Hôm nay,  

Cá Ông Và Ngư Dân

28/01/201200:00:00(Xem: 4667)

Cá Ông Và Ngư Dân

Bạn,

Theo các nhà nghiên cứu nhân văn, tại VN, nhiều ngư dân trong khi lênh đênh mưu sinh giữa trùng khơi giông gió,ngư dân đã thoát chết nhờ cá ông linh thiêng cứu nạn. Báo Thanh Niên ghi nhận về sự tương quan thiêng liêng giữa ngư dân và cá ông qua đoạn ký sự như sau.

Theo mô tả của các lão ngư, cá ông (ngư dân thường gọi là ông) có da màu đen, láng mịn, đuôi bẹ giống đuôi tôm, đặc biệt mắt dẹt và hay chảy nước mắt như người, trên gáy có một lỗ thông hơi (còn gọi là lỗ đạo). Khi biểu thị cảm xúc, cá ông thường phun nước thẳng lên cao từ lỗ đạo này. Lúc cá "tắt thở" thì thịt không hôi, ruồi muỗi không đến gần. Cá ông có con nặng hàng chục tấn, chở che an toàn cho người và phương tiện hành nghề đánh bắt trên biển vào những lúc bất trắc.

Vì được cung nghinh là thần hộ mệnh nên mỗi khi phát hiện cá ông lỡ mắc vào lưới, ngư phủ phải khấn vái và mở lưới để ông thoát ra. Dân gian có câu "cá ông vào làng như vàng vào tủ", vì dân làng xem đó là điềm lành cho những mùa biển bội thu.

Tương truyền, ngày xưa người nào phát hiện được cá ông lụy (dạt) vào bờ thì phải có bổn phận lo chôn cất, để tang cho ông như phải làm đối với chính cha mẹ mình và dưới triều nhà Nguyễn còn được miễn sưu dịch 3 năm. Ngày nay, nhiều làng chài ở Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam, Phú Yên... còn lập cả nghĩa địa chôn cất cá ông nằm ven biển. Cá ông lụy vào bờ thường còn sống. Khi đã cố gắng đưa trở lại biển cả nhưng ông vẫn dạt vào lại thì cả làng hợp sức kính cẩn chung lo hậu sự, đưa tiễn theo nghi thức mai táng như đối với người. Những bậc cao niên được chọn vào ban tế lễ phải có đức độ, khả kính trong làng. Việc tế lễ hết sức tôn nghiêm vì ngư phủ làng chài gửi gắm trọn niềm tin, những mong ước về sự bình yên khi mưu sinh trên biển và dân làng nơi đất liền ngày càng được phồn thịnh.

Thường thì sau khi chôn cất khoảng từ 1-3 năm ở nghĩa địa, cá ông được cải táng xương cốt mang về thờ trong đền được ngư phủ các nơi gọi phổ biến là Nam Hải thần ngư. Dân gian quan niệm nếu hứng rượu rửa ngọc cốt ông rồi rắc lên giàn lưới và các ngư cụ thì sẽ đánh bắt được nhiều mẻ cá lớn. Các đời vua triều Nguyễn ban sắc phong cho rất nhiều đền khác nhau, mà đến nay có đền vẫn còn lưu giữ 6 sắc phong, như đền Nam Hải thần ngư ở làng Hưng Lương, xã đảo Nhơn Lý, TP.Quy Nhơn (Bình Định).

Bạn,

Cũng theo báo Thanh Niên, hằng năm, tại đền Nam Hải thần ngư ở các làng chài, dù ven bờ hay các đảo xa đều long trọng tổ chức lễ hội cầu ngư (lễ tế cá ông, thường vào dịp sau tết Nguyên đán). Đan xen với phần nghi lễ là phần hội với nhiều sinh hoạt văn hóa dân gian như hò đối đáp trên thuyền, hô bài chòi, hát bá trạo, tổ chức hát bội trong đêm, thi lắc thúng, đua ghe vào ban ngày..., góp phần giải tỏa, điều tiết đời sống tâm lý, tinh thần của cộng đồng ngư phủ.

Có những di sản văn hóa mang theo những mảng hồn dân tộc, mà chúng ta khi nhớ tới vẫn luôn luôn cảm động, vì đó là một phần lịch sử mở nước, dựng nước của ông bà mình.
Trong thời toàn cầu hóa, không chỉ kinh tế bị tác động lớn, cả lợi và hại, mà văn hóa cũng thế. Do vậy, bản sắc dân tộc cũng sẽ chuyển biến qua từng thế hệ, có nơi nhạt hơn một chút, và có nơi đậm hơn một chút -- và đôi khi, như ở các thành phố lớn, như tại Sài Gòn, văn hóa trở thành một tổng hợp chuyển biến, tác động lẫn nhau.
Gốm Việt Nam trước giờ nổi tiếng nhất là gốm Bát Tràng. Có lẽ một yếu tố làm cho gốm Bát Tràng được biết nhiều là nhờ vị trí điạ lý thuận lợi, nằm ngay ở Gia Lâm, Hà Nội – nghĩa là bên bờ thủ đô, và do vậy được các phóng viên báo chí viết nhiều. Nhưng như thế không có nghĩa là gốm Việt Nam mình chỉ duy có gốm Bát Tràng.
Làm thế nào có thể giữ gìn những điệu hát dân ca của Việt Nam? Có lẽ, đó làmột trong những khó khăn nhất đối với những người yêu mến nghệ thuật dân tộc.
Câu chuyện bằng giả là bình thường, vì chỉ cần một máy in đặt bên cạnh máy điện toán, nối dây xong, dùng Photoshop phù phép là xong.
Tình yêu đôi khi cần lời khuyên, bất kể rằng trái tim vẫn có những lý lẽ riêng của nó.
Đó là một chữ mới thấy trong hơn một thập niên nay, có thể là gần 2 thập niên: chém gió. Chữ này không rõ dịch chính xác ra ngôn ngữ bạn đang sử dụng thế nào... thôi thì mượn những chữ khá xưa mà bạn đã biết để đối chiếu: “chém gió” có nghĩa là “nổ,” là “xạo,” là “bẹt cà na”...
Nên “có tiếng“ hơn là nên “có miếng”? Những lựa chọn như thế có thể ảnh hưởng nhiều tới, không riêng cho bản thân người lựa chọn, nhưng sẽ tác động ra cả xã hội, nếu đây là một chính sách.
Chúng ta có bao giờ hài lòng với công việc của mình? Hoặc là chỉ hài lòng vào những ngaỳ cuối tuần khi được nghỉ ngơi, và bất mãn vào những ngày lao động nặng nhọc trong tuần?
Thế lào nà lói ngọng? Trời ạ, lại nói ngọng rồi. Không phải giỡn, nhưng nói ngọng là điều không nên, tuy là lỗi rất bình thường.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.