Hôm nay,  

Làng Không Ruộng

16/12/200400:00:00(Xem: 5617)
Bạn,
Trên địa bàn các tỉnh phía Bắc của miền Trung, có huyện Lệ Thủy là vựa lúa của tỉnh Quảng Bình. Thế nhưng, tại huyện này có làng Thống Nhất thuộc xã Mỹ Thủy lại luôn phải đối mặt với nạn đói, dân cả làng lại không có đất làm ruộng. Nỗi lo lớn trong đời người nông dân là mất mùa. Nhưng có lẽ, đau hơn cả nỗi lo ấy là làm nông dân mà không có ruộng. Báo SGGP ghi nhận về hiện trạng của nông dân làng này như sau.
Làng có tên là Thống Nhất. Nguyễn Công Minh, trưởng thôn giải thích: "Thống Nhất thành lập từ 1960. Hồi ấy phong trào thành lập hợp tác xã rầm rộ, dân khắp các địa phương đến, thành lập HTX sản xuất gạch ngói nên tên làng đặt là Thống Nhất, hay còn gọi là làng Ngói...".Theo cư dân trong làng kể lại, trước đây, khi còn làm gạch ngói, Thống Nhất lúc nào cũng đông người. Gạch ngói tốt xấu gì cũng tiêu thụ hết sạch. Khó khăn là từ khi chuyển sang cơ chế thị trường, gạch làng làm thủ công không cạnh tranh được gạch sản xuất bằng máy móc nên đổ nợ. Hợp tác xã giải thể. Cả làng thất nghiệp.

Năm 1960 thành lập, Thống Nhất thuộc địa chính xã Mỹ Thủy. Khi địa phương phân chia đất sản xuất cho các xã, ruộng đất xã Mỹ Thủy thuộc về 3 làng còn lại. Thống Nhất trắng tay. Không việc làm, không ruộng đất, thanh niên trai tráng ở làng Thống Nhất thì kéo nhau đi làm thuê tứ xứ. Dân bám làng, kẻ thì chạy chợ buôn bán qua ngày, kẻ thì vô rừng chặt cây bán kiếm tiền. Kiểm lâm có bắt, dân không tiền nộp phạt, cũng huề cả làng. Số còn lại thì làm thợ đụng, ai kêu gì làm nấy... Chị Hiên, vợ trưởng thôn Minh, kể: "Chú coi, trước làng là ruộng của làng khác. Tới mùa người ta rạo rực đi gặt, đàn bà làng tui thì đứng ngó ra. Người ta được mùa cười nói rôm rả mà mình tủi. Mùi lúa chín, mùi bùn, mùi cứt trâu ngai ngái, muốn ra vốc một nắm mà không dám. Không có đất, dân làng tui như người ở trọ trên quê hương mình đó chú ạ!".

Bạn,
Cũng theo SGGP, vào năm 1999, xã cấp 3 hecta đất cho làng tại ba nơi, cách làng bốn cây số. Chỉ có 3 hecta đất phải phân chia cho 86 gia đình, 430 người, mỗi người chỉ được một thẻo như cái nong, chẳng làm gì được. Bàn đi tính lại, làng quyết định ưu tiên cho ba chục gia đình khó khăn nhất... Thế nhưng những gia đình nhận đất cũng chẳng khấm khá hơn là bao bởi gánh nặng của những khoản thu nộp: khoán sản lượng 1 sào 17kg, thuế thêm 14kg, tiền nước thủy lợi, (mặc dù nước chảy trên công trình thủy lợi làng khác), rồi đủ thứ linh tinh khác như phân bón, tiền cày, bừa, tiền dịch vụ giữ đồng... cộng lại cả năm, một sào người dân chỉ còn thu được 4 thúng thóc, xay xát lại hao thêm 1 thúng mà thôi. Và dân làng phải tiếp tục đối mặt với nạn đói, nhất là vào những năm hạn hán, thiên tai.

