng. Số còn lại thì làm thợ đụng, ai kêu gì làm nấy... Chị Hiên, vợ trưởng thôn Minh, kể: "Chú coi, trước làng là ruộng của làng khác. Tới mùa người ta rạo rực đi gặt, đàn bà làng tui thì đứng ngó ra. Người ta được mùa cười nói rôm rả mà mình tủi. Mùi lúa chín, mùi bùn, mùi cứt trâu ngai ngái, muốn ra vốc một nắm mà không dám. Không có đất, dân làng tui như người ở trọ trên quê hương mình đó chú ạ!".

Bạn,
Cũng theo SGGP, vào năm 1999, xã cấp 3 hecta đất cho làng tại ba nơi, cách làng bốn cây số. Chỉ có 3 hecta đất phải phân chia cho 86 gia đình, 430 người, mỗi người chỉ được một thẻo như cái nong, chẳng làm gì được. Bàn đi tính lại, làng quyết định ưu tiên cho ba chục gia đình khó khăn nhất... Thế nhưng những gia đình nhận đất cũng chẳng khấm khá hơn là bao bởi gánh nặng của những khoản thu nộp: khoán sản lượng 1 sào 17kg, thuế thêm 14kg, tiền nước thủy lợi, (mặc dù nước chảy trên công trình thủy lợi làng khác), rồi đủ thứ linh tinh khác như phân bón, tiền cày, bừa, tiền dịch vụ giữ đồng... cộng lại cả năm, một sào người dân chỉ còn thu được 4 thúng thóc, xay xát lại hao thêm 1 thúng mà thôi. Và dân làng phải tiếp tục đối mặt với nạn đói, nhất là vào những năm hạn hán, thiên tai.

Có những di sản văn hóa mang theo những mảng hồn dân tộc, mà chúng ta khi nhớ tới vẫn luôn luôn cảm động, vì đó là một phần lịch sử mở nước, dựng nước của ông bà mình.
Trong thời toàn cầu hóa, không chỉ kinh tế bị tác động lớn, cả lợi và hại, mà văn hóa cũng thế. Do vậy, bản sắc dân tộc cũng sẽ chuyển biến qua từng thế hệ, có nơi nhạt hơn một chút, và có nơi đậm hơn một chút -- và đôi khi, như ở các thành phố lớn, như tại Sài Gòn, văn hóa trở thành một tổng hợp chuyển biến, tác động lẫn nhau.
Gốm Việt Nam trước giờ nổi tiếng nhất là gốm Bát Tràng. Có lẽ một yếu tố làm cho gốm Bát Tràng được biết nhiều là nhờ vị trí điạ lý thuận lợi, nằm ngay ở Gia Lâm, Hà Nội – nghĩa là bên bờ thủ đô, và do vậy được các phóng viên báo chí viết nhiều. Nhưng như thế không có nghĩa là gốm Việt Nam mình chỉ duy có gốm Bát Tràng.
Làm thế nào có thể giữ gìn những điệu hát dân ca của Việt Nam? Có lẽ, đó làmột trong những khó khăn nhất đối với những người yêu mến nghệ thuật dân tộc.
Câu chuyện bằng giả là bình thường, vì chỉ cần một máy in đặt bên cạnh máy điện toán, nối dây xong, dùng Photoshop phù phép là xong.
Tình yêu đôi khi cần lời khuyên, bất kể rằng trái tim vẫn có những lý lẽ riêng của nó.
Đó là một chữ mới thấy trong hơn một thập niên nay, có thể là gần 2 thập niên: chém gió. Chữ này không rõ dịch chính xác ra ngôn ngữ bạn đang sử dụng thế nào... thôi thì mượn những chữ khá xưa mà bạn đã biết để đối chiếu: “chém gió” có nghĩa là “nổ,” là “xạo,” là “bẹt cà na”...
Nên “có tiếng“ hơn là nên “có miếng”? Những lựa chọn như thế có thể ảnh hưởng nhiều tới, không riêng cho bản thân người lựa chọn, nhưng sẽ tác động ra cả xã hội, nếu đây là một chính sách.
Chúng ta có bao giờ hài lòng với công việc của mình? Hoặc là chỉ hài lòng vào những ngaỳ cuối tuần khi được nghỉ ngơi, và bất mãn vào những ngày lao động nặng nhọc trong tuần?
Thế lào nà lói ngọng? Trời ạ, lại nói ngọng rồi. Không phải giỡn, nhưng nói ngọng là điều không nên, tuy là lỗi rất bình thường.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.