Hôm nay,  

Cá Ông Và Ngư Dân

28/01/201200:00:00(Xem: 4745)

Cá Ông Và Ngư Dân

Bạn,

Theo các nhà nghiên cứu nhân văn, tại VN, nhiều ngư dân trong khi lênh đênh mưu sinh giữa trùng khơi giông gió,ngư dân đã thoát chết nhờ cá ông linh thiêng cứu nạn. Báo Thanh Niên ghi nhận về sự tương quan thiêng liêng giữa ngư dân và cá ông qua đoạn ký sự như sau.

Theo mô tả của các lão ngư, cá ông (ngư dân thường gọi là ông) có da màu đen, láng mịn, đuôi bẹ giống đuôi tôm, đặc biệt mắt dẹt và hay chảy nước mắt như người, trên gáy có một lỗ thông hơi (còn gọi là lỗ đạo). Khi biểu thị cảm xúc, cá ông thường phun nước thẳng lên cao từ lỗ đạo này. Lúc cá "tắt thở" thì thịt không hôi, ruồi muỗi không đến gần. Cá ông có con nặng hàng chục tấn, chở che an toàn cho người và phương tiện hành nghề đánh bắt trên biển vào những lúc bất trắc.

Vì được cung nghinh là thần hộ mệnh nên mỗi khi phát hiện cá ông lỡ mắc vào lưới, ngư phủ phải khấn vái và mở lưới để ông thoát ra. Dân gian có câu "cá ông vào làng như vàng vào tủ", vì dân làng xem đó là điềm lành cho những mùa biển bội thu.

Tương truyền, ngày xưa người nào phát hiện được cá ông lụy (dạt) vào bờ thì phải có bổn phận lo chôn cất, để tang cho ông như phải làm đối với chính cha mẹ mình và dưới triều nhà Nguyễn còn được miễn sưu dịch 3 năm. Ngày nay, nhiều làng chài ở Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam, Phú Yên... còn lập cả nghĩa địa chôn cất cá ông nằm ven biển. Cá ông lụy vào bờ thường còn sống. Khi đã cố gắng đưa trở lại biển cả nhưng ông vẫn dạt vào lại thì cả làng hợp sức kính cẩn chung lo hậu sự, đưa tiễn theo nghi thức mai táng như đối với người. Những bậc cao niên được chọn vào ban tế lễ phải có đức độ, khả kính trong làng. Việc tế lễ hết sức tôn nghiêm vì ngư phủ làng chài gửi gắm trọn niềm tin, những mong ước về sự bình yên khi mưu sinh trên biển và dân làng nơi đất liền ngày càng được phồn thịnh.

Thường thì sau khi chôn cất khoảng từ 1-3 năm ở nghĩa địa, cá ông được cải táng xương cốt mang về thờ trong đền được ngư phủ các nơi gọi phổ biến là Nam Hải thần ngư. Dân gian quan niệm nếu hứng rượu rửa ngọc cốt ông rồi rắc lên giàn lưới và các ngư cụ thì sẽ đánh bắt được nhiều mẻ cá lớn. Các đời vua triều Nguyễn ban sắc phong cho rất nhiều đền khác nhau, mà đến nay có đền vẫn còn lưu giữ 6 sắc phong, như đền Nam Hải thần ngư ở làng Hưng Lương, xã đảo Nhơn Lý, TP.Quy Nhơn (Bình Định).

Bạn,

Cũng theo báo Thanh Niên, hằng năm, tại đền Nam Hải thần ngư ở các làng chài, dù ven bờ hay các đảo xa đều long trọng tổ chức lễ hội cầu ngư (lễ tế cá ông, thường vào dịp sau tết Nguyên đán). Đan xen với phần nghi lễ là phần hội với nhiều sinh hoạt văn hóa dân gian như hò đối đáp trên thuyền, hô bài chòi, hát bá trạo, tổ chức hát bội trong đêm, thi lắc thúng, đua ghe vào ban ngày..., góp phần giải tỏa, điều tiết đời sống tâm lý, tinh thần của cộng đồng ngư phủ.