Theo báo Thanh Niên, tại thành phố Đà Lạt, chuyện cá độ túc cầu đã trở thành chuyện hàng ngày, và trò cờ bạc này diễn ra mọi lúc, mọi nơi, thu hút đông đảo thanh niên, sinh viên. Phóng viên báo TN viết như sau.
Câu chuyện kể với bạn trong lá thư này xảy ra tại 1 xã nghèo ở tỉnh Hà Nam. Đó là xã Tiên Phong thuộc huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Năm 2003, tỷ lệ gia đình nghèo chiếm 21% dân số. Người dân nơi đây từ ngàn xưa sống dựa chủ yếu vào nông nghiệp và nghề trồng dâu nuôi tằm. Vài ba năm trở lại đây, lợi dụng sông Châu Giang rộng lớn bao bọc
Tại miền Tây,sau dịch cúm gà, nhiều gia đình nông dân gần như sạt nghiệp. Vì vậy, ai cũng trông chờ chính quyền CSVN địa phương công bố hết dịch để gầy dựng lại đàn gà càng sớm càng tốt. Nhưng rồi nhiều người đã ngao ngán vì đụng... bức tường thủ tục quá rắc rối, nhiêu khê với những kiểu hành dân đến bần cùng của các cơ quan chức năng.
Tại VN, một dạo dư luận rộ lên chuyện trẻ con hát nhạc người lớn hay nói nôm na là các "thần đồng" ca nhạc hát "tình ca". Hiện tượng trên trở nên bộc phát khắp nơi từ khi các CD, VCD bán nhan nhản ở mọi hang cùng ngõ hẻm với những "danh ca" Bé Châu, Duy Phước... Độc chiêu nhất là hàng loạt "lò" luyện để trở thành "thần đồng" ca nhạc ra đời.
Trong và ngoài hàng rào trên dưới 90 khu công nghiệp và khu chế xuất cả VN, công nhân vẫn lầm lũi làm việc, vẫn tích cóp từng đồng bạc lẻ mong đổi đời. Lao động cực nhọc suốt ngày ở nhà máy, họ còn chịu nhiềukhốn khổ về chuyện ăn ở như ghi nhận của báo SGGP qua đoạn ký sự như sau.
Chuyện kể với bạn trong lá thư này là chuyện của những người dân nghèo ở Cần Giờ, huyện ngoại thành của Thành phố Sài Gòn. Cuộc đời họ, quanh năm suốt tháng chỉ biết có nghêu và biển. Bất kể là trời mưa hay nắng, lúc đêm hôm hoặc giữa trưa nắng gắt, chỉ cần đợi thủy triều rút, biển cạn là họ đến với biển, đến với nghêu. Báo SGGP viết về những người sống theo con nước qua đoạn ký sự như sau.
Cắt tóc, gội đầu đã thành nghề mưu sinh của nhiều cô, đặc biệt với những cô gái trẻ ở chốn quê. Đa số họ là những cô gái, thi đại học không đỗ hoặc chỉ học đến hết cấp tiểu học, trung học cơ sở (lớp 9) rồi bỏ dở giữa chừng. Không nghề nghiệp, nghe theo lời bạn bè, họ tìm đến những tiệm tóc ở thành phố để học nghề làm đầu với chi phí tối thiểu là 2 triệu đồng/khoá học.
Quán cà phê được nhắc đến trong lá thư này là 1 quán rất đặc biệt. Chủ nhân là 1 cô gái Nhật hoạt động thiện nguyện. Nhân viên phục vụ ở đây đều là những người chậm phát triển, khuyết tật. Họ khoác áo trắng thêu hoa anh đào và đón khách trong tiếng chuông rung reng... Báo Tuổi Trẻ viết về quán này như sau.
Theo ghi nhận của báo quốc nội, cách nay khoảng 15 năm, các chương trình ca nhạc, từ sân khấu tụ điểm, nhà văn hóa đến các đoàn hát, truyền thanh, truyền hình... bỗng nhiên xôm tụ với sự xuất hiện nhiều sáng tác mới của một dàn các nhạc sĩ mới, kéo theo sự xuất hiện của một dàn nghệ sĩ mới, dần dần, trên thị trường âm nhạc có quá nhiều ca khúc tình yêu mà báo quốc nội cho rằng đó là nhạc não tình, nội dung luôn rên rỉ.
Xăm mình đang trở thành "mốt" của nhiều giới trẻ trong nước. Người đi xăm có cả nam, cả nữ. Chỉ cần vài trăm ngàn, những con rồng, sư tử, bông hoa hồng... sẽ qua bàn tay thợ xăm "ngự" lên ngực, lên vai khách. Báo Kinh Tế-Đô Thị viết về các lò xăm mình tại Hà Nội qua đoạn ký sự như sau.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.