Hôm nay,  

Làng Nhậu Đà Nẵng

10/04/200200:00:00(Xem: 5550)
Bạn,
Theo báo Thanh Niên, trong các thành phố, thị xã Việt Nam, thì Đà Nẵng "xếp" hạng nhất về mật độ quán nhậu. Quán nhậu được mở khắp nơi, từ các khu phố nội ô đến các khu ngoại thành, hoạt động từ tờ mờ sáng cho đến quá nửa đêm. Một phóng viên báo này kể lại rằng trước khi vào Đà Nẵng, phóng viên này từng nghe nhiều giai thoại về làng nhậu ở thành phố này: giám đốc một công ty thấy anh nhân viên của mình hay đỏ mặt, có hơi men trong giờ làm việc, nhắc mãi không được, ông bực mình quát: ông muốn nhậu tôi điều ông vào chi nhánh ở Đà Nẵng, cho ông nhậu cho chết. Giám đốc một công ty xây dựng kể: Một lần ông vào Đà Nẵng ký hợp đồng làm ăn cho công ty, ông bị kéo đi nhậu lu bù. Đến nỗi hai năm sau vào quyết toán, gặp đối tác từng dẫn mình đi nhậu là ông ọe liền, cứ như trận nhậu làm ông say mãi từ đó đến giờ. Vào Đà Nẵng rồi, phóng viên mới công nhận, ở thành phố này "nhậu chi là nhậu" và đã ghi lại những trông thấy qua đoạn ghi chép như sau.

Có thể nói rằng đi đâu cũng gặp quán nhậu. Từ trên rừng xuống dưới biển, trên các đường phố lớn đến các kiệt dài, kiệt ngắn, từ quảng trường thành phố đến chân cầu Sông Hàn, người ngồi san sát. Mà lạ, không biết người ta làm chi mà 9-10 giờ sáng trước các quán xe máy đã dựng san sát như chỗ gửi xe vào rạp hát. Lạ hơn, họ chủ yếu là công chức, có người đi nhậu còn mặc sắc phục hẳn hoi. Ngày trước, cụ Nguyễn Bá Trạc viết bài Hồ Trường là để gửi gắm tâm sự trong chuyện nhậu, rằng "Chí không thành danh chẳng toại; Trai trẻ bao năm mà đầu bạc." Thiên hạ nhậu chưa hẳn đã là tri kỷ mà là chuyện làm ăn, chuyện tiền. Nói chung, vui cũng nhậu, bình thường cũng nhậu. Chuyện gì ở bàn việc giải quyết không xong thì ra quán nhậu. Nhậu đã thành thói quen đến mức ai không nhậu mới là chuyện lạ.

Trong bàn, người ta chia cuộc nhậu thành ba giai đoạn: kỷ cương, tình thương và trách nhiệm. Kỷ cương là nói bao nhiêu thì phải uống bấy nhiêu, 50% là 50%, 100% là 100%. Chuyển qua đoạn tình thương là đoạn ôm vai, bá cổ nhau để nói chuyện riêng, thì thầm to nhỏ. Và trách nhiệm là đoạn tính tiền. Có người tình thương thì nhiều nhưng hiếm khi có trách nhiệm; có người thì trách nhiệm luôn luôn làm tròn nhưng không dám thực hiện kỷ cương. Ấy là tùy danh phận của mình. Những người biết bài Hồ Trường hẳn vẫn nhớ và thích thú khi đọc những câu đầy khẩu khí của cụ Nguyễn: "Hồ trường/Hồ trường/Ta biết rót về đâu/ Rót về phương Nam, phương Nam ngàn dặm thẳm/Rót về Bắc, ngọn Bắc phong heo hút cát chạy đá bay..." Còn bây giờ đi nhậu người ta cũng than khổ lắm. Cứ vào quán là các em tiếp thị xanh đỏ tím vàng ào ra, một tay cầm chai bia của hãng mình, một tay lăm lăm cái bật nắp. Chỉ cần một động thái gần như đồng ý là lập tức bụp, bụp, bụp... Các loại bia đồng loạt mở ra, rót vào ly tạo thành một thứ bia đa chủng tộc.

Bạn,
Báo TN kể chuyện một SV kinh tế tốt nghiệp được một công ty gạch men nhận vào làm và cử làm trưởng đại diện chi nhánh miền Trung vài tháng nay, thư về cho bố mẹ ở một làng quê ở tỉnh Thái Bình: "Thưa thầy, u. Con vào Đà Nẵng thấy cái gì cũng được. Người Đà Nẵng tốt bụng, chân tình. Công việc của con thuận lợi, chỉ trừ một việc không được, đó là nhậu. Không nhậu thì không hòa đồng, không hòa đồng thì không làm được việc, mà nhậu thì không sức nào chịu nổi, không chịu nổi thì công việc bỏ bê, con sợ lắm."

Văn bằng đại học trên nguyên tắc sẽ mở ra nhiều cánh cửa thành công, vì nó không chỉ làm cho người giữ văn bằng niềm tự hào vì đứng biệt lập với đám đông đa số, nhưng cũng chứng tỏ một tri thức cần thiết cho một số việc chuyên môn.
Đó là một chữ lạ, “truyện ngôn tình.” Thực ra, thể văn chương này không lạ. Nhưng lạ chỉ là, khi thể truyện này tạo thành một niềm say mê cho tuổi trẻ Việt Nam một cách bất thường. Chúng ta có thể thắc mắc: tại sao tuổi trẻ quay đầu với xã hội, và để rồi vùi đầu vào trang sách truyện ngôn tình?
Có những chuyện không thể cứ để xảy ra hoài. Bởi vì, người xưa nói, như chim thoát chết sau khi bị tên bắn, từ đó về sau hễ gặp cành cong là nghĩ tới cung. Người tất nhiên cũng có những nỗi quan tâm tương tự.
Công ty nào cũng thế, luôn luôn đòi hỏi người lao động phải có khả năng hoàn tất công việc được giao phó. Nghĩa là, đúng nghề, đúng việc.
Cuộc đời luôn luôn đổi dời. Không có gì bất biến, trường cửu. Tuổi thanh xuân của chúng ta rồi già, rồi suy yếu. Những ngôi làng tại Việt Nam cũng thế, những nét truyền thống mờ nhạt dần. Tất nhiên là, đổi mới phaỉ có tốt và cả xấu, ai cũng biết.
Một thời chúng ta nhìn các thầy giáo, cô giáo như những vị thần linh... nhưng bây giờ thì không như thế nữa.
Một thời, chúng ta từng ngồi đọc sách ở các thư viện Sài Gòn. Nơi đó, thời đó, chữ nghĩa còn là cái gì rất mực thiêng liêng.
Hãy hình dung rằng, khi các em bé tiểu học đọc sử, nhìn hình Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Nữ Tướng Bùi Thị Xuân... cỡi voi, chỉ huy quân binh ra chiến trường... và rồi sẽ hỏi, xem con thú gì khổng lồ lạ kỳ, đang sử dụng thay cho ngựa chiến...
Có những điều như dường bất khả vẫn xảy ra trong đời naỳ. Không, chúng ta không bàn chuyện phép lạ, hay bất kỳ những gì siêu nhiên nơi đây. Chỉ bàn về cõi người của mình thôi.
Chúng ta đang sống trong một thời lắm bệnh, và do vậy để chữa lắm bệnh tất phải có thuốc đa dụng, đa năng... Làm sao tìm ra phương thuốc đa dụng,đa năng?
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.