Núi Cấm vẫn không ngưng các huyền thoại: từ nơi tu hành của các bậc kỳ nhân, cho tới nơi ẩn tích của các đaị võ sư danh trấn giang hồ, tới chuyện cọp ra nằm nghe tụng kinh.... và bây giờ là chuyện đại gia lên núi Cấm mua đất 'long mạch' để con cháu đời đời giàu sang phú quý.
Chuyện vừa mới xảy ra tại VN, làm biết bao nhiêu Phật Tử nản lòng: một nhà sư lên sân khấu hôn môi với ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng. Chưa hết, đây là buổi văn nghệ gây quỹ, nghĩa là sư đã phạm giới vui chơi văn nghệ. Chưa hết, sư lại lấy tiền ra mua một chai rượu -- Nghĩa là xài tiền chúng sinh cúng dường, và mua một món bị giới luật cấm.
Với lòng tin, chúng ta có thể nhìn ra đủ thứ hình Phật, Chúa, Tiên, Thánh... trên các chòm mây. Tất nhiên, nói thế chỉ đơn giản có ý rằng chính nhân loaị đã nhận ra đủ thứ hiện tượng tùy tâm hóa hiện. Có thể là có thật, cũng có thể là ảo tưởng. Nhưng ít nhất, niềm tin vào cảnh giới siêu hình sẽ gìn giữ chúng ta trong cương vực đaọ đức. Không dám làm ác nữa. Hoặc giả, sẽ giảm bớt làm ác.
Mỗi dân tộc đều có một nền văn hóa riêng biệt, trong đó âm nhạc là một mảng gìn giữ di sản trao truyền nhiều đời. Dĩ nhiên, qua thời gian rồi sẽ có những mảng biến mất, nhưng không vì thế mà chúng ta phải hấp tấp chạy theo nhạc Tây,
Có cầu, tất có cung. Đó là quy luật thị trường. Tự nhiên như thế. Có những chuyện muôn đời đã thấy như thế. Cứ nhìn vào thị trường cũng thấy, các cửa khẩu biên giới đang là nơi tuôn vào gà lậu, gạo lậu, điện thoại lậu, vàng lậu, vân vân... nghĩa là đủ thứ thượng vàng hạ cám.
Người nông dân trước giờ được ca ngợi là chỗ dựa của đảng và nhà nước CSVN, nhưng bây giờ thì hết rồi. Bất kể rằng, nông dân thời nào cũng muốn bình yên, vì muốn lo chuyện cơm no, áo ấm là đủ.
Ngày xưa, đọc truyện Tàu, cứ nghe chuyện dân giang hồ ưa đặt trạm để thu tiền mãi lộ, tớ chẳng hiểu bao nhiêu. Bây giờ ngẫm chuyện nước mình thì mới ngộ ra lắm chuyện.
Một thời chúng ta nghe chuyện rằng xã hội chủ nghĩa là nơi ai cũng có cơ hội bình đẳng, nơi ai cũng “làm theo lao động, hưởng theo nhu cầu,” nhưng rồi những hình ảnh mơ tưởng này đã tan vỡ từ mấy thập niên nay, kể từ khi Miền Bắc khám phá ra một Miền Nam của thịnh vượng, của tự do, của dân chủ, và của tử tế nhiều lần hơn.
Có vẻ như Việt Nam đang lạm phát văn bằng. Kể cả văn bằng Tiến sĩ. Chuyện mới lạ, nước vẫn nghèo, mà văn bằng Tiến sĩ đầy phố, chẳng thấy phát minh gì, chỉ thấy “thật, giả” không còn phân biệt nổi.
Đất nước vẫn còn lúng túng, cứ như dường chưa biết phải đổi mới giáo dục ra sao để có thể chạy kịp với các nước láng giềng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.