Hôm nay,  

Giữ Gìn Hát Xẩm

04/04/201300:00:00(Xem: 7188)
Nhớ một thời xưa, khi mình còn ở tuổi thật là thơ ấu, đôi khi gặp ở bến xe lửa, bến xe đòi, những nghệ nhân ôm đàn hát giọng rất là Bắc Kỳ... và ông già mới nói đó là hát xẩm.

Điệu nhạc trong trí nhớ tuổi thơ của mình không thể nhớ kỹ nổi, chỉ mang máng biết đó là những gì rất quê hương, rất dân tộc... tuy rằng giọng mình lớn lên chẳng có gì là Bắc Kỳ, mà vẫn thương cảm cho làn điệu xa xưa trong ký ức dân tộc.

Có những lúc mình hình dung nhầm như nghe hát bội, có lúc nghe như chèo cổ... nhưng rồi tới khi nghe được bài Xẩm Thập Ân (tức là bài Mười Ơn Ba Mẹ)... mới nhận rõ rằng hát xẩm là cái gì rất mực độc đáo, và rất quê hương. Riêng bài Xẩm Thập Ân, mình nghĩ chỉ có điệu hát xẩm mới nói lên được ơn ba mẹ, phần nào. Mình nghe đươc mấy dòng như:

Một ân mẹ mới có thai, con ơi
Âm dương nhị khí nào ai biết gì
Nơi trong lòng mẹ chịu sầu bi
Chẳng mấy lòng, miệng thời cay đắng, mẹ dạ thời héo hon
Bữa ăn không biết miếng ngon
Lòng mẹ chua xót vì con đêm ngày
Hai, mấy ân nghĩa mẹ bao tày
Mẹ mang con chín tháng có thai nặng nề
Thương con đi sớm về trưa, con ơi
Của ngon vật lạ mẹ chẳng hề ước ao...

Từ trước 1975 cả chục năm, không còn thấy bác hát xẩm nào ở các bến xe lửa, xe đò nữa. Mà cũng chẳng thấy hát xẩm ở radio nào nữa.

Lòng mình bùi ngùi, nghĩ hẳn là trôi hẳn vào ngàn năm rồi. Sau mới nghe nói có cụ Hà Thị Cầu là truyền nhân cuối cùng của nghệ thuật Hát Xẩm, mới biết là còn.

Bản tin VOV vừa cho biết lại vừa có lễ giỗ Tổ nghề hát Xẩm hôm 22 tháng Hai âm lịch (tức ngày 2 tháng 4, 2013 Dương lịch) tại Hà Nội, mới biết thêm:

“Trải qua hàng trăm năm tồn tại, hát Xẩm đã trở thành một loại hình dân ca của miền Bắc Việt Nam, phổ biến ở đồng bằng và trung du Bắc bộ. Theo Nghệ sĩ ưu tú Văn Ty, hát Xẩm gắn với không gian văn hóa là bến tàu, bến xe, chợ… nên bắt rễ nhanh trong đời sống thường ngày với nhiều làn điệu khác nhau.

“Ông Tổ Xẩm - theo truyền thuyết là ông Trần Long Đĩnh - thời Trần. Hát Xẩm là một loại hình nghệ thuật được truyền bá rộng rãi trong dân gian, đi vào đời sống nhân dân, đi vào hang cùng ngõ hẻm, đi vào tâm tư tình cảm của từng người. Theo không gian, theo khu vực, có những điệu rất sang trọng như dạng Ba Bậc; để dạy con như Xẩm thập ân; có nhưng điệu hát vui phải gõ nhiều như Xẩm chợ; ngâm vịnh như Xẩm anh Khóa; hài hước như “Sướng khổ vì chồng”…Thể loại của Xẩm rất phong phú” – NSƯT Văn Ty cho biết.

Sau phần nghi lễ, học viên của Trung tâm phát triển nghệ thuật âm nhạc Việt Nam và các câu lạc bộ Xẩm của Hà Nội đã thể hiện những bài hát Xẩm quen thuộc như “Xẩm thập ân”, “Vợ chồng nhà Xẩm”, “Lửng lơ con cá vàng”…”

Như thế, hát xẩm còn sống. Chưa chết. Cũng mừng. Nhưng ngay như cải lương thịnh hành ở Sài Gòn và Miền Tây mà cũng không nuôi nổi bao nhiêu người nghệ sĩ, nếu làm sao cho hát xẩm không bị thất truyền cũng là điều gian nan vậy.

Dòng sống dân tộc chuyển biến từng ngày, nhưng xin chớ để những điệu nhạc độc đáo của hồn dân tộc mất đi.

