Hôm nay,  

Cá Ông Và Ngư Dân

28/01/201200:00:00(Xem: 4646)

Cá Ông Và Ngư Dân

Bạn,

Theo các nhà nghiên cứu nhân văn, tại VN, nhiều ngư dân trong khi lênh đênh mưu sinh giữa trùng khơi giông gió,ngư dân đã thoát chết nhờ cá ông linh thiêng cứu nạn. Báo Thanh Niên ghi nhận về sự tương quan thiêng liêng giữa ngư dân và cá ông qua đoạn ký sự như sau.

Theo mô tả của các lão ngư, cá ông (ngư dân thường gọi là ông) có da màu đen, láng mịn, đuôi bẹ giống đuôi tôm, đặc biệt mắt dẹt và hay chảy nước mắt như người, trên gáy có một lỗ thông hơi (còn gọi là lỗ đạo). Khi biểu thị cảm xúc, cá ông thường phun nước thẳng lên cao từ lỗ đạo này. Lúc cá "tắt thở" thì thịt không hôi, ruồi muỗi không đến gần. Cá ông có con nặng hàng chục tấn, chở che an toàn cho người và phương tiện hành nghề đánh bắt trên biển vào những lúc bất trắc.

Vì được cung nghinh là thần hộ mệnh nên mỗi khi phát hiện cá ông lỡ mắc vào lưới, ngư phủ phải khấn vái và mở lưới để ông thoát ra. Dân gian có câu "cá ông vào làng như vàng vào tủ", vì dân làng xem đó là điềm lành cho những mùa biển bội thu.

Tương truyền, ngày xưa người nào phát hiện được cá ông lụy (dạt) vào bờ thì phải có bổn phận lo chôn cất, để tang cho ông như phải làm đối với chính cha mẹ mình và dưới triều nhà Nguyễn còn được miễn sưu dịch 3 năm. Ngày nay, nhiều làng chài ở Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam, Phú Yên... còn lập cả nghĩa địa chôn cất cá ông nằm ven biển. Cá ông lụy vào bờ thường còn sống. Khi đã cố gắng đưa trở lại biển cả nhưng ông vẫn dạt vào lại thì cả làng hợp sức kính cẩn chung lo hậu sự, đưa tiễn theo nghi thức mai táng như đối với người. Những bậc cao niên được chọn vào ban tế lễ phải có đức độ, khả kính trong làng. Việc tế lễ hết sức tôn nghiêm vì ngư phủ làng chài gửi gắm trọn niềm tin, những mong ước về sự bình yên khi mưu sinh trên biển và dân làng nơi đất liền ngày càng được phồn thịnh.

Thường thì sau khi chôn cất khoảng từ 1-3 năm ở nghĩa địa, cá ông được cải táng xương cốt mang về thờ trong đền được ngư phủ các nơi gọi phổ biến là Nam Hải thần ngư. Dân gian quan niệm nếu hứng rượu rửa ngọc cốt ông rồi rắc lên giàn lưới và các ngư cụ thì sẽ đánh bắt được nhiều mẻ cá lớn. Các đời vua triều Nguyễn ban sắc phong cho rất nhiều đền khác nhau, mà đến nay có đền vẫn còn lưu giữ 6 sắc phong, như đền Nam Hải thần ngư ở làng Hưng Lương, xã đảo Nhơn Lý, TP.Quy Nhơn (Bình Định).

Bạn,

Cũng theo báo Thanh Niên, hằng năm, tại đền Nam Hải thần ngư ở các làng chài, dù ven bờ hay các đảo xa đều long trọng tổ chức lễ hội cầu ngư (lễ tế cá ông, thường vào dịp sau tết Nguyên đán). Đan xen với phần nghi lễ là phần hội với nhiều sinh hoạt văn hóa dân gian như hò đối đáp trên thuyền, hô bài chòi, hát bá trạo, tổ chức hát bội trong đêm, thi lắc thúng, đua ghe vào ban ngày..., góp phần giải tỏa, điều tiết đời sống tâm lý, tinh thần của cộng đồng ngư phủ.

Bạn có bao giờ nghĩ rằng chúng ta là những người ưa nhậu? Vậy mà dưới mắt nhiều người ngoại quốc, hình ảnh đàn ông Việt Nam ưa nhậu lại là ấn tượng khó quên của họ.
Đó là những chuyện diễn ra hàng ngày, quanh đây: những bữa ăn ngập đầy hóa chất. Hóa chất thực ra là một phát minh tuyệt vời của nhân loại, vì nếu không có ngành hóa học phát triển như hiện nay, khoa học không thể đem tới cho nhân loại quá nhiều tiện như như hôm nay.
Một thời, chúng ta say mê đọc truyện Tàu. Những tác phẩm kinh điển như Tam Quốc Chí, Thủy Hử, Tây Du Ký, vân vân... liên tục như được đọc từ thế hệ này sang thế hệ kia.
Những trang giấy xưa cổ, ấp ủ những thông tin quý giá về những thời xa vắng của quê nhà, đang biến dần đi.
Học sinh là người của tương lai. Đất nước sau này hưng vong đều nhờ vào các học trò đang ngồi miệt mài học ở các trường lớp. Và không giúp các em, có nghĩa là tự mình cắt đứt những mầm hưng thịnh tương lai của đất nước.
Có một kiểu nói thường nghe quen ở Sài Gòn, khi bất chợt thấy xảy ra những điều trái mắt trái tai: dzô dziên. Nghĩa là “vô duyên.”
Một thời chúng ta ngồi miệt mài đọc sách ở Thư Viện Chùa Xá Lợi, rồi ở Thư Viện Lincoln, rồi ở Thư Viện Quốc Gia... đó là chưa kể những ngày đứng bên các kệ sách Khai Trí để đọc chùa, đọc cọp. Những kỷ niệm về thời say mê sách vở như còn in đậm trong trí nhớ, bất kể những chòm tóc bạc đã phất phơ trước mắt.
Nhiều người nói rằng dân Việt Nam không có văn hóa chen lấn. Nghĩa là, không chịu đứng vào hàng, cứ chen lên trước, cứ chen vô giữa, cứ lấn cho người ta dạt ra sau để mình đứng trước. Có đúng như thế không, và tại sao?
Tại sao những chuyên gia ưu tú, những sinh viên xuất sắc lại muốn rời bỏ Việt Nam? Có phải vì quê nhà đã trở thành nơi chỉ giành những vị trí tốt cho con cháu cán bộ, và để mặc cho các sinh viên tốt nghiệp đaị học ra đường phố ngồi bán trà đá, đạp xe bán dạo cà phê?
Xiếc là một nghề khó theo đuổi. Không phải ai tập cũng được. Do vậy, khi một gánh xiếc lưu diễn vào một thành phố, ai cũng háo hức muốn xem những trò biểu diễn lạ.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.