Theo các trung tâm giới thiệu việc làm trên địa bàn thành phố Sài Gòn, nhu cầu tuyển người giúp việc nhà tại các gia đình ở các quận nội thành rất lớn nhưng không tìm đủ người. Trước thực tế khó tìm được người giúp việc nhà ở luôn trong nhà, nhiều gia đình chuyển hướng tìm người giúp việc đến làm theo giờ. Theo họ, tuyển lao động làm việc theo giờ có nhiều cái lợi như đỡ phải lo ăn, ở và chi phí thấp hơn nhiều.
Theo báo Người Lao Động, hơn 1 năm trở lại đây, tranh được bày bán ở phố cổ Hội An, tỉnh Quảng Nam, đột ngột rớt giá, nguyên nhân là bởi hiện tượng tranh nhái tràn lan. Theo 1 họa sĩ có thâm niên trên 35 năm trong nghề, 5 năm trước đây các phòng tranh ở Hội An không có tranh nhái. Du khách rất an tâm khi mua tranh và tranh bán cũng rất chạy.
Theo báo SGGP, tại Sài Gòn, mỗi năm có thêm hàng ngàn phòng học mới nhưng các cơ quan ngành giáo dục tại các quận, huyện năm nào cũng than thiếu phòng học, người dân phiền vì sĩ số học sinh của các lớp học đã "quá tải". Trình bày về hiện trạng trường lớp tại các quận, huyện của SG, báo SGGP ghi nhận rằng chỉ trừ một vài huyện ngoại thành không bị áp lực tăng dân số
Tại miền Đông Nam phần, có xã Phú Lộc là một trong nhiều xã ở huyện Tân Phú (tỉnh Đồng Nai) là "miền đất hứa" của bò cạp. Ở vùng đất đá này, bò cạp sinh sôi nhiều đến mức người dân địa phương có thể tìm thấy chúng bất kỳ chỗ nào, nhất là dưới các tảng đá lớn.Trước đây, cứ sau mỗi trận mưa to là bò cạp "tung tăng" khắp nơi, người dân phải tránh.
Theo ghi nhận của báo SGGP, tại miền Tây Nam phần VN, xăng dầu, đường cát, hàng điện máy, điện thoại di động, thuốc lá, vải... ở khu vực biên giới Việt Nam và Cam Bốt đang chênh lệch giá rất cao. Hàng lậu vì thế đang tràn về như nước lũ, xâm nhập ào ạt vào thị trường nội địa. Báo SGGP ghi nhận hiện trạng này như sau.
Theo ghi nhận của báo Tuổi Trẻ, tại các trường đại học của VN, dường như nghiên cứu khoa học chỉ là công việc "tay trái" của các giảng viên , khi trung bình cứ hai, ba giảng viên mới có một người "liên quan" đến các công trình nghiên cứu. Đa số các giảng viên làm công việc mà một số nhà giáo dục gọi là "thợ dạy". Báo TT ghi nhận thực trạng này như sau.
Trên địa bàn thành phố Sài Gòn, 65 năm nay tồn tại một làng mà hầu hết trai tráng sống bằng nghề lặn tìm sắt thép phế liệu. Làng lặn hiện đã trở thành khu phố, nhưng trông vẫn chẳng khác gì những ngôi làng miệt sông nước miền Tây với những chiếc ghe neo san sát dưới sông, còn trên bờ là những ngôi nhà tuềnh toàng.
Theo báo Tuổi Trẻ, trong những ngày vưà qua, tại miền Tây Nam phần, đại dịch bướm đã khiến người dân tỉnh Hậu Giang thức trắng "đánh đàn" vì ngứa. Tại thị xã Vị Thanh, dịch bướm đã hoành hành từ một tháng này, nhiều người dân trong thị xã khổ vì bị bướm bám theo gây ngứa. Báo TT ghi nhận tình trạng dịch bướm tại địa phương này như sau.
Tại phường 4 quận 8 thành phố Sài Gòn, có 1 lớp học rất đặc biệt do 1 nữ giáo viên già phụ trách. Lớp học này là chiếc phao cứu sinh cho những đứa trẻ không có điều kiện đến trường, cho dù là trường bổ túc. Với 1 ngàn/buổi học, có học sinh đã học hết lớp 4, rồi vào lớp 5 bổ túc, sau đó học tiếp lên trung học. BáoNgười Lao Động viết về lớp học này như sau.
Theo báo quốc nội, trong năm 2003, công suất bia của cả VN đạt 1.29 tỷ lít, đến năm 2004 đã vượt lên 1.37 tỷ lít. Dự kiến năm 2005 sản lượng bia của toàn VN vượt xa mức 1.5 tỷ lít. Về tình hình kinh doanh, trong những năm qua đã có hàng chục nhà máy bia địa phương được đầu tư để rồi thua lỗ, vì không chen chân tìm được chỗ đứng trên thị trường.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.